Vũ khí Việt Nam đủ sức răn đe Trung Quốc hay không?
Tranh chấp đặc biệt gay gắt giữa Hà Nội và Bắc Kinh tại Biển Đông, đặc biệt là sau vụ giàn khoan HD-981 vừa qua, đã nêu bật câu hỏi là với thực lực quân sự hiện có, liệu Việt Nam có thể ngăn không cho Trung Quốc độc chiếm Biển Đông hay không ? Theo các chuyên gia, khả năng duy nhất nằm trong tầm tay của Việt Nam là « răn đe », và ngay cả trong vấn đề này, vẫn còn nhiều ý kiến hoài nghi.
Nhân một Hội nghị Quốc tế về Chính sách Hàng hải của Trung Quốc do Đại học Ma Cao tổ chức trong hai ngày 19-20/09/2014, Giáo sư Carlyle Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Úc đã thử tìm đáp án cho câu hỏi về thực lực trên biển của Việt Nam trong tương quan với Trung Quốc.
Trong tham luận mang tựa đề « Chiến lược Biển Đông của Việt Nam và Quan hệ Việt-Trung », chuyên gia Thayer đã phân tích đối sách Biển Đông hiện nay của Việt Nam, đặc biệt là trong quan hệ với Trung Quốc sau vụ giàn khoan HD-981. Tham luận gồm 5 phần chính : Chính sách đối ngoại ; Bối cảnh lịch sử ; Chiến lược quốc phòng ; Chiến lược biển cho đến năm 2000 ; Hệ quả đối với quan hệ Việt Nam-Trung Quốc.
Trong phần đề cập đến chiến lược chống xâm lăng từ ngoài biển của Việt Nam, tức là chống Trung Quốc, Giáo sư Thayer cho rằng chính tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc tại Biển Đông là động lực quan trọng nhất thúc đẩy Việt Nam hiện đại hóa quân đội, ưu tiên cho hải quân, và nhất là trang bị cho mình một hạm đội tàu ngầm.
Hợp đồng đặt mua sáu chiếc tàu ngầm Varshavyanka (còn gọi là kilo) đã được ký kết vào năm 2009, và đang lần lượt được giao, cho đến năm 2016 là chiếc cuối cùng.
Hiện đã có hai chiếc Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh được giao cho Hải quân Việt Nam, chiếc thứ ba là Hải Phòng dự kiến sẽ giao vào tháng 11 năm nay, chiếc thứ tư là Đà Nẵng thì đã được Nga hạ thủy tháng Ba vừa qua và đang trong quá trình chạy thử. Hai chiếc còn lại Khánh Hòa - đang được đóng - và Bà Rịa Vũng Tàu sẽ hạ thủy vào tháng 9 năm 2015 để được giao cho Việt Nam vào năm 2016.
Bộ Quốc phòng Việt Nam dự định sẽ cho triển khai hạm đội tàu ngầm của mình vào khoảng năm 2016-2017, và theo Giáo sư Thayer, một khi bắt đầu hoạt động, với hệ thống vũ khí tối tân được trang bị, các chiếc tàu ngầm Việt Nam có thể thực hiện song song hai nhiệm vụ :
(1) giúp phát hiện tàu lạ ở khu vực ngoài khơi bờ biển Việt Nam và vùng xung quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ;
(2) tăng cường sức răn đe của Việt Nam trong trường hợp bị Trung Quốc bất ngờ tung quân đánh chiếm các đảo, đá đang do Việt Nam chiếm đóng tại vùng Biển Đông.
Tóm lại, theo giáo sư Thayer, đội tàu ngầm kilo sẽ cung cấp cho Việt Nam một năng lực chống tiếp cận khu vực, dù hạn chế, nhưng hữu ích.
Việt Nam phải mất thêm nhiều năm mới làm chủ được vũ khí hiện đại
Đối với Giáo sư Thayer, giới nghiên cứu phương Tây hiện không nhất trí với nhau về khả năng Việt Nam đối chọi được với Trung Quốc trên biển. Chuyên gia Mỹ Zachary Abuza thuộc trường Simmons College là điển hình cho quan điểm này.
Theo ông Abuza : « Việt Nam cần phải có thêm nhiều năm dòng dã mới có thể hoàn tất đợt hiện đại hóa quốc phòng đang tiến hành, cũng như phát triển được các học thuyết và chiến thuật để sử dụng các công nghệ mới vừa trang bị ». Đối với ông Abuza, « Vũ khí tốt nhất của Việt Nam vẫn là ngoại giao và luật pháp quốc tế ».
Ông Lyle Goldstein, Giáo sư tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ, đã phân tích nhận định của giới chuyên gia Trung Quốc về năng lực quân sự của Việt Nam để cho rằng Bắc Kinh không coi thường năng lực quốc phòng của Việt Nam. Theo ông, tàu ngầm kilo của Việt Nam có khả năng « đánh những cú chí mạng bằng ngư lôi hay tên lửa hành trình chống hạm ».
Tuy nhiên, chuyên gia này xác định rằng giới phân tích quân sự Trung Quốc đã chú ý đến nhiều khiếm khuyết trong chiến lược quân sự của Việt Nam, nhất là sự thiếu vắng kinh nghiệm gần như là hoàn toàn trong việc sử dụng và vận hành hệ thống vũ khí cực kỳ phức tạp như tàu ngầm.
Giáo sư Goldstein đồng ý với Abuza là chiến lược tốt nhất của Việt Nam để chống Trung Quốc vẫn là « hy vọng có được một sức răn đe khả dĩ, trong lúc tiếp tục các nỗ lực ngoại giao để giải quyết tranh chấp ».
Theo Giáo sư Thayer, trái với quan điểm kể trên, các chuyên gia như Gary Li, Brian Benedictus, Robert Faley, Collin Koh và Siemon Wezeman thì đánh giá cao hơn chiến lược chống xâm lấn của Việt Nam.
Việt Nam có lợi thế địa dư vì đòi chủ quyền ngay "thềm nhà"
Gary Li chẳng hạn, cho rằng Việt Nam hiện nắm giữ nhiều đảo nhất tại vùng Trường Sa, và muốn đánh chiếm vùng này, tàu Trung Quốc phải đi rất xa. Địa dư chính là lợi thế của Việt Nam. Chuyên gia này phân tích :
« Việt Nam đòi chủ quyền trên một khu vực ngay trước thềm nhà mình. Đội tàu nhẹ và tàu ngầm trang bị tên lửa của Việt Nam có thể tấn công và rút lui về căn cứ một cách dễ dàng, trong lúc hạm đội Trung Quốc bị tấn công thì ít nhiều phải lênh đênh ».
Theo chuyên gia Gary Li, « Việt Nam không cần phải so sánh số lượng tàu của mình với Trung Quốc, mà nên áp dụng chiến thuật du kích của mình trên biển khơi. Một chiến lược phi đối xứng, kèm theo với việc liên minh đúng lúc với các đối thủ của Trung Quốc, sẽ đặt Việt Nam vào một vị trí tốt trong cuộc tranh chấp tới đây. »
Chuyên gia Brian Benedictus thì đã xem xét kỹ lưỡng đặc tính của các chiến hạm lớp Gepard , Molniya của Việt Nam cũng như của tàu ngầm kilo, để cho rằng các thiết bị mới này giúp Việt Nam tăng cường năng lực tung lực lượng ra Biển Đông, « giáng cho tàu Trung Quốc những tổn thất lớn, điều mà Bắc Kinh phải tính toán trước khi quyết định thách thức Hải quân Việt Nam ».
Đối với ông Benedictus, tàu ngầm kilo của Việt Nam có tiềm năng phá hoại đội tàu của đối phương bằng nhiều cách khác nhau, nhất là khi năng lực chống tàu ngầm của Trung Quốc còn kém cỏi.
Việt Nam có năng lực bắt Trung Quốc trả giá đắt nếu gây hấn
Tóm lại các chuyên gia kể trên, cùng với nhiều người khác đều cho rằng dù ít, nhưng Việt Nam hiện có được những loại vũ khí có thể gọi là « đặc trị » chống Trung Quốc, cộng thêm với yếu tố « địa lợi », tất cả những yếu tố đó lăm tăng giá trị răn đe của chiến lược quốc phòng Việt Nam đối với Trung Quốc.
Kết luận của giáo sư Thayer khá lạc quan cho Việt Nam. Theo ông, nếu tính toàn bộ số vũ khí đã mua và sắp mua, hệ thống vũ khí của Việt Nam « sẽ bắt Trung Quốc phải trả giá rất đắt nếu gây chiến trong khu vực rộng từ 200 đến 300 hải lý, trải dọc theo bờ biển Việt Nam… Ngoài ra, Việt Nam còn năng lực tấn công căn cứ Hải quân chủ yếu của Trung Quốc tại Tam Á, trên đảo Hải Nam, và các cơ sở quân sự trên đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa ».
From : Trọng Nghĩa (RFI)
http://www.ijavn.org/2014/09/vu-khi-viet-nam-u-suc-ran-e-trung-quoc.html
***********
Việt Nam Hậu 981
Việt Nam của hôm này rất khác so với Việt Nam của đầu tháng 5. Tôi thậm chí dám khẳng định vào thời điểm lịch sử đặc biệt này, Việt Nam có những cơ hội tốt để xoay trục tới một tương lai thực sự độc lập, dân chủ, và tự do.
Có những thời điểm mà lịch sử chạy nhanh hơn bình thường. Chúng ta đang sống trong một thời điểm như thế. Trong thời gian từ đầu tháng 5 đến nay, Việt Nam đã có những thay đổi quan trọng trong nền chính trị của đất nước. Tôi thậm chí dám khẳng định rằng có khả năng Việt Nam đã bước vào giai đoạn chính trị có tính quyết định nhất kể từ năm 1975. Tất nhiên những biến chuyển tôi đang đề cập liên quan đến những hành động phi lí của Bắc Kinh trên biển và, cụ thể hơn, những tác động của nó đối với nền chính trị của Việt Nam, gồm cả chính trị nội bộ của đảng cầm quyền và xã hội Việt Nam.
Phải cười một chút khi viết những từ “tôi dám khẳng định có khả năng.” Viết thế để vừa nêu một cách mỉa mai những khó khăn mà chúng ta thường gặp trong việc phân tích chính trị ở Việt Nam và vừa nêu tình trạng đầy cơ hội nhưng không có gì chắc chắn của tình trạng đất nước đang đối phó hiện nay.
Đánh giá tác động của những sự kiện xoay quanh “vụ 981” và những kết quả của nó gặp hai trở ngại lớn, làm cho chúng ta khó có thể đánh giá tầm quan trọng hay ý nghĩa lịch sử của giải đoạn này. Lý do thứ nhất, chúng ta chẳng có khả năng để dự báo tương lai, như nhà bình luận Cao Huy Thuần đã tìm hiểu trong một bài đáng đọc gần đây. Tình trạng còn biến chuyển nhanh và phức tạp. Tình trạng có quá nhiều “biến số,” gồm cả động thái của Bắc Kinh, những phát triển trong quan hệ Việt-Mỹ, Việt-Nhật, v.v., những biến chuyển và sự kiện trên biển, và những chuyển động chính trị ở Việt Nam cả trong lẫn ngoài bộ máy.
Lý do thứ hai chính là sự thiếu minh bạch (nếu không muốn nói là tính mờ đục) của nền chính trị cấp cao Việt Nam mà, đến nay, làm cho ai – trừ khoảng 0,00001 % người Việt Nam (cũng như tôi) – rất khó phân tích rõ tình trạng. Kể cả những nhà phân tích giỏi nhất vẫn phải dựa vào những suy đoán và những từ như “có thể”, “rất có thể”, “có khả năng”, “có thể tưởng tượng”, vân vân… Đối với giới nghiên cứu hay bình luận về chính trị ở Việt Nam, chẳng có ai tránh khỏi được trở ngại này.
Vậy, bất chấp những hạn chế trên, suy ngẫm về những biến chuyển, những thay đổi, và những gì mà chúng ta chưa biết được về Việt Nam hậu 981 vẫn có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những khả năng, cơ hội, và rủi ro đất nước đang đối diện. Cũng có thể góp phần một chút đến những thảo luân đang tiếp diễn ở Việt Nam. Ở đây, tôi sẽ đề cập một cách ngắn gọn đến vài lĩnh vực then chốt. Cuối cùng, tôi sẽ đặt ra một số câu hỏi mà “cũng có thể” (hihihi!) mang tính quyết định cho phương hướng của đất nước.
Chính trị nội bộ cấp cao
Hiện này người dân Việt Nam các cấp và mọi nơi đang rất muốn hiểu rõ về những quan điểm và những quyết định của 16 người có quyền nhất, tức là Bộ Chính Trị ĐCS Việt Nam. Muốn biết họ đã làm gì hay sẽ làm trong tương lai gần. Về việc này đã có nhiều bài phân tích các loại, từ những bài báo và blog của những nhà Bình Luận Việt Nam từ những bài của giới “học giả” và “chuyên gia” về Việt Nam. Chúng ta có thể kết luận gì?
Trên cơ sở những gì được biết, nghe, và suy đoán, tôi thấy Việt Nam hiện nay không chỉ là “sẵn sàng” mà là đang làm những bước đI có tính quyết định để đối phó với tình hình mới. Tôi suy đoán BTC đã hiện này còn sẵn sàng để kiện Bắc Kinh nếu không có một thay đổi lớn trong động thái của nó. Và tôi biết BTC đang nỗ lực để nâng cấp mạnh mẽ những mối quan hệ chiến lược mới với hai nước chủ chốt là Mỹ và Nhật. Tất nhiên còn qua sớm để biết những việc trên sẽ có nghĩa gì. Dù vậy, tôi cũng như nhiều người khác tin rằng đã và đang có một sự thay đổi rõ nét.
Về khả năng ‘giới bảo thủ’ chưa có muốn hay thay đổi hay chưa có đủ dũng cảm để thay đổi tôi cũng có vài suy nghĩ. Cơ bản nhất là chủ quyển của đất nước đang bị thắc thức trực tiếp. Thứ hai Việt Nam sẽ có nhiều lợi về nhiều mặt nếu có những thay đổi thế chế. Khác so với trước, gần như là không còn khả thi để giữ lập trường 4 -16 một cách công khai. Người Việt Nam ở khắp nơi đang rất bức xúc. Họ muốn một quan hệ mới với Trung Quốc. Họ muốn minh bạch ngay lập tức về mọi việc từ 1990 đến nay.
Ngành và hành động ngoại giao
Lĩnh vực ngoại giao của Việt Nam đang có những thay đổi quan trọng. Ngoài hàng loạt nỗ lực để bàn với Bắc Kinh, đã có những lúc làm cho chúng ta thấy Việt Nam đang thay đổi. Thích hay không thích Nguyễn Tân Dũng, bài của Ông ở Manila có một tình thần mới. Thích hay không thích, rõ ràng Việt Nam đã và đang nâng cấp quan hệ với hai ba nước trong và ngoài khu vực: Philippines, Nhật, và “đế quốc” Mỹ.
Trong những tháng 5, 6, 7 có nhiều người nghi ngờ về sự chậm phát triển của mối quan hệ Việt-Mỹ. Còn ai vẫn nghĩ thế? Những suy đoán mãi về Việc Phạm Bình Minh đã hoãn lại chuyến đi, trong khi đó Ông Phạm Quang Nghị lại sang Mỹ có vể là không còn quan trọng lắm. Quan trọng là những thảo luận giữa ĐCSVN và Hoa Kỳ mạ đang xảy ra ngay vào những ngày nay là những thảo luận hứa hẹn nhất trong lịch sử của hai nhà nước.
Chúng ta có ly do để hy vọng sự phát triển của những mối quan hệ song phương sẽ tạo ra những cơ hội tốt cho Việt Nam để đề cập và giải quyết những vấn đề về thể chế mà đến nay vẫn cứ là rào cản ngăn chận con đường của Việt Nam tiến tới một vị trí mạnh hơn. Những thảo luận giữa Việt Nam và Mỹ, Việt Nam và Nhật, v.v…
không phải là chỉ “có khả năng” để mang lại thay đổi, nó đang tác động sâu sắc đến toàn khu vực.
Về mặt quân sự
Chuyến đi sang Việt Nam của Tướng Martin Dempsey, sĩ quan cấp cao nhất trong cả lực lượng vũ khí Mỹ và là Chủ tịch chỉ huy Tổng tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ là dấu hiệu mới nhất là những quan hệ quân sự giữa hai nước chứng tỏ đang có những biển đổi nhanh và sâu. Đối với động thái của phía Việt Nam, còn chưa rõ.
Những mặt bề ngoài chưa chắc có ích gì trong việc nắm hiểu tình hình. Lấy ví dụ, sự miễn cưỡng của những đại tướng Việt Nam để nói mạnh hay nhảy một cách công khai vào một trận đương đầu với Bắc Kinh chưa chắc là khôn ngoan. Đồng ý, riêng về mặt quan hệ quốc tế Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh là chuẩn hơn.
Trong những tháng tới, chúng ta sẽ thấy Mỹ xóa một số ràng buộc trong cấm vận vũ khí đối với Việt Nam . Thực ra, việc toàn khu vực đang rơi vào một quá trình quân sự hóa là rất đáng buồn về nhiều mặt. Ít nhất nó phản ánh sự thực là niềm tin trong khư vực đã mất đi cực nhanh và hàm ý những số tiền khổng lổ sẽ bị trệch đi từ những mục đích phục vụ dân sự. Song, làm gì khi nước láng giềng có những động thái thực sự táo bạo bằng vũ lực như hiện nay?
Kinh tế
Trong lĩnh vực kinh tế, chúng ta thấy những nguy cơ và cơ hội rõ hơn. Có bạn nhận định, những hành vi và thái độ của Bắc Kinh đã bắt buộc giới lãnh đạo Việt Nam xem xét phương hướng lâu dài của nền kinh tế. Trong những tháng qua cho đến này, những nhà phân tích nhà kinh tế của Việt Nam (trong và ngoài nước) đang tìm hiểu những vấn đề này qua nhiều mặt. Cho đến nay, quan hệ kinh tế giữa hai nước đã mang lại cả những nguồn lợi quan trọng lẫn những chuyện không hay. Bên cạnh những nỗ lực để không cho phép những căng thẳng trên biển tắc động xấu đến quan hệ kinh tề, cần có và đang có những phương án cặn kẽ khác nhau để kịp đáp ứng cho mọi kịch bản.
Ở đây xin chia sẻ ba quá trình quan trọng mà đang tiếp diễn. Một, trong bối cảnh hiện nay, giới lãnh đạo Nhật Bản đang xem xét lại chiến lược kinh tế khu vực về mặt lâu dài. Mất an ninh, mất tự do đi lại trên những biển Đông Á và Đông Nam Á là một đe dọa cực lớn đối với cả nước Nhật, Hàn Quốc, và Philippines và quá đó, và là một sự đe dọa mà Mỹ sẽ không thể nào bỏ qua. Đã đến lúc phải có những cải cách kinh tế thực tế. Cứ tiếp tục nói “đổi mới” là không đủ vào thời điểm lịch sử này.
Xã hội dân sự và “Phạm vi công”
Một nhà nước dân chủ và văn minh là một nhà nước hết sức nghiêm túc trong việc bảo vệ và thúc đẩy những quyền con người. Hiện nay là lúc đất nước Việt Nam sẽ phải bắt đầu phát triển một nhà nước như thế. Khác so với trước, có những khuyến khích mạnh để tập trung vào việc ấy. Quan trọng ở đây không chỉ là “chấp nhận” xã hội dân sự mà là bảo vệ và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nó, làm cho nó phát triển một cách đa dạng, phong phú, thành một sức mạnh của đất nước.
Nói thế có quá lạc quan? Cũng có thể và cũng có thể không. Những thái độ và hành động đàn áp còn chưa được xóa. Những tù nhân lương tâm còn chưa được thả.
Mặt khác, trong những tháng vừa rồi sự phát triển của cái gọi là “phạm vi công” (public sphere) đã có những dấu hiệu hứa hẹn, từ những thư ngỏ của các Đảng viên kỳ cựu cho đến sự thành lập của Việt Nam Thời Báo. Trong những tuần tới chúng ta có thể chờ đợi xem những ai được thả nữa. Nếu không có ai thì …. thôi… lại phải… chờ xem.
Trên đường dân chủ hóa, trật tự xã hội là một yếu tố quan trọng. Trong một xã hội văn minh, một người như Trần Nhật Quang hay Đỗ Thị Minh Hạnh đều có quyền để bày tỏ quan điểm của họ một cách ôn hòa và cũng không có quyền để lạm dung quyền của bất cứ ai cả. Hành vi đàn áp là hành vi phong kiến và lỗi thời cần phải xoá bỏ. Hãy thay đổi một cách làm cho thế giới xem Việt Nam là một nước đang thay đổi, một nước nên thông cảm và ủng hộ.
Liệu có cách nào cho những thành viên của xã hội dân sự ở Việt Nam được tuyên bố một cách công khai những cam kết của họ để cho chính quyền biết, dù có những bất đồng cần phải bàn thảo, cùng quyết tâm giữa trật tự và tuyết đối bác bỏ mọi hành vi bạo động. Liệu có cách nào để Nhà nước tuyên bố sẽ có một cuộc đối mới thực sự trong việc bảo vệ và thúc đầy quyền con người? Như chính N. Mandela đã nói: Mọi sự có vẻ như bất khả cho đến khi nó xảy ra.
Kết luận
Trong những tháng qua đã có nhiều người ở khắp nơi, từ mọi thành phần nói hay cảm thấy xã hội của đất nước ‘phải thay đổi.’ Thực ra, Việt Nam hiện nay chắc chắn là đang thay đổi; thay đổi để thích nghi với một môi trường chiến lược mới.
Đáng tiếc, cho đến nay, chúng ta còn quá hạn chế trong việc hiểu rõ về những thảo luận đang tiếp diễn ở những cấp cao nhất của nền chính trị đất nước. Trong khi đó, còn quá sớm để đánh giá tầm quan trọng của những thay đổi mà đã, đang, và sẽ tiếp diễn. Song, Việt Nam của hôm này là rất khác so với Việt Nam của đầu tháng 5.
Tôi thậm chí dám khẳng định vào thời điểm lịch sử đặc biệt này, Việt Nam có những cơ hội tốt để xoay trục tới một tương lai thực sự độc lập, dân chủ, và tự do.
From : Jonathan London ( BA Sam ),......