“Chính sách của Việt Nam dứt khoát không cho bất kỳ ai thuê quân cảng Cam Ranh, nhưng định kỳ cung cấp dịch vụ duy tu hậu cần cho tàu chiến Mỹ có thể là một lựa chọn chấp nhận được” - Thời báo Hoàn Cầu, một trong những tờ báo “diều hâu” nhất ở Trung Quốc, đột ngột chuyển giọng mềm mại, ve vuốt nhưng cũng ngầm đe dọa.
Rõ ràng chuyến công du của Đại tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ đến Việt Nam đã càng làm cho Bắc Kinh bối rối, sau cú “việt vị” của giàn khoan HD981 vào giữa năm nay.
Nếu cách đây vài năm, sự kiện Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta khi tới thăm Việt Nam và ghé thăm cảng Cam Ranh đã làm cho Trung Quốc lo ngại, thì nay tâm tư đó có thể đang chuyển sang lo sợ. Với vị trí là yếu hầu nắm giữ toàn bộ khu vực Biển Đông, nếu Cam Ranh rơi vào tay Mỹ thì tất yếu mục tiêu khống chế 80% Biển Đông của Trung Quốc trong những năm tới có lẽ nhiều lắm cũng chỉ đạt 20%.
Thực ra mọi việc không nhất thiết phải lặp lại kịch bản ngày xưa - khi Mỹ độc chiếm Cam Ranh như những quân cảng kiểu Subic và Clark ở Philippines. Giờ đây, thế sự và thế trận đã khác, người Mỹ không cần đến chiến tranh mà chỉ muốn có một hải cảng nhằm bảo vệ an toàn và an ninh Biển Đông cho tàu bè của họ và của các đồng minh của họ. Nguồn lợi kinh tế mà Trung Quốc muốn độc chiếm chắc chắn sẽ không thể “ăn trọn”, mà cần chia sẻ với các quốc gia khác.
Phản ứng có vẻ dè đặt và mơn man của Hoàn Cầu Thời Báo cũng phát thêm một tín hiệu nữa về khả năng đặt ra việc “thuê Cam Ranh” của Mỹ với Việt Nam là có thể khả thi trong tương lai không xa.
"Việt Nam sẽ không cho ai thuê Cam Ranh, tàu Mỹ có thể dùng dịch vụ"
Việt Nam dứt khoát không cho bất kỳ ai thuê quân cảng Cam Ranh, nhưng định kỳ cung cấp dịch vụ duy tu hậu cần cho tàu chiến Mỹ có thể là một lựa chọn.
Chuyến công du Việt Nam của Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, một hoạt động đối ngoại quốc phòng bình thường giữa 2 nước đang nhận được sự quan tâm đặc biệt từ dư luận quốc tế, đặc biệt là sự theo dõi, bình luận thậm chí là moi móc, bôi đen của truyền thông Trung Quốc.
Thời báo Hoàn Cầu ngày 18/8 đăng bài bình luận, mặc dù từng là kẻ thù một mất một còn nhưng hiện tại Mỹ và Việt Nam đang sát lại gần nhau nhanh chóng chỉ vì Trung Quốc (gây hấn trên Biển Đông). Thông tin các quan chức Mỹ đang xem xét nới lỏng lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam hay hai bên tăng cường hợp tác quân sự lập tức được Thời báo Hoàn Cầu lu loa rằng đó là động thái "kiềm chế" Trung Quốc trên Biển Đông?!
Đúng hơn là cần phải hợp tác đối phó với những hành vi vi phạm luật pháp quốc tế, coi trời bằng vung, bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc trên Biển Đông - PV.
Mặc dù vẫn còn duy trì lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, nhưng theo Thời báo Hoàn Cầu những năm gần đây thái độ của Mỹ trong vấn đề này ngày một mềm mỏng hơn. Năm 2005 có 3 tàu hải quân Trung Quốc được lắp radar do chi nhánh công ty Mỹ Northrop Grumman tại Anh chế tạo. Năm 2006 Bộ Quốc phòng Việt Nam lần đầu tiên mua được 1 chiếc xe bọc thép thế hệ mới của 1 công ty Mỹ tại tiểu bang Virginia.
Năm 2007, chính sách cấm bán vũ khí cho Việt Nam đã có những thay đổi rõ nét. Chính quyền Tổng thống Bush khi đó đã sửa đổi các điều khoản về giao dịch vũ khí quốc tế, cho phép tùy tình hình để có thể bán vũ khí sát thương hiện đại cho Việt Nam, nhưng các loại vũ khí hiện đại này phải được hạn chế. Lần này khả năng nới lỏng lệnh cấm vận vũ khí với Việt Nam có thể tiếp tục mở ra những khả năng hợp tác mới.
Hoàn Cầu dẫn nguồn truyền thông Mỹ cho rằng, nhiều khả năng Việt Nam sẽ đề xuất với phía Mỹ mua radar ven biển, tên lửa phòng không và máy bay trinh sát trên biển. Đồng thời Việt Nam mong muốn có khả năng nhận được các linh kiện trang bị quân sự của Mỹ.
Tờ báo Trung Quốc này cho rằng chuyến công du của tướng Martin Dempsey tới Việt Nam bao gồm cả Đà Nẵng khiến người ta nhớ tới việc Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta khi tới thăm Việt Nam đã từng ghé thăm cảng Cam Ranh cho thấy 2 cảng này luôn có vai trò chiến lược ở Biển Đông và luôn nằm trong tầm ngắm của Mỹ.
Cảng Cam Ranh và cảng Đà Nẵng đều là một trong những cảng nước sâu tốt nhất trên thế giới, khống chế yết hầu chiến lược nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương và cách 2 đại dương không dầy 1 giờ bay. Trong Chiến tranh Việt Nam, người Mỹ đã rót nhiều tiền vào cảng Cam Ranh và cảng Đà Nẵng để nâng cấp cơ sở hạ tầng cho địa phương này.
Dẫn kết quả nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm Thụy Điển cho biết, một khi Mỹ thuê được cảng Cam Ranh là có thể nắm chặt yết hầu ở Biển Đông. Từ cảng Cam Ranh tới bất cứ đảo, đá nào ở Trường Sa khả năng kiểm soát của Mỹ đều hơn đứt Trung Quốc. Khả năng khống chế của cảng Cam Ranh với bất kỳ đảo, đá nào ở Trường Sa hay năng lực cơ động binh hỏa lực, đổ bộ đều cao hơn nhiều so với bất kỳ căn cứ hải quân nào của Trung Quốc
Giá trị của cảng Cam Ranh đối với Mỹ ở Biển Đông hơn hẳn các cảng nổi tiếng khác như cảng Changi của Singapore, Yokosuka của Nhật Bản, Busan của Hàn Quốc hay đảo Guam, Hoàn Cầu kết luận.
Tuy nhiên theo phân tích của các chuyên gia Thời báo Hoàn Cầu phỏng vấn, lập trường của Mỹ hiện nay là mong muốn tranh thủ Việt Nam đồng ý mở cửa 2 hải cảng này để cung cấp dịch vụ duy tu bảo dưỡng tàu chiến hải quân Mỹ chứ Washington không có ý định đặt một căn cứ quân sự vĩnh cửu ở Việt Nam.
Trong khu vực Đông Nam Á, Mỹ đã dùng phương thức ký kết hiệp định để có được quyền sử dụng các quân cảng, như vậy có thể loại bỏ được tính nhạy cảm chính trị của vấn đề đặt 1 căn cứ quân sự vĩnh cửu ở nước ngoài và cũng đỡ tốn kém hơn cho Mỹ.
Đối với Việt Nam, bất luận là cân nhắc đến tình hình chính trị nội bộ hay nhu cầu cân bằng lợi ích chiến lược với Nga, Việt Nam gần như không thể cho phép người Mỹ xuất hiện thường trực trên lãnh thổ của mình. Chính sách của Việt Nam dứt khoát không cho bất kỳ ai thuê quân cảng Cam Ranh, nhưng định kỳ cung cấp dịch vụ duy tu hậu cần cho tàu chiến Mỹ có thể là một lựa chọn chấp nhận được, Thời báo Hoàn Cầu bình luận.
*************
Mỹ cần kế hoạch dỡ bỏ cấm bán vũ khí sát thương cho VN?
Hôm 7/8/2014, Trung tâm nghiên cứu quốc tế và chiến lược Hoa Kỳ (CSIS) tại Thủ đô Washington có phổ biến bài viết về việc Hoa Kỳ cần lên kế hoạch dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN. Vũ Hoàng phỏng vấn đồng tác giả Murray Hiebert, nghiên cứu chính trị Đông Nam Á của CSIS. Trước tiên, ông Hibert cho biết những điểm chính trong bài viết của mình:
Kế hoạch này bắt nguồn từ nhiều thứ nhưng cụ thể là sau chuyến thăm của chủ tịch nước VN Trương Tấn Sang hồi tháng 7 năm ngoái khi 2 nước quyết định thiết lập mối quan hệ đối tác toàn diện. Điều này có nghĩa rằng 2 quốc gia nhất trí cải thiện quan hệ trên tất cả mọi cấp độ kể cả những quyết định thảo luận các vấn đề khó khăn. Tôi cho rằng, cuối cùng khi 2 quốc gia muốn hoàn toàn bình thường hóa các mối quan hệ thì việc dỡ bỏ một số lệnh cấm trong những lĩnh vực như an ninh hàng hải, radar hay những lĩnh vực tương tự, có thể sẽ có lợi cho Việt Nam và cũng giúp Hoa Kỳ trước những quan ngại về sự lấn lướt của Trung Quốc ngày càng tăng trên Biển Đông.
Vũ Hoàng: Với việc ông Ted Osius vừa được đề cử trở thành tân đại sứ Hoa Kỳ đến Việt Nam, ông nghĩ rằng ông Osius sẽ trở thành một nhân tố thúc đẩy cho tiến trình dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương từ Mỹ?
Ông Hiebert: Khi ông Ted Osius được đề cử 2 tháng trước đây, tôi nghĩ rằng vấn đề này đã được nêu lên có lẽ là từ thượng nghị sĩ John McCain. Họ đã thảo luận và dường như là thượng sĩ McCain đã ủng hộ ý kiến đó. Và rồi tuần trước, phía Hoa Kỳ đã cử phái đoàn quốc hội tới Việt Nam trong đó có thương nghị sĩ McCain. Như tôi được biết, đã có những trao đổi cho thấy phía đại biểu quốc hội Hoa Kỳ quan tâm, đồng thời, phía chính quyền Hà Nội cũng tỏ ý muốn phía Mỹ bắt đầu giảm bớt những cấm vận về việc bán thiết bị quân sự cho họ.
Tôi cho rằng, nếu mục tiêu của chính phủ Việt Nam và Hoa Kỳ là cải thiện các mối quan hệ của mình, thì đây là thời điểm lý tưởng để thực hiện các bước tiến đó.
- Ông Hiebert
Vũ Hoàng: Ông đánh giá thế nào về bối cảnh hiện nay giữa 2 quốc gia khi gần đây Việt Nam và Hoa Kỳ đạt được thỏa thuận hạt nhân dân sự gọi tắt là Hiệp định 123 và có thể trong tương lai là bán vũ khí sát thương?
Ông Hiebert: Theo tôi thì có 2 bước trong tiến trình cải thiện các mối quan hệ. Dĩ nhiên là còn rất nhiều những vấn đề khác nữa. Về phía Hoa Kỳ, vấn đề lớn đối với chính quyền hiện tại là tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Như quý vị thấy là thông thường khi vấn đề cải thiện quan hệ với Việt Nam bao gồm việc Việt Nam nằm trong Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) hay các hiệp định thương mại gồm cả thiết bị quân sự thì vấn đề nhân quyền lại được nêu lên. Vấn đề nhân quyền này bao gồm việc bắt giữ các bloggers của Việt Nam cũng như các vấn đề khác liên quan đến dân chủ, các nhà vận động nhân quyền tại Việt Nam.
Do đó, tôi hoàn toàn nghĩ rằng đối với những vấn đề như quân sự, cấm bán thiết bị quân sự… sẽ được giải quyết bằng những đòi hỏi từ cả 2 phía, cần vạch ra cách thức giải quyết sự khác biệt về vấn đề nhân quyền. Tiến trình này cũng đòi hỏi phía Việt Nam cần dễ dãi hơn đối với những người nêu lên chính kiến của họ về vấn đề chính trị một cách bất bạo động.
Vũ Hoàng: Như ông có nhắc tới lúc đầu là Trung Quốc hung hăng trên Biển Đông, ông có nghĩ rằng đây là nhân tố khiến Hoa Kỳ có thể đẩy nhanh việc dỡ bỏ bán vũ khí sát thương cho Việt Nam để đối lại những sự việc trên?
Ông Hiebert: Điều này đúng là mang lại động lực để giải quyết vấn đề. Cả hai quốc gia đều lo ngại đến sự lấn lướt gần đây của Trung Quốc. Do đó, tôi có thể khẳng định rằng mặc dù cả phía Mỹ lẫn Việt Nam đều nói họ cải thiện quan hệ chỉ trên phương diện song phương nhưng thực chất Trung Quốc cũng là một nhân tố trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ.
Tiến trình này cũng đòi hỏi phía Việt Nam cần dễ dãi hơn đối với những người nêu lên chính kiến của họ về vấn đề chính trị một cách bất bạo động.
- Ông Hiebert
Tôi cho rằng, nếu mục tiêu của chính phủ Việt Nam và Hoa Kỳ là cải thiện các mối quan hệ của mình, thì đây là thời điểm lý tưởng để thực hiện các bước tiến đó. Tôi nghĩ rằng về phía Việt Nam điều này có thể khá khó khăn vì giữa năm tới, Đảng Cộng Sản sẽ bắt đầu cho kỳ đại hội Đảng diễn ra vào đầu năm 2016 trong khi đó, phía Hoa Kỳ cũng có các cuộc bầu cử quốc hội và Tổng thống diễn ra vào năm 2016. Vì lẽ đó, cả 2 phía nên đẩy nhanh tiến trình này càng sớm càng tốt vì khi mùa chính trị diễn ra thì những vấn đề cải thiện quan hệ sẽ không còn được chú trọng.
Vũ Hoàng: Như chúng ta biết là Hoa Kỳ và Nhật Bản là các quốc gia đồng minh, nếu trong trường hợp trở ngại về bán vũ khí sang Việt Nam, ông nghĩ có khả năng nào Hoa Kỳ sẽ thông qua liên minh quân sự là Nhật Bản để họ trở thành bên thứ ba bán vũ khí cho Việt Nam?
Ông Hiebert: Đây là một câu hỏi khá khó. Tôi nghĩ rằng chúng ta đã thấy Nhật Bản đang trợ giúp cho Việt Nam tàu chiến, một số tàu tuần duyên… Dĩ nhiên, Nhật Bản có thể hỗ trợ Việt Nam. Tuy nhiên, việc bán vũ khí cho Việt Nam thì lại có thể gặp phải những khó khăn bởi một số điều khoản trong hiến pháp của Nhật Bản không cho phép thực hiện điều này.
Tôi không biết liệu cách thức gián tiếp này có thực thi được hay không. Dĩ nhiên là Hoa Kỳ không thể bán vũ khí trực tiếp sang Nhật Bản, rồi Nhật Bản lại tiếp tục bán vũ khí đó sang Việt Nam… điều này chắc chắn sẽ vấp phải những lệnh cấm bán vũ khí tương tự. Vì vậy, để việc bán vũ khí có thể thực hiện được đòi hỏi phải dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương. Tôi tin là Quốc hội Hoa Kỳ sẽ chẳng lấy gì làm vui vẻ khi sự việc lại phải thông qua một nước thứ 3 như vậy cả.
Vũ Hoàng: Cảm ơn ông đã giúp chúng tôi thực hiện chương trình này.
From : VNTB , Giao duc ,RFA,..........