Publicité

II. Con đường phát triển của Việt Nam đã sang trang từ lâu

II. 1. “Nước Việt Nam là của người Việt Nam!”

Lẽ ra…

Nhiệm vụ đầu tiên và mãi mãi của quốc gia độc lập là phải thiết lập và phát huy quyền làm chủ đất nước của toàn dân tộc, vì điều này đơn giản như lẽ sống: Đất nước này từ nay là của toàn thể dân tộc Việt Nam ta, trường tồn với dân tộc ta. Tổ quốc mang trong tim mỗi người Việt Nam chúng ta có ý nghĩa thiêng liêng là vì lẽ như vậy.

Bao nhiêu hy sinh xương máu, bao nhiêu đau thương mất mát, bao nhiêu điều đau lòng tay trái chém tay phải, bao nhiêu lầm lỗi và oán thù, bao nhiêu sai lầm phải trả giá đau đớn, và còn biết bao nhiêu đau khổ khác nữa không thể nói lên thành lời cả dân tộc này đã phải chịu đựng trong suốt 3 thập kỷ chiến tranh… Máu nào của người dân ta đã ngã xuống cũng đều là máu của dân tộc ta, tất cả chỉ càng làm cho mỗi người Việt Nam chúng ta thấm thía sâu sắc hơn cái giá phải trả cho đất nước độc lập thống nhất, càng thôi thúc mỗi người Việt Nam chúng ta từ nay phải hiểu các bài học của quá khứ để gìn giữ đất nước trong hiện tại và tương lai, giác ngộ mỗi chúng ta ý thức phải vươn lên sống xứng đáng với tính cách là người chủ của đất nước.

Hàng triệu sinh mạng bị cướp đi, hàng triệu tấn bom đạn tàn phá đất nước và biết bao nhiêu đau khổ khác nhân dân ta phải trải qua suốt 3 thập kỷ chiến tranh ấy để có đất nước độc lập thống nhất không cho phép bất kỳ ai, dù với lý do gì, tiếp tục hành hạ đất nước trong hiện tại, cướp đi sức sống của đất nước vì hạnh phúc của hòa hợp dân tộc và vì tương lai của một đất nước độc lập, tự do.

Một giọt máu phải nhỏ xuống đất này, một giọt nước mắt mất đi, từng giọt mồ hôi phải nuốt vào trong, tất cả phải dồn nén, phải hun đúc ý chí của từng người dân Việt chúng ta thành một tinh thần dân tộc thống nhất, để sớm lấy lại cho đất nước những gì chiến tranh đã cướp đi, cùng nhau vực dậy đất nước. Hiện tại và tương lai của đất nước đòi hỏi mỗi người dân của đất nước ghi xương khắc cốt những bài học của quá khứ, bởi vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trên con đường dân tộc và dân chủ vô vàn gian truân. Hơn nữa, nước ta trước đây, bây giờ và mãi mãi phải là láng giềng của một Trung Quốc tham lam, lại luôn luôn nằm ở vị trí đầu sóng ngọn gió của khu vực, nếu chúng ta không thấy những yếu kém của nước ta và không hiểu cái thế giới chúng ta đang sống để quyết tìm ra con đường đi lên, nước ta làm sao tránh được số phận con mồi trong tranh giành quyết liệt tiếp theo giữa các cường quốc?… …

Những điều lẽ ra phải làm như vậy ngay sau ngày 30-04-1975 đã không xảy ra.

Sau 30-04-1975 ĐCSVN đã chọn con đường thừa thắng xông lên, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội theo con đường của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Hệ quả: kinh tế đất nước vốn kiệt quệ sau chiến tranh đi ngay vào sụp đổ cho đến khi phải tiến hành đổi mới. Đồng thời đất nước bị đẩy tiếp vào 2 cuộc chiến tranh lớn kéo dài 10 năm (1979 – 1989).

Nguyên nhân chủ yếu là ý thức hệ của đảng một mặt đã lựa chọn cho đất nước con đường phát triển sai lầm vì duy ý chí, và mặt khác đã nhìn nhận sai bàn cờ thế giới lúc ấy, nên đẩy đất nước vào tình thế nguy hiểm.

Cần nhìn nhận 40 năm độc lập thống nhất đầu tiên là một giai đoạn phát triển thất bại, vì các lẽ:

1. Ngoài 10 năm đầu mất cho 2 cuộc chiến tranh tiếp theo, thành tựu giành được trong 28 năm đổi mới tuy là rất lớn so với điểm xuất phát, nhưng về cơ bản là thất bại nếu so với công sức đã bỏ ra và cơ hội đất nước có được. Mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 không thể hoàn thành vì cơ cấu kinh tế hiện còn rất lạc hậu, kết cấu hạ tầng vật chất & kỹ thuật thấp kém, hiện đang khủng hoảng cơ cấu sâu sắc, chưa có lối thoát ra khỏi cái bẫy là nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp, chất lượng nguồn nhân lực đạt được nhìn chung còn thấp, khoảng cách tụt hậu so với nhiều nước chung quanh ngày càng rộng.

2. Sau 3 thập kỷ xây dựng đất nước, lúc đầu là xây dựng chủ nghĩa xã hội, do có nhiều sai lầm không khắc phục được nên từ khi tiến hành đổi mới phải điều chỉnh lại thành xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, những thành tựu kinh tế – xã hội đạt được có nhiều măt hạn chế như đã nói trong điểm 1 bên trên. Riêng về mặt thể chế chính trị, nước ta hiện nay rất lạc hậu so với đòi hỏi phát triển của đất nước, so với xu thế phát triển của thế giới, so với một số quốc gia có mức thu nhập tính theo đầu người tương tự như nước ta. Tuy có cái tên gọi là chế độ xã hội chủ nghĩa hay là định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ chính trị một đảng của đất nước hiện nay về bản chất có quá nhiều tàn dư của chế độ phong kiến cũ. Quá trình tha hóa đã nhanh chóng làm cho tính đảng trị của chế độ ngày càng nổi bật, trên thực tế ngày nay đã trở thành chế độ toàn trị.

3. Đất nước đã độc lập thống nhất 4 thập kỷ. Thay vào chỗ phải có một nhà nước pháp quyền dân chủ để thực thi quyền lực của nhân dân, đất nước có một chế độ chính trị toàn trị. Tính đảng trị của chế độ này tạo ra cho truyền thống phong kiến cũ cha truyền con nối cái phương thức mới “làm vua tập thể” (Nguyễn Văn An) để duy trì chế độ đảng mặc nhiên và mãi mãi cầm quyền cai trị đất nước. Trên thực tế đã hình thành sự phân chia: ĐCSVN trở thành kẻ cai trị, nhân dân trở thành người bị cai trị. Nhân dân bị phân chia thành các giai cấp để đối xử. Trong nhiều hình thái tư tưởng của xã hội và trong thiết kế các chủ trương chính sách vẫn tồn tại sự phân biệt giữa “ta” và “ngụy”, giữa “yêu nước đồng nghĩa với yêu chủ nghĩa xã hội” và “không yêu chủ nghĩa xã hội là không yêu nước, là chống chế độ”; ai dám mở miệng nói trong lòng kháng chiến có cuộc nội chiến, sẽ lập tức bị quy kết là phản động… Nhiều quyền tự do, dân chủ cơ bản của công dân tuy đã được ghi trong hiến pháp nhưng chỉ là hình thức. Tuy chế độ toàn trị của ĐCSVN mang trong nó nhiều tàn dư của chế độ phong kiến cũ, song cái nền tảng tinh thần của “làm vua tập thể” hôm nay được tạo dựng ra không phải từ một trật tự của thượng tầng kiến trúc phong kiến vương đế, mà hình thành từ một thứ văn hóa ra đời trong quá trình chia chát quyền lực giữa các nhóm lợi ích đủ các thành phần phức tạp trong xã hội. Các “nhóm” này sống và tự ngụy trang bằng nhiều thứ “giả, diễn, hão”, luôn luôn tìm kiếm đồng minh trong mọi rác rưởi của xã hội[6]. Hệ thống chính trị của đất nước được tổ chức theo cái phương thức “đảng cử dân bầu” là tiêu biểu tổng hợp nhất cho những “giá trị” “giả, diễn, hão” này. Thực tế này lý giải: Bên cạnh những thành tựu đạt được phải trả giá đắt, mỗi bước phát triển của đất nước luôn gắn theo một nấc thang xuống cấp mới về đạo đức, chính trị và tư tưởng. Dẫn đến nghịch lý càng phát triển càng yếu, càng ngày sinh nhiều yếu kém mới, mâu thuẫn mới.

Xin lưu ý, chủ nghĩa Mác – Lênin ĐCSVN hiện đang kiên định bám giữ, có quá nhiều sai trái thoát ly hẳn cái gốc thực của lý luận Mác. Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã chứng minh đó là chủ nghĩa Mác – Lênin đã được Stalin-hóa, trước khi vào đến Việt Nam nó được tác chế thêm một lần Mao-hóa nữa. Một thứ chủ nghĩa như vậy trên thực tế là phản khoa học – được chứng minh qua những thất bại của tất cả các ĐCS cầm quyền trên thế giới, chỉ còn lại là một công cụ giáo điều. Ý thức hệ này chỉ thuận tiện cho việc đàn áp chính trị – tư trưởng và làm tha hóa chính bản thân ĐCSVN. Là một công cụ chính trị như thế, ý thức hệ này một mặt khiến đảng đặt quyền lực của mình là tối thượng, mặt khác đã lấy đi của đảng mọi khả năng nhận thức khách quan sự vật. Có thể nói chính bản thân ĐCSVN đã tự nô dịch mình bằng ý thức hệ như vậy, và qua đó đang nô dịch cả đất nước.

Hệ quả là đất nước đã độc lập thống nhất bốn thập kỷ, song khẩu hiệu làm nên Cách Mạng Tháng Tám “Nước Việt Nam là của người Việt Nam!” với nghĩa nhân dân là người chủ của đất nước đến hôm nay vẫn chưa trở thành hiện thực, kẻ chiến thắng trở thành người cai trị chính nhân dân nước mình.

II. 2. Con đường phát triển của Việt Nam bị chặn đứng

Có thể nói một cách rốt ráo: Đất nước có độc lập thống nhất bốn thập kỷ, nhưng đến hôm nay nhân dân vẫn chưa được giải phóng! Đây là nguyên nhân gốc gây nên mọi yếu kém của đất nước hôm nay, độc lập chủ quyền của quốc gia thiếu sức mạnh lẽ ra phải có trước những thách thức mới.

Thập kỷ đầu tiên sau 30-04-1975 bị mất hoàn toàn cho 2 cuộc chiến tranh và sự đổ vỡ kinh tế. Công cuộc kiến thiết lại đất nước thực ra chỉ bắt đầu từ khi tiến hành đổi mới 1986, đến nay là 29 năm. Bản “kết toán” 40 năm độc lập thống nhất của quốc gia hôm nay có thể phác thảo như sau:

1. Đất nước hình thành một nền kinh tế phát triển theo chiều rộng, đã tận dụng tới mức tối đa có thể huy động được những yếu tố ban đầu như lao động rẻ, tài nguyên, đất đai và môi trường. Cơ cấu hiện có của nền kinh tế nhìn chung còn lạc hậu, hàm lượng chế biến trong sản phẩm rất thấp, tính lệ thuộc của một nền kinh tế gia công rất cao (thực chất là chỉ bán lao động rẻ và môi trường, không tự hình thành được những sản phẩm hay ngành kinh tế của chính quốc gia mình), kết cấu hạ tầng thấp kém, năng suất lao động vào lọai thấp nhất trong khu vực, khả năng cạnh tranh đang suy giảm nhanh vì đã khai thác cạn kiệt những yếu tố ban đầu, các hệ quả trong quá trình phát triển của một nền kinh tế lạc hậu ngày càng gia tăng (như thất nghiệp, nghèo đói, chênh lệch giầu nghèo và bất công xã hội, ô nhiễm môi trường…). Về nhiều mặt sự phát triển kinh tế có phần mang tính thị trường hoang dã, đồng thời đặm nét chủ nghĩa tư bản thân hữu. Nền kinh đòi hỏi bắt buộc phải tìm đường chuyển sang một thời kỳ phát triển mới.

2. Thể chế chính trị và hệ thống nhà nước được thiết kế theo quan điểm đảng đứng trên Hiến pháp, nắm quyền lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối. Trong thực tế đó là một hệ thống đảng trị, có trong tay hệ thống nhà nước làm công cụ thực hiện quyền lực của hệ thống đảng. Hệ thống quyền lực kép này (đảng + chính quyền) còn có hệ thống mặt trận (MTTQVN) là công cụ phụ trợ. Thiết kế như vậy, ngân sách quốc gia (thuế của dân) phải gánh 3 hệ thống quyền lực: (a) hệ thống đảng, có mọi quyền lực nhưng không phải chịu trách nhiệm ràng buộc nào trước đất nước; (b) hệ thống chính quyền, thực thi quyền lực của hệ thống đảng và trên thực tế hầu như chỉ chịu trách nhiệm trước hệ thống đảng, (c) hệ thống mặt trận với tính chất là công cụ thâu tóm mọi hoạt động trong xã hội vào guồng máy của hệ thống chính trị. Toàn bộ cỗ máy quyền lực này được vận hành dưới sự chi phối của (1) tập đoàn kinh tế nhà nước, (2) nền kinh tế GDP tỉnh, và (3) tư tưởng tư duy nhiệm kỳ. Có thể thấy ngay, một hệ thống quyền lực cồng kềnh và chồng chéo, có hệ điều hành đảng quyết định tất cả nhưng không chịu trách nhiệm ràng buộc, với chất lượng con người hoạt động trong hệ thống được nhào nặn từ chính hệ thống này, hiển nhiên không thể vận hành có hiệu quả toàn bộ sự vận động của một quốc gia. Về nhiều mặt, đây là một hệ thống quyền lực kìm kẹp quốc gia, vô hiệu hóa không ít hay không thực thi được bao nhiêu các chính sách cũng như luật pháp do chính hệ thống này ban hành. Mọi chiến lược hay quy hoạch quốc gia đã vạch ra được đều trở nên không khả thi hoặc chỉ được thực hiện manh mún phần nào trong một hệ thống quyền lực chồng chéo, vận hành theo nhiệm kỳ và xé lẻ như vậy; quan liêu, lãng phí, tham nhũng và tội ác ngày càng trầm trọng là tất yếu. Chính hệ thống quyền lực này bóp nghẹt các quyền tự do dân chủ của nhân dân, hủy hoại nghị lực sáng tạo của đất nước. Thực tế này đẻ ra đòi hỏi phải tăng cường trấn áp để bảo toàn chế độ, hệ quả là ngày càng mất lòng dân, trực tiếp cản trở sự phát triển của đất nước. Với một hệ thống quyền lực như vậy không thể tạo ra và cũng không thể quản lý nổi một nước Việt Nam công nghiệp hóa.

Tình hình kinh tế đất nước bế tắc như hiện nay, đất nước hầu như bị động và chưa chuẩn bị được bao nhiêu trong việc đối phó với âm mưu bành trước bá quyền của Trung Quốc, cũng như nhiều yếu kém khác nữa của sự nghiệp phát triển đất nước trong đối nội và đối ngoại còn cho thấy: Trong tình hình mới, hệ thống quyền lực này ngày càng bất cập và không có khả năng dẫn dắt đất nước trong thế giới hiện tại. Ngoài ra không thể không đặt câu hỏi sự lũng đoạn của quyền lực mềm Trung Quốc đã tác động tới mức nào vào hệ thống quyền lực nước ta hiện nay.


3. Những sai lầm và yếu kém của hệ thống quyền lực trong hai thập kỷ gần đây ngày càng trầm trọng, gây ra áp lực ngày càng lớn trong đời sống của nhân dân. Chính sách thông tin bưng bít và định hướng để giữ chế độ và giữ đảng trong quá trình ngày càng tha hóa đang một mặt làm trầm trọng thêm tình trạng ngu dân, mặt khác vấp phải sự bác bỏ (bộc lộ ra hay không bộc lộ ra) của nhân dân ngày càng quyết liệt. Trong đời sống xã hội, sự lên ngôi của giả dối và của những hiện tượng phi đạo đức của quyền lực đang gây ra cuộc khủng hoảng trầm trọng đời sống tinh thần và văn hóa của đất nước. Trong đời sống đất nước xuất hiện những nghịch lý trầm trọng: Giữa lúc cần phát huy cao nhất tinh thần đoàn kết hòa hợp hòa giải dân tộc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, nhưng lòng dân ly tán và dân tộc bị chia rẽ; giữa lúc cần phát huy những giá trị tinh thần, đạo đức, văn hóa, xã hội cho sự nghiệp chấn hưng đất nước lại xảy ra hiện tượng đời sống tinh thần của nhân dân sa sút nhất, sự băng hoại các giá trị đạo đức xã hội ngày càng trầm trọng; chưa bao giờ các hiện tượng phản văn hóa, hủ tục, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện hút và tội phạm hình sự tràn lan như hiện nay. Tinh thần dân tộc bị tổn thương, nguyên khí quốc gia bị đánh cắp. Và như đã phân tích trong phần II. 1. “Nước Việt Nam là của người Việt Nam!”, đất nước đã độc lập 40 năm mà vẫn chưa phải là của nhân dân và do nhân dân làm chủ. Nguyên nhân gốc của toàn bộ tình trạng này xuất phát từ sự tha hóa của hệ thống quyền lực.


4. Bốn mươi năm độc lập thống nhất đầu tiên của đất nước cũng là 40 năm đảng và nhà nước Việt Nam vấp phải nhiều sai lầm đối ngoại trầm trọng nhất. Do nhìn nhận sai về thế giới, nên sau khi vừa mới ra khỏi chiến tranh đất nước lại bị kéo ngay vào 2 cuộc chiến tranh mới trong 10 năm liền (1979 – 1989). Hội nghị Thành Đô là sai lầm chiến lược tiếp theo, để lại hệ lụy lâu dài và khôn lường cho đất nước. Điều trớ trêu là ĐCSVN chủ trương đường lối đối ngoại hòa hiếu, không đi với bất kỳ nước nào chống lại nước thứ ba. Song đường lối đối ngoại bắt đầu từ hội nghị Thành Đô lại cột chặt nước ta vào một bên Trung Quốc, có nghĩa là làm như thế khách quan tạo ra những mâu thuẫn nhất định giữa nước ta và các nước thứ ba. Nguy hiểm hơn thế, đường lối đối ngoại này đã đưa con đường phát triển của đất nước đi vào quỹ đạo của Trung Quốc, tạo ra sự lệ thuộc trầm trọng và tình trạng bị Trung Quốc uy hiếp cho đến hôm nay ĐCSVN vẫn không thể tìm ra đối sách khắc phục; độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bị xâm phạm nghiêm trọng. Đường lối đối ngoại Thành Đô cùng với đường lối đối nội giữ đảng và giữ chế độ bằng mọi giá trên thực tế đã biến nước ta thành một nước chư hầu kiểu mới của Trung Quốc, giữa lúc nước ta đã hội nhập toàn diện vào thế giới toàn cầu hóa, có tất cả các quốc gia quan trọng là đối tác chiến lược hay đối tác toàn diện. Đường lối đối ngoại này khiến cho nước ta bị cô lập, vì nó chỉ cột chặt nước ta vào Trung Quốc và đẩy nước ta vào thế phải leo dây với các đối tác khác, nước ta vừa không có sự liên minh thật sự với bất kỳ đối tác quan trọng nào cần thiết cho an ninh của nước ta, vừa tự mình không tranh thủ được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của cả thế giới cho bảo vệ chủ quyền quốc gia và những lợi ích chính đáng của nước ta.

Trung Quốc là đối tác và đối tượng số một tự nhiên và (mãi mãi ?) đối với nước ta, nhưng trong 40 năm độc lập thống nhất đầu tiên của đất nước ĐCSVN đã thất bại hoàn toàn trong việc xây dựng nên một quốc sách có thể bảo vệ được độc lập chủ quyền quốc gia, đồng thời giữ được hòa bình và thực hiện được hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc. Nguyên nhân chủ yếu là: ĐCSVN đặt lợi ích quốc gia dưới lợi ích của đảng và của chế độ, trí tuệ thấp kém, sự lầm lẫn nghiêm trọng của ý thức hệ, sự khiếp nhược trước Trung Quốc, bị quyền lực mềm Trung Quốc lũng đoạn nghiêm trọng.

From : Nguyễn Trung,.....

http://anhbasam.wordpress.com/2014/07/21/2781-nguyen-trung-hiem-hoa-den/
Xem

http://miscellaneous-land.over-blog.net/2014/07/c-c-di-n-th-gi-i-da-c-c-v-i-m-t-sieu-c-ng-trung-qu-c-dang-len.html

Publicité
Tag(s) : #Dư Luận Chính Trị VN, #Dư Luận Chính Trị Thế Giới
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :