Publicité

Bộ Quốc phòng Úc từng soạn kế hoạch chi tiết ứng phó một cuộc chiến có thể xảy ra giữa nước này và đồng minh Mỹ với Trung Quốc.
Thông tin trên được biên tập viên nổi tiếng David Uren của báo The Australian tiết lộ trong cuốn sách mang tên The Kingdom and the Quarry: China, Australia, Fear and Greed (tạm dịch: Trung Quốc, Úc, nỗi sợ và lòng tham). Ban đầu, đây là kế hoạch nằm trong sách trắng quốc phòng của Úc năm 2009 nhưng cuối cùng đã bị rút ra trước khi sách trắng được công bố. Bằng quan hệ với các quan chức cấp cao của Canberra, tác giả Uren đã có trong tay tài liệu đó để đưa vào cuốn sách vừa xuất bản, theo The Australian. Chính phủ Úc chưa có phản ứng về những tiết lộ của ông Uren.

 

 

Đánh chặn và kiểm soát đường biển

Theo kế hoạch, trong trường hợp xảy ra một cuộc chiến, Úc sẽ hỗ trợ đồng minh Mỹ bằng cách dùng tàu ngầm và máy bay ngăn chặn Trung Quốc từ xa, kiểm soát các tuyến đường biển và cắt đứt nguồn cung cấp nhiên liệu cho Bắc Kinh. Theo đó, giới quan sát cho rằng Úc có thể phong tỏa khu vực eo biển Malacca và biển Đông vì Trung Quốc chủ yếu nhập dầu qua đường này. Đáp lại, Trung Quốc sẽ trực tiếp tấn công các hải cảng của Úc cũng như tìm cách phá hủy trạm thu thập thông tin tình báo Úc - Mỹ gần thị trấn Alice Springs ở bắc Úc, vốn rất quan trọng cho các chiến dịch quân sự của Mỹ ở châu Á, ông Uren viết.

 

Kế hoạch chi tiết cuối cùng đã không xuất hiện trong sách trắng quốc phòng năm 2009. Thay vào đó, sách trắng chỉ đề cập ngắn gọn về nguy cơ đụng độ trong tương lai với một “đối thủ lớn trong khu vực”, theo tờ Business Insider. Điều này được cho là nhằm tránh làm tổn hại quan hệ với Trung Quốc, vốn là đối tác thương mại lớn của Úc.

 

Tuy nhiên, sách trắng vẫn nêu rõ quan ngại về sự trỗi dậy của Trung Quốc và cảnh báo: “Tốc độ, phạm vi và cấu trúc hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc có thể khiến các nước láng giềng quan ngại nếu không được giải thích minh bạch”.

 

binh-luc-Trung-Quoc-sl-tau.jpg

 

binh-luc-Trung-Quoc-nd.jpg

 

 

Mặt khác, theo thư tín ngoại giao Mỹ do WikiLeaks tung ra, Thủ tướng Úc khi đó Kevin Rudd đã điều ông Mike Pezzullo, người chấp bút sách trắng, mang bản thảo đến Bắc Kinh để thăm dò phản ứng của Trung Quốc. Trong các cuộc thảo luận, giới chức Trung Quốc yêu cầu gỡ toàn bộ những phần đề cập đến quân sự của nước này trong sách trắng nhưng ông Pezzulo đã từ chối. Cũng theo tài liệu của WikiLeaks, trong một lần hội đàm với Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, ông Rudd từng nói Úc và Mỹ cần “sẵn sàng dùng vũ lực” với Trung Quốc.

 

 

Khi không có chứng cứ địa lý, người Trung Quốc “viết lại lịch sử” để hậu thuẫn cho những đòi hỏi chủ quyền phi lý ở Biển Đông.Hành động này không chỉ khiến cho những người trong cuộc mà còn khiến cho giới học giả nước ngoài cũng cảm thấy “chướng tai, gai mắt”.

Trong bài “China’s Invented History” đăng trên tờ The Wall Street Journal ngày 5/6, nhà báo Philip Bowring viết rằng Bắc Kinh đang bịa đặt lịch sử để biện minh cho những đòi hỏi bành trướng ở những vùng biển tranh chấp.


Bản đồ chín đoạn (hay còn gọi là "đường lưỡi bò") khét tiếng xác định chủ quyền của Trung Quốc trùm lên các khu vực đặc quyền kinh tế 200 hải lý trên Biển Đông của cả Malaysia, Philippines, Việt Nam, Brunei và sát với vùng biển Natuna được đánh giá rất giàu tiềm năng khí đốt của Indonesia.

Trong trường hợp bãi đá ngầm Scarborough, Bộ Ngoại giao Trung Quốc dẫn “bằng chứng lịch sử” trong bản đồ Trung Quốc hồi thế kỷ 13, khi Trung Quốc đang bị người  Mông Cổ thống trị. Tấm bản đồ này xuất phát từ một chuyến đi của một tàu của Nhà Nguyên thời đó. Lập luận người Trung Quốc là “người đầu tiên” đi lại trên Biển Đông là cực kỳ phi lý.

 

Đoàn thủy thủ Trung Quốc là những người đến sau ở Biển Đông, chứ nói gì đến hoạt động thương mại trên Ấn Độ Dương. Lịch sử đi biển của khu vực Biển Đông bắt đầu sớm nhất từ thiên niên kỷ đầu tiên và là lịch sử đi biển của tổ tiên những người  Malaysia, Philippines và Việt Nam.

Khi những người Trung Quốc cổ đại muốn đến khu vực Sumatra và sau đó đến Sri Lanka, họ phải đi trên các tàu của người Malay (Mã Lai). Điều này không có gì đáng ngạc nhiên vì người Malay (tổ tiên của người Indonesia ngày nay) từng chiếm lĩnh Madagascar, hòn đảo lớn thứ ba thế giới. Họ đã vượt qua Ấn Độ Dương từ hơn 1000 năm trước, sớm hơn rất nhiều chuyến đi của đô đốc Trịnh Hòa nhà Minh hồi thế kỷ 15.

Khả năng vượt biển của người Malay sau này không bằng người Nam Ấn và người Arập, nhưng họ vẫn là những người đi biển hàng đầu ở Đông Nam Á cho đến khi thực dân châu Âu thống trị khu vực này.

 

Những người Chăm nói ngôn ngữ Malay và theo đạo Hindu ở miền Trung Việt Nam đã thống trị hoạt động thương mại trên Biển Đông, cho đến khi họ bị người Việt chinh phục vào thời điểm các thương nhân châu Âu bắt đầu tìm đến châu Á.

Hoạt động thương mại của Vương quốc Champa và đảo Luzon đã có từ rất lâu trước khi người Trung Quốc vẽ tấm bản đồ hồi thế kỷ 13.

Bãi đá Scarborough không chỉ nằm gần bờ biển Luzon, Philippines mà còn nằm trên tuyến hàng hải trực tiếp từ vịnh Manila đến các cảng biển của người Chăm (Việt Nam) hồi đó là Hội An, Quy Nhơn – vốn khá quen thuộc đối với các thủy thủ người Malay cổ đại

 

Một yếu tố bất hợp lý khác trong đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc đối với bãi đá ngầm Scarborough là dựa vào Hiệp ước Paris năm 1898. Hiệp ước này chuyển giao chủ quyền của Tây Ban Nha đối với quần đảo Philippines cho Mỹ, vẽ đường thẳng trên bản đồ và để bãi đá Scarborough bên ngoài đường kinh tuyến.

Trung Quốc hiện bám lấy thỏa thuận giữa hai cường quốc nước ngoài thống trị Philippines - hoàn toàn không đếm xỉa đến lợi ích của Philippines – để tuyên bố rằng Manila không có chủ quyền đối với Scarborough.

Trớ trêu là Trung Quốc lại phản đối “các điều ước quốc tế bất bình đẳng” do thực dân phương Tây đưa ra như trường hợp đường ranh giới McMahon phân chia biên giới giữa Ấn Độ và Tây Tạng. Điều đó có nghĩa là Việt Nam hoàn toàn có đủ căn cứ để tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa bởi vì người Pháp trước đây khi chiếm đóng Việt Nam đã từng tuyên bố chủ quyền đối với các quần đảo này và Việt Nam ngày nay kế thừa tuyên bố chủ quyền đó của người Pháp.

Trung Quốc luôn khẳng định Philippines là không hợp lệ. Nói cách khác, Trung Quốc đang sử dụng thực tế Philippines bị nước ngoài thống trị làm cơ sở cho tuyên bố chủ quyền của họ.

Manila muốn giải quyết  tranh chấp theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển, nhưng Bắc Kinh cho rằng  tuyên bố chủ quyền mà Trung Hoa dân quốc (chế độ đã bị họ đánh đuổi khỏi Hoa lục) đưa ra năm 1932 không bị ràng buộc bởi Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển.

Nhà báo Philip Bowring tái khẳng định Trung Quốc đang ra sức khẳng định chủ quyền đối với Biển Đông bằng cách viết lại lịch sử mà không hề xem xét yếu tố địa lý.

 

 

Ba năm gần đây, vấn đề của Trung Quốc tại Biển Đông chủ yếu là thái độ ngoại giao luôn lặp lại. Lúc đầu, lợi ích cốt lõi của Trung Quốc chủ yếu liên quan vấn đề Tây Tạng, Tân Cương và quan hệ hai bờ. Mặc dù rất nhiều tổ chức nhân quyền Mỹ quấy rối Tây Tạng và Tân Cương, một số tổ chức chính trị Mỹ cũng quấy nhiễu vấn đề Đài Loan, song Chính phủ Mỹ luôn giữ thái độ không can thiệp đối với vấn đề Tây Tạng và Tân Cương, trong vấn đề Đài Loan cũng chủ yếu dừng lại ở Đạo luật quan hệ Đài Loan. Mặc dù trong rất nhiều trường hợp Trung Quốc cho rằng Mỹ thực hiện chính sách hai mặt, song cơ bản Mỹ vẫn không thách thức lợi ích cốt lõi của Trung Quốc.

 

Sau khi Trung Quốc đưa Biển Đông vào lợi ích cốt lõi của mình, các nước Đông Nam Á 3 năm gần đây đẩy mạnh việc nhập khẩu vũ khí, Ấn Độ và Đông Nam Á đều kiếm lí do tốt nhất để nhập khẩu vũ khí, khiến lực lượng quân sự các nước này bắt đầu ngóc đầu dậy.

Lợi ích của Mỹ liên quan tới vấn đề Biển Đông cũng rất rõ ràng, giới cấp cao Mỹ từng nhấn mạnh Mỹ sẽ là khách hàng lớn nhất đối với dầu lửa và khí đốt tự nhiên ở Biển Đông trong tương lai. Trung Quốc đương nhiên có khả năng lợi dụng tài nguyên Biển Đông, do đó làm thế nào kiểm soát được lực lượng quân sự của Trung Quốc tại Biển Đông, bảo đảm tự do hàng hải là vấn đề chủ yếu của ngoại giao Mỹ.

 

Trung Quốc từng đưa ra “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác”, song liệu Trung Quốc có đóng quân tại các đảo ở Biền Đông, để sau đó phát triển các đảo bãi thành căn cứ tiếp tế cho các chiến hạm hay không? Nếu có, nó sẽ tạo ra mối đe dọa đối với quân đội Mỹ đồn trú tại Philippin và Đông Nam Á. Các vấn đề này cho thấy cả Trung Quốc và Mỹ đều chưa rõ giới hạn cuối cùng của đối phương trong quá trình đàm phán.

 

Do đang trỗi dậy nên trong quan hệ đối ngoại, Trung Quốc thường quen dùng phương thức ngoại giao tiền bạc và buôn bán, song vấn đề lớn nhất của ngoại giao tiền bạc nằm ở chỗ quan chức ngoại giao Trung Quốc khó có hiểu biết sâu sắc về tình hình nội chính của quốc gia địa phương, hoặc sau khi hiểu sâu rồi, do “ăn sổi”, chỉ thiên về bên chấp chính, khi phe chống đối giành chính quyền lại có sự thay đổi mang tính căn bản về chính sách đối với Trung Quốc.

Nhân tố tâm lý tiềm tàng của dân chúng Trung Quốc khi muôn áp dụng biện pháp quân sự tại Biển Đông nằm ở chỗ: Trung Quốc trỗi dậy, về chính trị và kinh tế có đủ năng lực xử lý các nước xung quanh, nếu như Trung Quốc hiện vẫn chưa đủ sức mạnh thách thức Nhật Bản, thì cũng đủ khả năng ra đòn đối với Philippin tại Biên Đông, sau này thậm chí cũng có thể ra đòn với Việt Nam.

Tuy nhiên, nếu tấn công Philippin, hành động này lập tức sẽ mang lại cơ sở vững chắc để các nước Đông Nam Á liên kết với nhau về chính trị và kinh tế để đối phó với Trung Quốc, đồng thời cũng khiến các nước này bắt đầu tính đến việc làm thế nào phát triển một liên minh Đông Nam Á không có Trung Quốc, và tất nhiên cũng mang lại cho các nước lý do tuyệt vời để đẩy mạnh việc nhập khẩu vũ khí.

Sai lầm lớn nhất của ngoại giao Trung Quốc kế từ sau năm 1949 là quay mặt gây chuyện với Liên Xô khiến ngoại giao Trung Quốc luôn ở vào cục diện bị động, cho đến tận sau chuyến thăm của Nixon, Trung Quốc mới từng bước chuyển mình. Sau năm 2012, nếu như Trung Quốc quay lại gây chuyện với các nước ASEAN, điều này liệu có lặp lại kịch bản của Liên Xô đánh Ápganixtan năm xưa hay không, tức Trung Quốc bắt đầu đi vào giai đoạn suy thoái?  

 

 

Tăng cường khí tài

Sách trắng quốc phòng 2009 của Úc vạch kế hoạch chiến lược cho 2 thập niên tới mang tên Force 2030 và cảnh báo rằng chiến tranh có thể sẽ xảy ra ở châu Á - Thái Bình Dương giai đoạn này. Để ứng phó, Canberra sẽ chi 70 tỉ USD để tăng cường sức mạnh cho các lực lượng tới năm 2030. Theo AFP, quân đội Úc sẽ thay 6 tàu ngầm lớp Collins hiện nay bằng 12 tàu mới với nhiều tính năng vượt trội như tầm hoạt động lớn hơn cũng như có khả năng tác chiến đa nhiệm. Tàu ngầm lớp Collins hiện nay dài 78 m, có 6 ống phóng ngư lôi, được trang bị hệ thống dò tìm - định vị bằng siêu âm và radar tiên tiến.

Ngoài tàu ngầm mới, hải quân Úc sẽ nhận 3 tàu khu trục mang tên lửa chống máy bay tầm xa SM-6 và 8 tàu có khả năng mang trực thăng chiến đấu và máy bay không người lái để thay các tàu lớp Anzac hiện nay. Trong khi đó, không quân Úc
sẽ nhận 100 chiến đấu cơ tối tân F-35 để thay phi đội F/A-18, 5 máy bay tiếp liệu trên không và máy bay do thám, cảnh báo trên không.

 

 

Đặc phái viên của tờ báo tại Singapore nhận định vùng biển Đông Nam Á, vốn đã tấp nập các hải đội thương thuyền thế giới qua lại, sắp tới sẽ còn dậy sóng từ dưới sâu bởi hàng chục chiếc tàu ngầm chiến đấu đang được các nước đua nhau mua sắm. Đua nhau mua sắm tàu ngầm là một chủ đề được Hội nghị quốc tế Shangri-La Singapore về vấn đề an ninh từ ngày 1-3/6 vừa qua tâm đặc biệt.

 

Theo chuyên gia Christian Le Miere, thuộc Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế tại Luân Đôn thì trong khu vực châu Á thực sự đang có một “làn sóng mua sắm” tầu ngầm. Tờ báo đưa ra con số thống kê: Trung Quốc vừa mới khánh thành căn cứ Hải Nam dự kiến sẽ chứa 66 chiếc tàu ngầm. Việt Nam đang trong giai đoạn đặt mua 6 chiếc, Indonesia cũng đặt 3 chiếc, Úc đang muốn tăng đội tàu ngầm 6 chiếc của mình lên gấp đôi.

Nhật Bản thì từ nay đến năm 2020 cũng sẽ nâng đội tàu ngầm từ 16 lên 22 chiếc. Hàn Quốc từ năm 1990 đến nay cũng đã sắm được 12 chiếc, Malaisia cũng đã có 2 chiếc, còn Ấn Độ đội tàu ngầm 15 chiếc của họ vừa được bổ sung thêm một chiếc chạy bằng năng lượng nguyên tử trong tháng 4 vừa qua. Tác giả bài viết còn cho biết tại hội nghị Shangri-La hôm 2/6 vừa rồi, một nguồn tin quân sự còn ước tính đến năm 2025 số lượng tàu ngầm họat động trong khu vực Ấn Đô Dương và Thái Bình Dương sẽ tăng gấp ba hiện nay, tức là vào khoảng 170 chiếc.

Để lý giải cho cuộc chạy đua mua sắm tàu ngầm, báo Le Monde trích dẫn phân tích của bà Valerie Niquet, nhà nghiên cứu của Quỹ Nghiên cứu Chiến lược Paris : « Việc gia tăng tham vọng của Trung Quốc trên Biển Đông cùng với việc mở rộng tầm ảnh hưởng của họ là yếu tố dẫn đến làn sóng hiện đại hóa các hạm đội hải quân trong khu vực Đông Nam Á. Trong vài năm gần đây, tàu ngầm đang trở thành hướng ưu tiên của hải quân trong vùng ».

Theo Le Monde, những con số chạy đua vũ trang nói trên cho thấy tầm mức quan trọng của vùng biển trong khu vực Đông Nam Á này. Tại hội nghị Shangri-la, người ta cũng đã nhắc lại con số đáng lưu ý đó là 1/3 lượng hàng hóa thương mại của Mỹ mỗi năm, trị giá khoảng 1200 tỷ đô la, được chuyển qua tuyến đương hàng hải trên Biển Đông.

Để bảo đảm tự do lưu thông hàng hải và không để cho Bắc Kinh phủ nhận không gian lưu thông chung này, mỗi nước có liên quan đều tỏ ra sẵn sàng tự triển khai những phương tiện bảo đảm an ninh cho mình, nhưng đồng thời vẫn cố gằng làm sao không ảnh hưởng đến quan hệ thương mại sống còn với Trung Quốc.

Tác giả bài viết nhận thấy, Washington cũng như Paris đều khuyến khích các nước trong khu vực đưa ra một bộ luật ứng xử trên biển. Nhưng các nước châu Á cho thấy họ còn gặp nhiều khó khăn để triển khai được việc này. Theo Le Monde, chính sách « cân đối lại » lực lượng Mỹ tại Đại Tây Dương và Thái Bình Dương sẽ góp phần gia tăng hiện diện quân sự trong khu vực châu Á. Chuyến công du châu Á 9 ngày vừa rồi của bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta là một bước cụ thể hóa chiến lược mới của Mỹ.

 

Washignton sẽ gây khó cho Trung Quốc cùng với việc rải quân khắp từ Singapore đến Úc, qua Philippines, Indonesia, Hàn Quốc rồi Nhật Bản, Guam và không loại trừ cả Việt Nam. Washington đang gia tăng các đối tác sẵn sàng trợ giúp cho các nước có lực lượng hải quân yếu.

Theo tác giả bài viết, các nước châu Âu như Đức, Anh và Pháp cũng đang muốn tìm được một vị trí trong bàn cờ an ninh khu vực này. Nhưng theo giới quan sát thì ngoài việc bán vũ khí ra, vai trò của Liên Hiệp Châu Âu rất hạn chế. Tại Singapore lần này, Pháp và Đức đã không bỏ lỡ cơ hội chào mời các nước về trang thiết bị quân sự chủ yếu là trong lĩnh vực tàu ngầm

  

 

Hôm 2/6, tại Hội nghị Thượng đỉnh An ninh Châu Á lần thứ 11 diễn ra ở Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã lần đầu tiên thông báo chi tiết về chiến lược quân sự mới của Mỹ. Chiến lược này đã được công bố từ hồi tháng 1 đầu năm nay. Theo đó, Mỹ sẽ đưa 60% hạm đội tàu chiến hùng hậu của nước này đến khu vực Châu Á - Thái Bình Dương vào năm 2020. Hiện tại, Hải quân Mỹ đang có trong tay lực lượng gồm 282 tàu chiến. Như vậy, trong vài năm nữa, sẽ có khoảng 150 tàu chiến Mỹ thường xuyên đóng tại khu vực. 
Hải quân Mỹ cũng sẽ tiếp tục duy trì hơn một nửa trong số tàu sân bay khổng lồ của Mỹ ở Thái Bình Dương. Hiện tại, đang có 6 trong số 11 tàu sân bay hùng mạnh của Mỹ đang làm nhiệm vụ ở Châu Á. 

 

Chặng dừng chân cuối trong chuyến thăm châu Á của ông Panetta diễn ra trong bối cảnh sau khi Mỹ tuyên bố chuyển phần lớn sức mạnh hải quân của mình sang Thái Bình Dương với tỉ lệ 60% cho Thái Bình Dương và 40% cho Đại Tây Dương, so với tỉ lệ trước đó là 50-50. Báo Le Figaro ngày 4-6 viết: sự thay đổi này nằm trong khuôn khổ chiến lược toàn cầu mới của Mỹ đặt trọng tâm vào châu Á. Ông Obama đã nêu lên chiến lược này vào tháng 11 vừa qua, coi đây là  “then chốt” chuyển nước Mỹ sang châu Á và khu vực Thái Bình Dương. Về quân sự, chiến lược này được thể hiện qua việc tăng cường quan hệ với các đối tác quân sự trong khu vực.

Theo báo này, sau khi Mỹ đã đạt được những thỏa thuận với Singapore, Philippines, Úc và tăng cường sức mạnh tại đảo Guam, Việt Nam cũng là một vị trí quan trọng trong chiến lược mới của Mỹ. Báo này viết: “Nước này đang nắm giữ chìa khóa cho thế cân bằng giữa các lực lượng trên biển Đông, như khẳng định mới đây của Trung tâm nghiên cứu chiến lược mới của Mỹ. Nếu Việt Nam không phản ứng trước sự gia tăng sức mạnh của Trung Quốc trên biển Đông thì những nước yếu và ít quyết định hơn, như Philippines, có rất ít cơ may để ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc".


 
 
Trung Quốc cảnh báo Mỹ không được can thiệp vào Biển Đông 
Ngoài những cảnh báo mang tính chung chung ở trên, tờ Tân Hoa xã – cơ quan ngôn luận chính thức của Trung Quốc, hôm 2/6 còn có bài viết cảnh cáo Mỹ không được làm “nổi sóng” ở Biển Đông. "Chúng tôi khuyên một số nước nên kiềm chế, không nên can thiệp vào khu vực biển đó. Chúng tôi cũng khuyên một số nước không nên đánh cá ở khu vực đó", bài báo trên tờ Tân Hoa Xã đã viết như vậy.
 
Trung Quốc đang có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với một loạt nước gồm Philippines, Việt Nam, Maylaysia, Brunei và Vùng lãnh thổ Đài Loan. Biển Đông vốn là một khu vực giàu tài nguyên và có nhiều tuyến đường biển chiến lược quan trọng. Vì tầm quan trọng của Biển Đông, Trung Quốc đang có tham vọng độc chiếm biển này. Nhưng tham vọng của họ đang bị ngáng trở bởi rất nhiều nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ...
 
Trước việc Mỹ đang chuẩn bị đưa tàu chiến ồ ạt vào khu vực Thái Bình Dương, Trung Quốc thực sự tức giận và lo lắng. Nước này cáo buộc, một số nước đang cố tình nói quá lên và bịa đặt về mối đe dọa của Trung Quốc đối với sự tự do hàng hải ở Biển Đông.
 
Bắc Kinh tuyên bố, họ có “mong muốn chân thành” là biến khu vực Biển Đông “thành vùng biển hòa bình, hữu nghị và hợp tác”. Vì thế, các nước đừng cố tình làm “nổi sóng” ở Biển Đông.
 
Những phát biểu trên của Trung Quốc chắc chắn sẽ không xoa dịu được những quan ngại của các nước đang có tranh chấp ở Biển Đông với cường quốc này. Lý do là, trong cuộc đối đầu mới nhất với Philippines ở Biển Đông hiện nay, Bắc Kinh đã thể hiện một lập trường “hiếu chiến”. Nước này đã huy động hàng chục tàu thuyền, có thời điểm lên đến 100 tàu thuyền, tới khu vực tranh chấp trong khi Philippines chỉ có 2 tàu thuyền tại đây. Chưa hết, Bắc Kinh còn thường xuyên đưa ra những lời cảnh báo, đe dọa đầy sắc lạnh đến đối phương.

Trong tình thế yếu thế hơn Trung Quốc, Manila đã tìm đến sự giúp đỡ của đồng minh thân thiết Mỹ. Mặc dù tuyên bố đứng trung lập trong các tranh chấp ở Biển Đông nhưng Washington đã cam kết sẽ giúp Philippines củng cố sức mạnh hải quân để nước này có thể đối phó với Trung Quốc

 

From : thanh nien , vnmedia,Rfi,.....

 

 

Publicité
Tag(s) : #Dư Luận Chính Trị Thế Giới
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :