Chế độ buôn dân, bán nước
Song Chi (NV) - Sau khi chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, một trong những điều mà nhà cầm quyền Việt Nam đang rất mong muốn và đã từng nhiều lần bày tỏ mong muốn đó, Hà Nội liền đáp lại bằng cách “xuất kho” một vài tù nhân chính trị.
Nhưng vì không hề có thiện chí muốn cải thiện nhân quyền mà chỉ vờ vĩnh bên ngoài, và với bản chất hèn hạ, thù dai, luôn sợ hãi mọi thứ, nhà cầm quyền đã không cho Điếu Cày có được niềm hạnh phúc gặp lại gia đình, bạn bè sau thời gian dài bị cầm tù hơn 6 năm, cũng như được sống giữa quê hương.
Họ đã vội vã, lén lút áp giải Điếu Cày từ nhà tù thẳng ra phi trường bay tuốt qua Mỹ, không thể chào tạm biệt ai và cũng không được mang theo bất cứ hành lý gì. Không có từ ngữ gì mô tả chính xác hơn là Điếu Cày đã bị trục xuất, bị tống khứ như một tội phạm nguy hiểm nhất, và cũng không có hành động nào lột tả được bản chất của nhà cầm quyền hơn nữa, trước dư luận trong nước và quốc tế.
Thay vì tiếp tục giam cầm, họ buộc những người yêu nước phải sống một cuộc đời lưu vong, tiếp tục cách trở gia đình, người thân, bạn bè và gần như vô hiệu hóa ảnh hưởng của người đó khi bị tách khỏi quê hương.
Có vẻ như đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đang rất biết cách sử dụng “nguồn tài nguyên” tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị.
Thật ra thì lâu nay họ vẫn dùng việc thả những người bất đồng chính kiến, hoạt động dân chủ để đổi chác, mặc cả với Hoa Kỳ và các nước phương Tây những thứ họ cần. Như hiện tại là mong muốn được gia nhập Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement, viết tắt là TTP) và được Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương.
Ngẫm ra, không chỉ tài nguyên thiên nhiên cho đến lãnh thổ lãnh hải là nguồn lợi to lớn tha hồ khai thác, bán rẻ…mà người dân cũng là nguồn tài nguyên vô tận được nhà nước này tận lực khai thác, theo nhiều cách khác nhau.
Nguồn lợi thứ nhất đến từ hàng triệu kiều bào từ khắp nơi trên thế giới, những con người mà mấy chục năm trước đã phải rời bỏ đất nước ra đi một phần sống chín phần chết chỉ vì những chính sách cực kỳ hà khắc và hoàn toàn sai lầm về mọi mặt của nhà cầm quyền.
Có giai đoạn nhà nước còn đứng ra thu tiền, vàng của người dân để cho phép họ vượt biên theo con đường “bán chính thức”. Cái kiểu kiếm tiền ấy đã đem lại cho nhà cầm quyền một số lượng tiền, vàng không nhỏ để giải quyết bao nhiêu vấn đề khó khăn về kinh tế thời kỳ đầu sau chiến tranh.
Sau khi họ đã xài hết 16 tấn vàng là ngân khoản dự trữ của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cất trong Ngân hàng Quốc gia Việt Nam để lại và bao nhiêu thứ hàng hóa, chiến lợi phẩm sau chiến tranh. Phần thì do tiêu xài như phá, phần thì đem đi trả món nợ chiến tranh cho Liên Xô, Trung Cộng, và các nước trong khối XHCN.
Để rồi hai mươi, ba mươi năm sau, hàng triệu con người buộc phải rời khỏi đất nước sống tha hương khắp thế giới ấy lại trở thành một món lợi lớn cho nhà cầm quyền về nhiều mặt. Trước hết là lượng kiều hối do đồng bào gửi về, theo báo chí trong nước, lên tới khoảng 10 tỷ USD hàng năm, chiếm gần 1/10 GDP. Nếu không có lượng kiều hối đó, nền kinh tế èo uột của Việt Nam sẽ còn khó khăn hơn rất nhiều.
Và nguồn nhân lực, chất xám trong nhiều lĩnh vực khác nhau, được đào tạo bài bản từ những quốc gia tiên tiến nhất, mà nhà nước lại không phải mất một xu nào.
Nguồn lợi thứ hai đến từ chính sách “xuất khẩu lao động” của nhà cầm quyền. Ngay cái tên gọi cũng có thể thấy rõ bản chất của sự việc không có gì khác hơn là buôn người một cách công khai, hợp pháp.
Nhà cầm quyền thông qua chính sách xuất khẩu lao động đã đẩy hàng trăm ngàn, hàng triệu người dân đi làm thuê ở các nước để đổi lấy ngoại tệ, nhưng lại không quan tâm đến việc chăm lo bảo vệ cho họ. Người lao động Việt buộc phải làm việc trong những điều kiện hết sức tệ hại, thiệt thòi nếu so với lao động của một số nước khác.
Bản thân mỗi người hầu hết đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thường phải vay nợ đế chạy được một “xuất” đi lao động ở nước người, nên phải chấp nhận tất cả để có tiền trả nợ và giúp gia đình ở nhà.
Nguồn lợi thứ ba đến từ việc “xuất khẩu cô dâu”, những cô dâu Việt ngây thơ từ những miền quê nghèo, khao khát ra đi đế đổi đời, để có tiền giúp đỡ người thân và do đó, họ cũng đóng góp vào khoản ngoại tệ thu vào cho đất nước.
Tất cả những đồng ngoại tệ kiếm được từ mồ hôi, nước mắt, máu và lắm khi cả bằng mạng sống của con dân Việt, cay đắng thay, lại thường được sử dụng một cách hoang phí bởi một nhà nước kém cỏi, bất tài trong việc điều hành nền kinh tế quốc gia nhưng lại nổi tiếng bởi tham nhũng và lãng phí.
Cuối cùng là việc buôn bán, đổi chác tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị để đổi lấy những thứ mà nhà cầm quyền mong muốn từ Hoa Kỳ và các nước phương Tây.
Không có gì chính xác hơn cụm từ “buôn dân bán nước” dành cho nhà nước cộng sản Việt Nam. Đất nước thì bị bán rẻ từ tài nguyên thiên nhiên cho tới lãnh thổ lãnh hải mất dần vào tay Trung Cộng. Bán sạch tài nguyên, bán luôn một phần lãnh thổ, bán luôn con dân. Đến khi không còn gì để bán mà nợ nần cứ càng ngày càng tăng, thì còn có cách gì khác hơn là tự nguyện nhượng luôn cả đất nước này cho nước láng giềng đầy hung hăng, tham vọng?
**************
BÁN ĐẤT, BÁN NƯỚC, BÁN CẢ ĐƯỜNG ĐI
Đi trên những bãi biển đẹp mênh mông của nước Mỹ tôi từng ngậm ngùi nghĩ đến nhiều bờ biển rất đẹp của Việt Nam đã bị kẻ cầm quyền đem bán, đến nỗi không nói đến việc tìm ra đường lội xuống nước để bơi là bất khả thi, muốn đi dạo chơi trên cát cho thư thái chốc lát cũng không được nữa. Bây giờ, đám chức sắc đã xướng lên việc bán đường đi. Nghĩa là các vị ấy đã túng quẫn lắm rồi đấy, bao nhiêu thứ bán được trước đây, con cái, phe nhóm họ đã ăn tiêu bằng sạch. Chao ôi, nghĩ đến mà thấy cảm thương!
Lại nhớ chí sĩ Phan Bội Châu, ông có viết trong cuốn Việt Nam vong quốc sử chuyện thực dân Pháp lừa dân chúng ở một vùng quê nọ bán trời cho chúng. Bán xong thì ngồi trong nhà cũng là ngồi vào trời của Đại Pháp, đi ra sân cũng là đi trong trời của Đại Pháp, cùng cực đến nỗi lại phải cùng nhau vét sạch sành sanh của cải để đi chuộc trời về. Với tình thế này, dám chắc người dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng sắp đứng trước thảm họa bị bán trời đến nơi, bởi các ông ấy đã như những con nghiện hêroin thời kỳ cuối, có gì mà không bán chứ.
Các ông các bà Dương Nội và tất cả bà con những vùng miền bị cướp đất trắng tay trong nước ta ơi! Xin hãy tính trước sớm đi, mất đất thì vẫn kéo nhau đi ăn xin được, còn mất đường thì đội quân bị gậy biết đặt chân vào đâu để hành nghiệp? Chắc phải xắn cao quần lội xuống các bờ mương mà đi rồi. Nhưng đến khi mất trời thì nguy quá, chắc phải tìm sông lạch mà lặn mà vùi, chỉ để hở hai con mắt là còn yên thôi.
Âu cũng là cái số trời đã định từ khi ông lạc Long Quân chia tay với bà Âu Cơ. Đang yên lành trên mảnh đất trung du của mình, bỗng hứng lên đem 50 con đi tuột xuống nước mà ở. Kể ra, Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa và phát huy truyền thống lịch sử 4000 năm đến thế là tuyệt đỉnh. Cực lực hoan hô!
Phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập cần sự hợp tác đầu tư với nước ngoài là đương nhiên. Hơn thế nữa, cần phải sử dụng công nghệ, học hỏi kỹ năng quản lý, và tận dụng vốn của nước ngoài để thu được lợi ích nhiều nhất, nhưng phía mình lại bị tổn thất ít nhất. Đó là bài toán tối ưu cửa miệng. Ai cũng nói được nhưng không phải ai cũng làm được.
Nhìn lại thực tế những gì mà chúng ta đã làm từ khi bắt đầu chính sách mở cửa trong suốt hai mươi năm qua, thì rút ra được một số kết luận cay đắng sau đây.
1. Chúng ta không thu được gì nhiều và không học được gì đáng kể ngoài việc đã bán đi tất cả những gì có thể bán
Bán đất
Những vùng đất đai có phong cảnh đẹp hay đắc địa đều được bán cho người nước ngoài đầu tư, thời hạn thông thường là năm mươi năm. Nếu họ mang tiền đến phát triển sản xuất thì còn khả dĩ, nhưng phần lớn đó là các dự án dịch vụ, địa ốc. Nghĩa là họ lấy đất xây nhà để bán cho chính người Việt Nam, và tổ chức các dịch vụ để thu tiền của chính người Việt Nam. Tiếc thay, các dự án bán đất kiểu này, có thể mang lại sự phát triển bề mặt, nhưng không mang lại giàu có bền vững đích thực làm cho đất nước hùng cường.
Lấy một thí dụ điển hình như thành phố Đà Nẵng. Không phủ nhận sự thay đổi khang trang của thành phố và đời sống người dân phần nào cải thiện trong thời gian đổi mới. Nhưng sau hai mươi năm mở cửa hội nhập, nền công nghiệp Đà Nẵng có được những gì đáng giá? Từ thí dụ của Đà Nẵng để mà suy nghĩ và không thể không xót xa về sự phát triển của đất nước.
Bán tài nguyên
Không cần phải liệt kê cụ thể. Không có loại khoáng sản nào mà chúng ta không nhanh chóng đem bán. Thậm chí đến khoáng sản khai thác lỗ và mang lại nhiều hậu quả tai hại như bô xít Tây Nguyên mà cũng vội vã đem bán tất.
Bán nước
Không chỉ bán khoáng sản, không chỉ bán rừng, mà chúng ta bán cả nước sông hồ và biển. Nhiều hồ đều bị bán quyền sử dụng khai thác trong nhiều năm. Ở Vũng Áng chúng ta bán đi cả hàng ngàn héc ta biển. Đến Vịnh Hạ Long cũng có người muốn bán quyền sử dụng khai thác. Bán đất, bán rừng, bán tài nguyên khoáng sản và bán cả nước.
2. Chúng ta đã bán một cách vội vã lấy được
Nếu bán có chọn lọc cân nhắc thì còn chấp nhận được, nhưng dưới bình phong đầu tư phát triển, chúng ta đã bán tràn lan khắp mọi nơi có thể. Nguyên nhân là nhiệm kỳ lãnh đạo chỉ có hạn, nên trong nhiệm kỳ phải tìm mọi cách để bán bằng được các dự án đất đai và tài nguyên. Hiện tượng này phổ cập ở tất cả các tỉnh thành, từ trung ương cho đến tỉnh huyện xã.
Chẳng hạn, mỏ sắt Thạch Khê Hà Tĩnh chưa khai thác bây giờ thì đời cháu chắt hay nhiều trăm năm sau sẽ khai thác cũng chưa nuộn. Vội vã chi mà phải hấp tấp bán cho nhà đầu tư Đài Loan Trung Quốc với những ưu đãi đặc biệt và ẩn chứa những hậu quả an ninh khôn lường? Tại sao người Đức người Pháp không đầu tư mà lại là người Trung Quốc?
Lãnh đạo Hà Tĩnh và Chính phủ Việt Nam có ý thức rằng mình đã vội vã bán rẻ mạt tài nguyên mà cha ông để lại từ ngàn đời? Người Đức người Nhật có làm giàu bằng cách bán tháo tài nguyên của tổ tiên để lại hay không? Lãnh đạo Việt Nam có biết không khi chính người Trung Quốc đang đi mua tài nguyên các nước khác thì họ lại đang chắt chiu để dành nguồn tài nguyên trong nước?
3. Chúng ta đã bán dài lâu đến hết cả đời cháu chắt
Vũng Áng đã được cho thuê 70 năm. Nghĩa là nếu bố và mẹ lúc 61 tuổi nghỉ hưu đã cho thuê đất 70 năm, thì con 41 tuổi, cháu 21 tuổi và chắt 1 tuổi, đợi đến 70 năm sau đều không được quyền sử dụng đất. Lúc đất được trả về thì chắt đã 71 tuổi, và người chít đời thứ 5 cũng đã 51 tuổi, mới được nhận lại quyền sở hữu đất!
Vậy mà có người còn dự định bán đất 99 năm, và thậm chí là 120 năm.
Nếu cha ông đều bán đất kiểu đó thì thế hệ bây giờ ở đâu?.
4. Không chỉ bán đất bán nước chúng ta đang bán cả đường đi
Ai cho phép Bộ giao thông vận tải và VEC bán đường?
Những ngày gần đây báo chí đồng loạt đưa tin rằng Tổng công ty phát triển đường cao tốc Việt Nam đang chuẩn bị bán một số tuyến đường cao tốc. Thoạt nghe đã rùng mình.
Khi bán đi những khu đất, những cánh rừng, người dân buộc phải di cư sang những nơi khác, dẫu là hẻo lánh cằn cỗi, nhưng vẫn còn có chỗ để ở và mưu sinh.
Khi bán đi hồ nước sông ngòi và cả từng vùng biển, người dân phải dạt sang vùng nước khác, dẫu sóng gió nguy hiểm, nhưng vẫn còn có chỗ để mò cua bắt cá mà tồn tại.
Nhưng nay lại bán đi cả đường sá, quyền đi lại của người dân không còn nữa. Không thể ngồi ở nhà, mà muốn đi ra thì phải trả tiền theo giá tùy tiện. Ngày xưa đường nhỏ gồ ghề, chịu khó còn đi được. Nay đường to rộng nhưng không có tiền đành phải bó chân.
Nói một cách cụ thể hơn. Ở thôn có con đường làng dân vẫn đi lại. Nay bỗng chốc trưởng thôn bán cho người khác xây to hơn. Ai muốn đi phải trả phí theo giá của chủ mới. Nếu không phải lội xuống ruộng vượt rào hay tìm đường mà đi.
Bởi vậy, người dân có quyền thét to lên rằng:
Hãy trả đường cho dân đi, nhỏ hay xấu cũng là đường của dân, tại sao lại lấy mất đường của dân rồi bắt dân muốn đi thì phải trả tiền theo giá tùy ý của các ông?
Trong số tiền mà các ông xây dựng đường có bao nhiêu tiền thuế dân đóng?
Trong số tiền mà các ông xây dựng đường dân sẽ phải gánh chịu bao nhiêu nợ?
Ai cho các ông quyền lấy đất của dân làm đường rồi lại bán cho người khác?
Có ai trong Bộ Giao thông Vận tải đặt ra những câu hỏi tương tự?
Xây dựng đường cao tốc hình thức BOT ở đâu ?
Hệ thông giao thông là huyết mạch của quốc gia. Nó không chỉ là huyết mạch về kinh tế mà còn là huyết mạch an ninh quốc gia. Bởi vậy quốc gia phải nắm quyền kiểm soát hệ thống giao thông chứ không thể là người nước ngoài.
Nếu VEC bán đường cao tốc Lào Cai – Hà Nội cho người nước ngoài, thí dụ là Trung Quốc, thử xem điều gì sẽ xẩy ra? Trong vô vàn khả năng có thể, chỉ xin nêu ra vài điều:
- Lệ phí có thể lên cao ngất phục vụ cho lợi ích của chủ mới, bất chấp thiệt thòi của dân địa phương.
- Dùng lệ phí để cản trở, hoặc điều tiết luồng giao thông, chủng loại giao thông, thời gian giao thông theo ý định của chủ đường. Chẳng hạn như: xe Trung Quốc có thể có lệ phí khác với xe Việt Nam, xe quân sự khác với xe dân sự, xe chở lương thực khác với xe chở khách, xe chạy đêm khác với xe chạy ngày…
- Khai thác đường tối đa, thu hồi vốn thật nhanh, bàn giao lại cho nước sở tại con đường nát rách không thể sử dụng.
- Nắm được số liệu, quy luật, và thực tế dòng vận tải giao thông của một vùng lãnh thổ nước khác.
- Nước sở tại mất quyền chủ động trong những trường hợp thiên tai, nhân đạo, chiến tranh…
Bởi vì thế, các quốc gia rất hạn chế trong việc cho người nước ngoài tham gia xây dựng giao thông dưới dạng BOT. Muốn cho các đối tác nước ngoài tham gia xây dựng giao thông dưới hình thức BOT, nước sở tại rất cân nhắc trên các phương diện sau:
- Chọn tuyến đường thúc đẩy phát triển được kinh tế cục bộ (chẳng hạn của một hòn đảo, một đặc khu, một phần thành phố…)
- Chọn tuyến đường ngắn đầu tư đắt, chủ yếu là rút ngắn thời gian đi lại, tăng lưu lượng giao thông đột biến, vì thế có thể xây dựng nhanh và thu hồi vốn theo đúng thời hạn.
- Tuyến đường thường chỉ có giá trị cục bộ và không là duy nhất.
- Tuyến đường ít phương hại đến an ninh quốc gia.
- Tuyến đường BOT phải được thông tin đầy đủ và rộng rãi cho các đối tác thừa năng lực, trong một thời gian đủ dài trước khi triển khai, để đối tác tìm hiểu nghiên cứu, cũng như để nước sở tại có nhiều đối tác tiềm năng cho việc chọn lựa.
VEC có bán đúng giá?
Phải thẳng thắn nêu ra những nhận xét sau khi giao cho VEC bán đường cao tốc:
1. VEC không đủ tầm và năng lực để đánh giá lựa chọn đối tác.
2. VEC không có khả năng xác định đúng giá.
3. VEC không bán đúng giá vì lợi ích cục bộ.
Một thực tế đáng buồn cho Việt Nam, ở nhiều nơi trong các cơ quan nhà nước, là cấp trưởng phải quay lại hỏi cấp phó, cấp phó phải quay lại hỏi chuyên viên.
Tờ giấy nhắc Thứ trưởng con số 34. 000 tỷ cho sách giáo khoa, cũng như 2 tỷ USD đầu tư sân bay Long Thành của ADPi “do nhầm lẫn đánh máy” là những dẫn chứng cay đắng, rằng người lãnh đạo chẳng nắm được bản chất vấn đề.
Bán quyền thu phí đường – rước người ngoài đến bóc lột
Khi không có tiền thì phải kêu gọi đầu tư dưới hình thức BOT. Điều lạ ở Việt Nam là xây dựng xong đường cao tốc lại bán cho người ngoài quản lý khai thác. Ở đây có hai điều có thể nói là “thông minh” khác người.
Một là, đã đầu tư xong chỉ quản lý thu phí, tại sao VEC lại phải bán quyền thu phí cả gói. Tiếng là lấy vốn để đầu tư nơi khác, nhưng kỳ thực còn một lý do nữa quan trọng hơn nhiều. Đó là khi bán trọn gói, có thể đút túi phần trăm một tổng tiền lớn một lần và mất hút. Còn chờ thu phí hàng năm mới lấy được một phần lời, thì đến bao giờ cho xong. Hơn nữa, nhiệm kỳ có hạn, các nhiệm kỳ sau là của người khác. Quả đúng là một quyết sách “thông minh” khác người.
Hai là, nhà đầu tư nước ngoài khi trả một gói để lấy quyền thu phí đường, họ không mang lại lợi ích gì cho kinh tế Việt Nam, vì chính họ không tham gia xây dựng đường như hình thức BOT. Chẳng qua họ trả trước tiền để thu lại gốc và lời theo quyền đặt phí của họ mà người dân Việt Nam là người cuối cùng phải gánh chịu. Đây cũng là một nước cờ khác người. Chỉ không thể gọi là thông minh được, vì thực chất là cõng rắn cắn gà nhà, là rước người về bóc lột dân mình.
Một điều cần lưu ý là nếu VEC là công ty tư nhân, VEC phải mua đất của dân để làm đường, VEC có vốn riêng thế chấp để vay tiền đầu tư, thì VEC muốn làm gì thì làm, VEC muốn bán cho ai với giá nào thì VEC bán.
Nhưng VEC là công ty nhà nước; VEC lấy đất của dân với giá đền bù rẻ mat; VEC lấy tài sản nhà nước thế chấp để vay tiền. Tất cả tài sản của VEC chính là của dân. Vì thế, cả VEC lẫn Bộ Giao thông vận tải không có quyền muốn bán đường cao tốc nào thì bán, muốn bán cho ai thì bán, và muốn bán với giá nào thì bán.
Có ai trong số lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải ý thức được sự khác biệt mang tính nguyên tắc này không?
Từ những điều đã nêu trên, xin được gửi tới lãnh đạo Việt Nam hai kết luận sau đây.
1. Việt Nam không cần sự phát triển vội vã bằng cách bán hết mọi thứ
Chúng ta muốn trở thành con rồng. Chúng ta muốn có tốc độ phát triển GDP nhanh nhất châu Á. Hậu quả là chúng ta bán vội vã, bán tống tháo những gì có thể bán được để mua lấy một sự phát triển bề ngoài giả tạo. Người xưa đã dạy, muốn tiến nhanh thì phải đi chậm. Xin hãy nhớ kỹ điều này.
2. Chính sách “Sở hữu đất đai toàn dân” là căn nguyên dẫn đến sự tàn phá nền kinh tế quốc dân và làm phương hại đến an ninh quốc gia.
Ai cũng thấy tại vạ của chính sách sở hữu toàn dân. Bán đất bán rừng bán tài nguyên bán đường đi bán nước, bán nhiều năm cho đến tận đời cháu chắt chít – tất cả là do sở hữu đất đai toàn dân mà ra cả.
Rồi sẽ vội vã cổ phần hóa. Tài sản toàn dân sẽ bị các nhóm thâu tóm với giá bất công rẻ mạt. Một thể chế bất công mới đã và đang được hình thành.
Chừng nào chưa xóa bỏ sở hữu toàn dân, nhất là sở hữu đất đai, thì chừng đó đất nước không chỉ bị tàn phá khánh kiệt, mà người dân còn phải quay về thời bị làm thuê bóc lột, chỉ là ở mức độ khác và dưới tấm áo choàng khác mà thôi.
Xin hãy vì quyền lợi quốc gia dân tộc mà dũng cảm tiến hành những cải cách căn bản, trong đó có quyền tư hữu đất đai.
From : Vương Trí Dũng (Ba sam ), Song Chi ,......