Chờ Trung Quốc đánh rồi mới tính cách gỡ, sẽ nếm mùi thất bại!
From : Ba sam ( Mạnh Kim )
Dự hội thảo thường niên lần thứ tư về biển Đông do Trung tâm nghiên cứu quốc tế và chiến lược (CSIS) tổ chức ngày 10 và 11-7-2014 (1616 Rhode Island Ave, NW, Washington, DC), với chủ đề “Recent Trends in the South China Sea and U.S. Policy”, dân biểu Cộng hòa Mike Rogers, chủ tịch Ủy ban tình báo Hạ viện Hoa Kỳ, đã chỉ trích gay gắt Trung Quốc và cáo giác nước này là “tham ăn, gây hấn trơ tráo”. Nhận định rằng “đã đến lúc chúng ta phải thay đổi đối thoại và phải giảm bớt sự tôn trọng trong ngôn ngữ ngoại giao”, Mike Rogers cũng yêu cầu Chính phủ Mỹ phải có biện pháp đối phó trực diện hơn với Bắc Kinh, và Mỹ nên tăng cường việc chia sẻ thông tin tình báo lẫn hợp tác quân sự với các quốc gia trong khu vực…
Nhìn ở một góc độ, có thể diễn dịch rằng ý kiến Mike Rogers là sự chỉ trích thường thấy và quá quen thuộc trong chính trường Mỹ, khi phe đối lập luôn moi móc để hạ uy tín cánh chính trị cầm quyền. Nó dường như chỉ phản ánh một cuộc đấu đá nội bộ nước Mỹ không hơn không kém. Tuy nhiên, nhìn ở góc độ khác, rộng hơn, chỉ trích Mike Rogers không hẳn là chuyện nội bộ của riêng nước Mỹ. Nó là một vấn đề quốc tế, liên quan chính sách đối ngoại có ảnh hưởng lâu dài đến lợi ích chính trị và tương lai nước Mỹ.
Đến giờ thì có thể khẳng định Barack Obama không phải George W. Bush và John Kerry không phải Hillary Clinton. Xem ra cặp đôi Obama-Kerry “hợp rơ” nhau hơn, và xem ra không phải tự nhiên mà bà Hillary chỉ “phò” Obama có một nhiệm kỳ. Khó có thể nói Obama đang bỏ lỏng trận địa nhưng cũng khó có thể nói Obama đang thật sự thành công trong việc kiềm chế Trung Quốc. Nếu cách tiếp cận vấn đề của Obama đối với Trung Quốc như vài năm qua vẫn được thực hiện, sẽ chẳng có lý do gì để Bắc Kinh chần chừ “thôn tín” khu vực bằng chiến lược càn quét cấp tập như đang diễn ra.
Với Trung Quốc bây giờ, việc chỉ trích, lên án, tố cáo, bày tỏ bất bình… gì gì đó sẽ không thể mảy may có tác dụng. Bắc Kinh đã lộ rõ bộ mặt trơ tráo bất chấp dư luận, vậy thì “lên án” có hiệu quả gì? Quan sát đòn thế ứng xử trong các hồ sơ quốc tế khác, đặc biệt Syria, Bắc Kinh đã “đọc” được “bài tủ” của Obama. Và như vậy Trung Quốc cứ mạnh tay dồn hết tốc lực để đặt biển Đông vào thế sự đã rồi. Họ chắc chắn tranh thủ ráo riết thực hiện kế hoạch “bình định” khu vực trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ tổng thống Obama.
Nói cách khác, với Trung Quốc bây giờ, chỉ bằng việc “đánh động dự luận quốc tế” thôi thì không ăn thua. Điều này cũng nên được xem là một thực tế mà Việt Nam cần phải nhìn nhận để từ đó buộc phải thay đổi chiến thuật. Đừng hòng mong Trung Quốc chùn bước, nếu Mỹ, Việt Nam, và khu vực không có bất kỳ biện pháp cứng rắn và cụ thể nào.
Ở đây không phải là nói đến chiến tranh, là “xúi” phải đánh nhau bằng súng đạn, mà nói đến một sách lược đối phó trực diện và mang tính công nhiều hơn thủ. Đó là sự can đảm đứng lên kêu gọi xây dựng quan hệ quốc phòng với các nước khu vực, sự dứt khoát rõ ràng trong việc tìm ra giải pháp giảm thiểu lệ thuộc kinh tế, sự mạnh mẽ kết nối với những nước lớn khu vực như Nhật, Úc, Hàn Quốc, Ấn Độ… Sự tự tin ở đây không phải là các câu nói mơ hồ đại loại “Việt Nam không liên kết với bất kỳ nước lớn nào để chống lại một nước khác” mà phải là ngược lại mới đúng, bằng các cam kết giấy trắng mực đen về “đối tác chiến lược” toàn diện, đặc biệt quân sự, và đặc biệt với Nhật. Không tranh thủ sự cứng rắn và quyết tâm của Shinzo Abe ở thời điểm này thì còn chờ đến lúc nào, trong khi Abe không thể vĩnh viễn ngồi ghế thủ tướng để “thấy khi nào tiện và thích hợp” thì mới ngỏ lời? Sự tự tin ở đây không phải là “kêu gọi các nước lên án Trung Quốc” mà là phải cùng các nước khu vực “gom” hồ sơ lôi Trung Quốc ra tòa…
Có thể thấy một điều là khu vực đang theo dõi và nóng lòng chờ một sự dứt khoát mạnh mẽ của Việt Nam. Không phải do uy tín chính trị hoặc ảnh hưởng kinh tế của Việt Nam tại khu vực, cũng chẳng phải Việt Nam có giá trị như một đầu tàu có thể lôi kéo cả khu vực, mà là bởi Việt Nam đang được mặc định là một vệ tinh của Trung Quốc. Do đó, độ rung chấn chắc chắn sẽ lớn và gây sốc nếu “vệ tinh” này tự tạo ra đủ lực để bứt thoát khỏi quỹ đạo Bắc Kinh. Không chỉ gây sốc, mức độ rung chấn của sự kiện còn sẽ tạo ảnh hưởng mang lại hiệu ứng dây chuyền. Xét về nhiều mặt, Việt Nam, dù sao, cũng hơn Myanmar nhiều. Giá trị của sự kiện Việt Nam bứt khỏi Trung Quốc cũng sẽ mang lại nhiều “phần thưởng” hơn nhiều.
Thời gian rõ ràng không đứng về phe mình. Việc “mua thời gian” để chờ Mỹ hoặc Nhật ra tay rồi “tùy cơ ứng biến”, nếu điều này thực sự có, rõ ràng là một giải pháp ở thế đường cùng chứ không phải lá bài của một nhà chiến lược chủ động. Cục diện đang nghiêng về Trung Quốc, phải thừa nhận như vậy. Chờ họ đánh rồi mới tính cách gỡ, theo cách khá bị động như của Obama, hoặc rất bị động như của Việt Nam, sẽ chỉ có thể nếm mùi thất bại. Để đánh Trung Quốc, phải ra tay chủ động, phải ra đòn trên mọi mặt trận, như kiểu Shinzo Abe. Nước Mỹ đang cần một Shinzo Abe và châu Á-Thái Bình Dương đang cần rất nhiều Shinzo Abe!
Sự quan tâm của cộng đồng quốc tế, gây thêm sức ép bên ngoài cho Trung Quốc.
Hoàn Cầu thời báo viết: Ngoài việc ra sức thúc đẩy tiến hành chiến tranh ngoại giao, Chính phủ Việt Nam còn ra sức tập trung thúc đẩy cuộc chiến pháp lý. Mặc dù cuộc chiến pháp lý của Philippines đã thể hiện “không có hiệu quả” đối với Trung Quốc (?), nhưng Việt Nam vẫn có ý định thông qua đó để thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế, gây thêm sức ép bên ngoài cho Trung Quốc.
Ngày 3 tháng 7 cho rằng, Trưởng đoàn đại diện thường trực của Việt Nam tại Liên hợp quốc, Đại sứ Lê Hoài Trung tiếp tục gửi công hàm cho Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon về việc Trung Quốc hạ đặt phi pháp giàn khoan trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, cho lưu hành 2 văn kiện lập trường có liên quan đến việc Việt Nam có chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và phản bác yêu sách chủ quyền không có bằng chứng pháp lý và lịch sử của Trung Quốc đối với quần đảo này, đồng thời đề nghị Tổng thư ký lấy văn kiện lập trường của Việt Nam làm tài liệu chính thức của Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 68, phát cho các nước thành viên của Liên hợp quốc.
Tờ “Thanh niên” Việt Nam ngày 3 tháng 7 dẫn lời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết, Việt Nam đã đưa bằng chứng “xâm phạm” của Trung Quốc lên Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế, Đảng, Chính phủ và các cơ quan của Việt Nam đang gấp rút chuẩn bị hồ sơ pháp lý, tìm kiếm giải quyết vấn đề này tại cơ quan trọng tài quốc tế.
Ba phương thức đánh bại kẻ xâm lược
http://bongbvt.blogspot.fr/2014/07/ba-phuong-thuc-anh-bai-ke-xam-luoc.html
(GDVN) -Sinh tồn của quốc gia này là biển, trước đây đã thế, bây giờ và hàng nghìn năm sau cũng vậy. Nếu Việt Nam nhân nhượng, Trung Quốc không chỉ chiếm Hoàng Sa...
LTS: Chia sẻ với Báo Giáo dục Việt Nam, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước – nguyên Tư lệnh quân khu IV nhận định, từ nhiều đời nay, Trung Quốc không bao giờ từ bỏ ý định xâm chiếm đất đai của Việt Nam, nhưng họ cũng rất sợ tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam.
Nếu ta nhân nhượng, Trung Quốc sẽ chiếm cả Trường Sa...
- Đã 60 ngày trôi qua kể từ khi hạ đặt trái phép giàn khoan 981 trong vùng biển của Việt Nam, dường như ý đồ của Trung Quốc đã rất rõ, đó là biến dần những vùng biển không có tranh chấp thành có thành chấp, và bước tiếp theo là chiếm toàn bộ những vùng biển ấy, kể cả phải dùng vũ lực?
- Trung tướng Nguyễn Quốc Thước: Trước tình hình này, theo tôi cần giữ vững ba nguyên tắc ứng xử với Trung Quốc:
Thứ nhất, phải giữ vững được sự đoàn kết của 90 triệu dân Việt Nam. Dù rằng dân số của chúng ta so với cả nước Trung Quốc là con số nhỏ, nhưng nhìn lại cả tiến trình lịch sử thì chưa bao giờ chúng ta chịu khuất phục. Trung Quốc rất sợ sự đoàn kết của toàn dân Việt Nam, mà minh chứng rõ nét nhất là trải qua tất cả các triều đại phong kiến, rốt cuộc quốc gia phương Bắc luôn phải phải hứng chịu thất bại. Ngày nay, tình đoàn kết không chỉ nói tới nhân dân Việt Nam ở trong nước, mà kiều bào ta ở nước ngoài cũng chính là nguồn động viên vô cùng to lớn trong cuộc chiến bảo vệ chủ quyền.
Thứ hai, Trung Quốc sợ phong trào quốc tế ủng hộ Việt Nam. Cách tốt nhất trong cuộc đấu tranh này là Việt Nam phải tuyên truyền để thế giới và cả người dân Trung Quốc hiểu rõ sự thật lịch sử. Thêm nữa, chúng ta cần liên minh chặt chẽ với các nước trong khu vực có chung quyền lợi ở biển đông, đặc biệt là Nhật Bản và Philippin, hai nước ủng hộ chúng ta mạnh mẽ nhất.
Thông qua đấu tranh bằng con đường ngoại giao, Việt Nam sẽ làm cho quốc tế hiểu rõ bộ mặt thật đầy gian xảo của Trung Quốc. Khi tất cả các nước đều biết rõ Trung Quốc là kẻ lưu manh tự khắc họ phải có sự đề phòng và rất có thể Trung Quốc sẽ bị cô lập chính trị. Chính một số học giả của Trung Quốc cũng nhận định, hành vi của Trung Quốc như một tên cướp biển và sẽ mất nhiều hơn được.
Thứ ba, Trung Quốc rất sợ Việt Nam đưa vấn đề này ra các tổ chức quốc tế, bởi họ không có bất kỳ một căn cứ nào để chứng minh chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa, trong khi cả thế giới giờ đã rõ về hành vi ăn cướp của họ. Tôi rất mừng vì ngày càng có nhiều các bằng chứng chứng minh chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa, từ chính tấm bản đồ thời nhà Thanh in vào năm 1904 đã thể hiện rất rõ quốc gia này không có Trường Sa và Hoàng Sa. Gần đây, chúng ta cũng đã đón nhận bộ Atlas Thế giới, Bruxelles – 1827 khẳng định chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, được vẽ bởi nhà địa lý người Pháp và được xuất bản từ năm 1827.
Phát huy được ba yếu tố đó là sức mạnh vô cùng lớn để đánh bại ý đồ bành trướng, xâm lược của Trung Quốc. Tuy nhiên, để phát huy được ba yếu tố ấy thì vai trò của thông tin tuyên truyền là rất quan trọng. Phải tuyên truyền để dân ta hiểu rõ về chủ quyền cũng như âm mưu xâm lược của Trung Quốc, từ đó hun đúc tinh thần yêu nước của các thế hệ trẻ, tạo sự đoàn kết vững chắc chống quân xâm lược.
Tôi rất tiếc vì bấy lâu nay chúng ta nói quá ít về vấn đề này, thậm chí ngay cả trong giảng dạy cho học sinh thì các cuộc chiến giữa Việt Nam với Trung Quốc hầu như không được đề cập, mà thường chúng ta né tránh. Vì sao như vậy? Cho nên tôi rất đồng ý với phát biểu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rằng, chúng ta không đánh đổi chủ quyền lấy tình hữu nghị viển vông.
- Ông có cho rằng, tuyên truyền để người dân Trung Quốc hiểu được chính nghĩa là một biện pháp quan trọng ngăn chặn âm mưu của các nhà cầm quyền nước này?
- Trung tướng Nguyễn Quốc Thước: Trung Quốc hành động đúng như một tên ăn cướp, nhưng lại đổ vấy mọi chuyện cho Việt Nam. Hiện nay, nhân dân Trung Quốc đang bị bưng bít thông tin nên chưa hiểu được sự thật. Chúng ta cần phải có các biện pháp để người dân Trung Quốc yêu chuộng hòa bình thấy được chính nghĩa ở phía Việt Nam và như vậy chính họ sẽ lên tiếng phản đối hành vi của nhà cầm quyền nước này.
Chúng ta thấy rằng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, các phong trào quốc tế ủng hộ Việt Nam đã góp phần không nhỏ để chúng ta đánh đuổi hai kẻ xâm lược xừng sỏ của thế giới. Đặc biệt, nhân dân Mỹ đã tổ chức nhiều cuộc tuần hành, biểu tình phản đối nhà cầm quyền ngay trên đất nước Mỹ, đã góp phần giúp Việt Nam sớm giành lại độc lập.
Vì vậy, tôi tin rằng khi chúng ta tổ chức tuyên truyền được cho người Trung Quốc hiểu ra sự thật thì chính họ sẽ phản đối các hành vi đe dọa quân sự vô lý ấy, chắc chắn họ không muốn xương máu của con em mình phải đổ xuống một cách vô nghĩa như vậy, trong khi dân tộc Việt Nam chỉ muốn sống trong hòa bình. Có người nói rằng tuyên tuyền vào Trung Quốc rất khó nhưng tôi không cho là như vậy, mà vấn đề là chúng ta có đủ quyết tâm hay không mà thôi.
Sinh tồn của quốc gia là biển
- Từ những kinh nghiệm xương máu qua hai cuộc kháng chiến cứu nước, theo ông, những bước tiếp theo Việt Nam cần có hành động thế nào?
- Trung tướng Nguyễn Quốc Thước: Chúng ta cần phải có sự chuẩn bị tốt cho những bước đi tiếp theo, sẵn sàng chủ động đối phó với những hành vi xấu xa của Trung Quốc, chứ không để rơi vào thế bị động cuốn theo họ như thời gian vừa rồi.
Chúng ta nhớ lại thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vào năm 1965, Bác Hồ đã dự đoán trước tình hình rằng Mỹ sẽ đánh ra Hà Nội bằng B52. Bác cũng dự đoán cuộc kháng chiến có thể kéo dài 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn nữa, nhưng chúng ta sẽ chiến thắng và khi thắng lợi sẽ xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.
Bác cũng dự đoán chúng ta sẽ giành toàn thắng vào giai đoạn năm 1975… Như vậy cho thấy Bác đã tổng hợp được các nguồn thông tin, phân tích được thế cuộc và kết luận thế cục chắc chắn sẽ diễn ra theo hướng như vậy.
Đã là lãnh đạo quốc gia thì tầm nhìn chiến lược phải là số một, tài năng của một lãnh đạo tầm cỡ quốc gia là phải nhìn thấy trước được cục diện, biết và tránh được những âm mưu của kẻ thù, tránh được những xung đột không cần thiết gây tổn tại tới đất nước.
Tuy nhiên tình hình xảy ra thời gian qua đã cho thấy Việt Nam chưa có được sự chuẩn bị thật tốt cho chiến lược trên biển. Rõ ràng Trung Quốc đang thực hiện âm mưu đẩy Việt Nam vào thế chính trị, chứ không đơn thuần là kinh tế. Tôi rất tiếc là chúng ta bị động chứ không nắm thế chủ động ngay từ đầu. Vì sao tôi nói thế? Từ bao đời này Trung Quốc luôn muốn xâm chiếm đất đai của dân tộc ta, nhưng chúng ta lại không có sự đề phòng đủ rộng. Mấy chục năm nay chuẩn bị toàn diện cho biển thế nào? Bây giờ, chúng ta đã thấy được những thiếu sót ấy thì phải có những bước đi tiếp theo hợp lý, không để mắc mưu Trung Quốc.
Từ những bài học kinh nghiệm trong quá khứ vào các năm 1974, 1979, 1988... cho thấy Việt Nam không thể nhượng bộ với Trung Quốc, thưa ông?
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước: Sinh tồn của quốc gia này là biển, trước đây đã thế, bây giờ và hàng nghìn năm sau cũng vậy. Chúng ta đều biết, tài nguyên khoáng sản trên đất liền ngày càng cạn kiệt, chỉ có lúa gạo thôi thì không thể đủ được, và tài nguyên trên biển thì còn rất nhiều tiềm năng, nhiều vùng chưa có điều kiện để khai thác.
Bên cạnh đó, giao lưu trên biển cũng rất lớn. Quân sự phát triển trong tương lai cũng phải di chuyển bằng đường biển. Tôi nhớ lại thời gian quân đoàn 3 sang giúp nhân dân Cam-pu-chia đánh đuổi quân pôn pốt sau đó trở về nước, chỉ có ô tô đi đường bộ, còn lại xe tăng và pháo binh đều di chuyển bằng đường biển. Những nơi nào khó khăn nhất không đi được trên bộ thì đều phải di chuyển bằng đường biển… Với rất cả những yếu tố ấy, có thể khẳng định biển là môi trường sinh tồn của một quốc gia.
Việt Nam có trên 3 nghìn km đường bờ biển và có trên 1 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế, đó là tiềm năng vô cùng to lớn, là lợi thế mà không phải quốc gia nào cũng có được.
Những lợi thế rất lớn của Việt Nam luôn bị Trung Quốc nhòm ngó, và họ biết rất rõ là muốn trở thành cường quốc của thế giới thì con đường duy nhất là tiến ra biển. Khi tung ra đường 9 đoạn, Trung Quốc đã cho thấy rất rõ dã tâm này. Nếu chúng ta tiếp tục nhân nhượng thì Trung Quốc không những chỉ chiếm đóng Hoàng Sa mà còn nuốt luôn cả Trường Sa.
Chúng ta chỉ có thể dựa vào thực lực của chính mình, chứ không thể chờ đợi sự giúp đỡ của nước khác. Những tuyên bố của Mỹ, Nga hay một số quốc gia cho thấy đó chỉ đơn thuần là những ứng xử ngoại giao.
Hậu giàn khoan 981: Quỳ gối không phải là tính cách Việt Nam
VTC -“Vietnam and China relations: Ground Shaken” đăng trên trang Eurasia Review ngày 24/7. Nội dung đề cập ý tưởng bắt nạt Việt Nam của Chủ tịch TQ Tập Cận Bình đã gây bất ổn trong quan hệ Việt-Trung và trong vụ giàn khoan Haiyang Shiyou 981, Việt Nam đã kiềm chế một cách sáng suốt.
Từ khi bình thường hóa quan hệ năm 1991, Việt Nam và TQ xây dựng mối quan hệ qua hai cột trụ:
Thứ nhất là mạng lưới đối thoại thường xuyên dày đặc giữa hai đảng và hai chính phủ để mở rộng sự hợp tác, xử lý các vụ việc, giải quyết các tranh chấp thông qua thương lượng.
Thứ hai, Việt - Trung tham gia các cơ chế đa phương do ASEAN dẫn đầu, để xây dựng niềm tin và các biện pháp ngoại giao.
Từ hai nền tảng này, sự tín nhiệm phát triển, sự hợp tác song phương nảy nở ổn định. Những bất đồng về biên giới và hải giới Vịnh Bắc Bộ được giải quyết năm 1999 và 2000.
Đôi lần cũng xảy ra căng thẳng, nhưng sự bất đồng về biển Đông không tác động đến mối quan hệ chung này. ASEAN và TQ đã ký Tuyên bố về ứng xử của các bên về biển Đông, để tất các bên có các hướng xử lý những tranh chấp một cách hòa bình.
Cũng có hy vọng rằng TQ và ASEAN cuối cùng đạt được một Bộ quy tắc ứng xử (DOC).
Nhưng từ giữa những năm 2000, Việt Nam ngày càng lo ngại khi TQ ngày càng hung hăng đòi chủ quyền biển Đông.
Năm 2006-2007, TQ lặng lẽ dọa các công ty dầu khí quốc tế không được hợp tác với PetroVietnam ở vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam.
Cùng lúc, tàu bán quân sự TQ nỗ lực nắm quyền kiểm soát trên một vùng biển rộng tới tận bãi ngầm James (gần Malaysia).
Tháng 5.2009, Bắc Kinh thách thức Công ước Liên hiệp quốc về luật biển 1982 (UNCLOS) khi chính thức công bố bản đồ “đường 9 đoạn” và từ đó, TQ muốn thay đổi nguyên trạng ở Bãi cạn Scarborough của Philippines và Bãi Cỏ Mây.
Gần đây nhất, TQ hạ đặt giàn khoan Haiyang Shiyou 981 phi pháp vào EEZ của Việt Nam, một hành động đánh dấu chủ quyền lãnh thổ đi ngược lại những thỏa thuận trước đây giữa lãnh đạo cấp cao hai nước.
Quyền tự do hàng hải bị thách thức khi TQ tùy tiện vạch khu vực cấm tiếp cận 3 hải lý quanh giàn khoan. Đe dọa hơn là tàu TQ cố tình sử dụng bạo lực,gồm đâm va, phun nước vào tàu Việt Nam đâm chìm cả tàu cá của ngư dân Việt Nam rồi bỏ đi.
Ban đầu Việt Nam sử dụng kênh đối thoại song phương để hạ nhiệt căng thẳng. Nhưng hơn 30 lần liên lạc với TQ vẫn không đạt được hồi âm thích đáng của TQ. 4 đường dây nóng giữa Hà Nội và Bắc Kinh bị “nguội”ngay lúc cần đến.
TQ còn cử nghị sĩ Dương Khiết Trì đến Hà Nội để “dạy Hà Nội cách ứng xử”, thay vì tìm cách thoát khỏi sự bế tắc. Ngay trước chuyến đi của họ Dương, Cục hải sự TQ còn tuyên bố gởi giàn khoan Nam Hải (Nan Hai Jiu Hao 982) vào sát gần Vịnh Bắc Bộ.
Kế đến, Việt Nam tích cực tuyên truyền để tố cáo các hành vi ngang ngược của TQ. 5 cuộc họp báo tại Hà Nội được mở, cung cấp chứng cứ của các hành vi này.
ASEAN, G7 cùng hàng chục nước đều tỏ bày sự quan ngại. Mỹ, Nhật Bản và Úc xem chủ nghĩa đơn cực của TQ là “gây bất ổn”. Tại diễn đàn đối thoại Shangri-La 2014, các quan chức TQ đối mặt với những câu hỏi cùng những lời chỉ trích quyết liệt….
Nay giàn khoan đã lui về lãnh hải TQ, nhưng vẫn có sự quan ngại ở Việt Nam rằng ngày nào đó nó sẽ trở lại. Dù cuộc khủng hoảng này đã dịu, nhưng đang có những thay đổi trong chiến lược tổng thể của Việt Nam.
Trước tiên, Việt Nam càng lúc càng xem TQ là một nhân tố gây bất ổn, nếu không nói là nỗi đe dọa. Đó là tín hiệu niềm tin TQ của Việt Nam đang giảm khi TQ liên tục tỏ thái độ lấn lướt.
Các tuyên bố mạnh mẽ gần đây của phía Việt Nam, như “sử dụng tất cả các biện pháp cần thiết”, “duy trì quyền tự vệ” và “không bao giờ đánh đổi chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ lấy tình hữu nghị viển vông”, là dấu chỉ họ đã mất kiên nhẫn với TQ.
Kế đến, sự tranh chấp không chỉ dừng lại ở các cuộc va chạm trên biển và tranh cãi ngoại giao, mà còn có hậu quả là sự bức xúc của nhân dân Việt Nam.
Các doanh nghiệp Việt Nam tình cách đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu và thị trường, để giảm lệ thuộc TQ. Đặc biệt là ngày càng có nhiều tiếng nói trong lực lượng lãnh đạo Việt Nam, đặt câu gỏi về mối quan hệ tư tưởng của Việt Nam với TQ.
Quan ngại việc bùng nổ thành một cuộc xung đột vũ trang, hoặc một cuộc rạn vỡ đột ngột trong mối quan hệ Việt - Trung, Việt Nam cẩn thận chờ đón các hành động của TQ sau ngày 15.8 tới. Như các quan chức đã nói, Việt Nam đã chuẩn bị sẵn các hồ sơ kiện, nhưng vẫn chờ thời gian chín muồi.
Vùng EEZ dọc bờ biển Việt Nam có vai trò quan trọng không chỉ về quyền khai thác tài nguyên, mà còn là một khu vực bảo toàn an ninh. Nếu các tấm khiên duyên hải này bị đâm thủng từ một thái độ hiếu chiến, lãnh thổ dài hẹp vốn thiếu chiến lược chiều sâu sẽ bị đe dọa nghiêm trọng.
Vì thế, chắc chắn Việt Nam sẽ giữ lực lượng tuần duyên trực chiến cho đến khi nào giàn khoan TQ rời khỏi lãnh hải của họ. Nếu TQ tiếp tục o ép Việt Nam, nước này sẽ không còn lựa chọn nào khác, ngoài việc xem xét lại chiến lược không liên kết của họ.
Lịch sử cho ta biết hai điều: trước tiên, quỳ gối trước một thế lực không phải là tính cách của người Việt Nam. Thứ hai, mối quan hệ hữu nghị xây dựng lâu sẽ chóng sụp đổ nếu sự tin cậy đã mất.