“Nước ta dồi dào tài nguyên, khoáng sản”: Dân trắng tay!
“Nước Việt Nam rất giàu và đẹp, có rừng vàng, biển bạc, đất đai phì nhiêu”, câu nói vỡ lòng đầy tự hào trong bài học đầu đời của thế hệ học sinh một thời nay trở thành một câu nói châm biếm cho tệ đào, xới, bới, chặt tài nguyên đem bán của những cá nhân, nhóm người lợi ích.
“Quyết tâm chính trị” và Tây Nguyên hoang tàn
Mới đây, trên báo Dân Trí có dẫn tin về một quốc đảo trù phú, thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới, từng dùng tờ USD để làm giấy vệ sinh, đó quốc đảo Nauru, và sự giàu có ấy đều nhờ vào ra trữ lượng phân chim hóa thạch khổng lồ, được tích thụ qua hơn 1.000 năm tại quốc đảo này.
Gần 20 năm đào tài nguyên tiêu hoang, thu nhập ngân sách phụ thuộc hoàn toàn vào “phân chim” đã khiến quốc gia này trả giá khi nguồn phốt-phát cạn kiệt từ năm 1980. Hòn đảo trở thành bãi phế thải, môi trường cảnh quan bị phá hủy hoàn toàn do các hoạt động khai thác trước đó. Nauru giờ đây sống bằng tiền cho Úc thuê đất.
Những viễn cảnh này của Nauru hiện hữu rõ ở Tây Nguyên, nơi mà rừng được khai thác cạn kiệt để phục vụ những con đường làm giàu ngắn của các đại gia người Việt như Đoàn Nguyên Đức. Theo số liệu thống kê do Cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - NN&PTNT) công bố năm 2013, trong 5 năm (2007-2013), 5 tỉnh Tây Nguyên gồm Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng đã mất đi hơn 129.600 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên mất hơn 107.400 ha, rừng trồng mất trên 22.200 ha. Trung bình mỗi năm, khu vực này bị mất hơn 25.700 ha rừng. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp lợi dụng trồng cao su, dự án thủy điện để phá rừng. Trong khi đó, việc thực hiện Chỉ thị số 1685/CT-TTg, chỉ giúp các tỉnh Tây Nguyên thu hồi và đình chỉ 9.300 ha rừng.
Tây Nguyên cũng là nơi có một dự án khai thác khoáng sản độc nhất vô nhị trên thế giới, khi mà hiệu quả kinh doanh vẫn “lỗ theo kế hoạch” như lời các vị quan chức từng khẳng định. Nơi đây, vào sáng 08/10, hồ thải quặng đuôi số 5, nơi chứa bùn và nước sau khi lắng rửa quặng bô xít tại Xí nghiệp mỏ tuyển bô xít Tân Rai đã tràn ra đường. Lời cảnh báo về thảm họa túi bùn đỏ (ví như trái bom sinh thái tiềm ẩn) có từ năm 2007, ngay khi có với quyết định 167 của ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Thậm chí một nhóm trí thức đã lập ra blog boxitvn với đầy đủ luận cứ để cảnh báo nhưng sớm bị “quyết tâm chính trị” bỏ qua.
Tây Nguyên trở thành bằng chứng điển hình về lối tư duy ăn xổi và sự bắt tay giữa các quan chức với cá nhân nhằm trục lợi bất chính núp dưới chiêu bài “vì sự phát triển kinh tế” ở Việt Nam.
Ảnh vệ tinh đất nước Việt Nam, do Nasa chụp, cho thấy rừng Tây Nguyên đã biến mất!
Sự bắt tay đó phản ảnh một mâu thuẫn kỳ lạ, diễn ra ở bất kỳ địa phương nào có mỏ khoáng sản, tài nguyên thiên nhiên, khi mà chi phí, lợi ích và tác hại của việc khai thác, bán tài nguyên không hề được tính toán một cách đầy đủ. Đó cũng là lý do vì sao xuất hiện những trường hợp giàu nhanh ở Việt Nam mà nơi phát tích sự giàu ấy thường rơi vào trường hợp: môi trường bị phá hoại, mất đất canh tác, xói mòn, sa mạc hóa, ong hóa, lũ lụt...
Nói cách khác, nếu ở quốc đảo Nauru đào tài nguyên, người dân còn được hưởng lợi trong gần 20 năm, thì ở Việt Nam ngược lại, tài nguyên phục vụ cho sự giàu nhanh của một số nhóm người trong và ngoài nhà nước, như quan hệ chặt chẽ giữa “kiểm lâm với lâm tặc”.
Hết tất cả!
Nhiều người khi nhìn lại đất nước sau gần 40 năm thống nhất, thoảng thốt: khi chúng ta hết quặng, không còn than, cạn dầu khí, Việt Nam sẽ phát triển bằng gì? Nhất là khi thông tin về mỏ than Quảng Ninh sắp hết; dầu khí đang giảm dần từ 20 xuống 18 rồi 17 triệu tấn/năm và kết quả là vào năm 2015 trở đi, Việt Nam sẽ nhập dầu thô và than; rừng khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc gần như bị phá sạch, nạn phá rừng hợp pháp đang lan sang Lào, Campuchia…
Một ông chuyên gia phán chắc nịch, chúng ta sẽ “in tiền”, nhưng tiền với mức độ mất giá như hiện nay thì liệu có rơi vào tình trạng như Zimbabwe, nơi mất hơn 100 tỷ đô la (tiền nước này) để mua 1 ổ bánh mỳ?
Điều gì đã khiến cho một đất nước mà tài nguyên dồi dào, con người cần cù, dân số vàng, tiến sĩ nhiều như giấy in (24.000 tiến sĩ) vẫn mãi lẹt đẹt về kinh tế ở mức 42, và hoàn toàn vắng bóng trên bản đồ công nghệ châu lục?
Điều gì dẫn đến việc, rất nhiều doanh nghiệp đã bán giấy phép khai thác khoáng sản được cấp cho Trung Quốc, trong đó, riêng “ở phía Bắc có đến hơn 60% mỏ”, theo lời chia sẻ của ông Nguyễn Văn Thuấn - Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất và khoáng sản (Bộ TNMT) trong buổi đối thoại doanh nghiệp đầu năm nay (2014)?
Đó chẳng phải là vì các lãnh đạo tài tình của ta đã sáng suốt bán tài nguyên thô, áp dụng tư duy nhiệm kỳ, tư duy ngắn hạn chỉ chờ dịp bán tháo đất nước cho bạn láng giềng đó sao? Tư duy đó giống đường cao tốc Nội Bài–Lào Cai với tổng giá trị dự án 1,46 tỷ USD sau hai ngày thông xe đã xuất hiện vết nứt.
Điều đó cho thấy sự yếu kém trong khả năng quản trị quốc gia của cá nhân, tổ chức lãnh đạo, dẫn đến nguồn lực đất nước bị suy giảm nghiêm trọng, làm gia tăng sự lạc hậu, làm nên sự phát triển không theo chiều sâu. Chính vì vậy, nền kinh tế Việt Nam sau bao nhiêu năm phấn đấu với quyết tâm chính trị cao, về cơ bản vẫn là kinh tế gia công, bán tài nguyên, nhập công nghệ mà phần lớn là công nghệ cũ từ nước ngoài, chưa phát huy được năng lực khoa học, công nghệ của quốc gia trên tiềm năng về nguồn nhân lực, tài nguyên, vị trí địa lý. Dẫn đến sự xuất hiện độ lùi về thời điểm công nghiệp hóa sau năm 2020, công nghệ luyện kim phục vụ cho nội địa hóa ô-tô cứ mãi trầy trật, công nghệ hút dầu vẫn đang nhờ vả vào các quốc gia bên ngoài, dịch vụ vẫn thói quen chộp giựt, nhất là trong du lịch.
Đặc biệt, nguồn nhân lực và sự phát triển bền vững trên nền tảng dịch vụ, công nghệ để tiến tới nền kinh tế tri thức, vốn được nhắc nhiều trong các văn kiện đại hội Đảng lại hoàn toàn không được chú trọng. Dẫn đến chỉ số kinh tế tri thức KEI (vốn được dùng để đánh giá sự chuẩn bị của một đất nước đủ điều kiện chuyển sang nền kinh tế tri thức) do World Bank công bố năm 2012, Việt Nam xếp thứ 104/146 nước và vùng lãnh thổ, thuộc nhóm trung bình thấp (KEI 2-4).
Việt Nam trở thành một quốc gia đi làm thuê đúng nghĩa thông qua việc gia công cho các tập đoàn nước ngoài (không được chuyển giao công nghệ), xuất khẩu lao động và… cho thuê đất. Vấn đề nhập siêu, thâm hụt ngân sách và nguy cơ vỡ nợ đang trong tình trạng sẵn sàng.
Năm 2012, trong lần trả lời phỏng vấn Vietnamnet, chuyên gia kinh tế Bùi Văn khẳng định: Thế hệ chúng tôi đã hút gần hết dầu, đã đào gần hết than, đã dùng lưới cào và thuốc nổ khai thác hết cá ở biển, từng đi chặt rừng để bán sang Nhật. Như vậy, cái chúng tôi để lại cho thế hệ sau là gì? Là hết than, hết dầu, hết cá, hết rừng nhưng tôi rất tự hào về cái đó. Bởi vì chúng tôi để lại cho thế hệ trẻ một con đường duy nhất là phải học, là không còn dựa vào tài nguyên thiên nhiên nữa. Đó là điều mà tôi tự hào để lại cho thế hệ sau.
Sự “tự hào” cay đắng? Có lẽ vậy, khi mà một thế hệ đã bán tháo tài nguyên, bỏ tiền vào túi riêng, bỏ qua tương lai thế hệ, và không có dấu hiệu ngừng lại.
Có nên tiếp tục giao phó?
Điều 53 trong Hiến pháp 2013: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.
Sự giao phó tài sản quốc gia cho một Nhà nước quản lý, nhưng bao năm qua hoàn toàn không hiệu quả. Vậy liệu có nên tiếp tục được giao phó nữa hay không?
Trong khi đó, thông tin về việc phát hiện mỏ dầu khí mới ngoài khơi Việt Nam, hay mỏ khoáng sản trên đất liền không làm cho người dân vui mừng, bởi họ biết sự phát hiện đó phục vụ cho ai. Và họ biết chắc rằng, cứ đà này, thế hệ sau sẽ không còn cái gì nữa, ngoài mớ chữ nghĩa tổng kết: Tài nguyên quốc gia đã sử dụng phung phí trong giai đoạn… và nay đã cạn kiệt.
**************
Xây dựng trụ sở hoành tráng là tham nhũng dễ nhất, an toàn nhất, nhanh nhất và... hoành tráng nhất
Tại sao địa phương nghèo nhất nước vẫn có trụ sở hoành tráng, khuôn viên rộng nhất; lớp học không có vẫn chạy theo phong trào xây trụ sở lớn... tiếp tục được các chuyên gia bắt bệnh? Trả lời:
Đầu tiên là do tham nhũng, xây dựng cơ bản là tham nhũng dễ nhất, an toàn nhất, nhanh nhất. Chỉ có những dự án xây dựng mới dễ cài cấy vi rút tham nhũng. Điều này trả lời vì sao VN khó chống tham nhũng.
Thứ hai, là tư duy nhiệm kỳ, thích khoe khoang, báo cáo thành tích.
Thứ ba, xây trụ sở được coi là lối thoát cứu GDP cho các địa phương, mặc dù không nhiều.
***********
Trụ sở hoành tráng:Cuộc so găng "ai to hơn, nhiều tiền hơn..."?
Khi chưa tự chủ được về ngân sách, dân chưa đủ ăn, trụ sở to lại trở thành thứ nghịch dị.
Nghịch lý địa phương nghèo nhất nước vẫn có trụ sở hoành tráng, khuôn viên rộng nhất; lớp học không có vẫn chạy theo phong trào xây trụ sở lớn... tiếp tục được các chuyên gia bắt bệnh.
Biết vô lý vẫn làm?
TS Phạm Tiến Bình – Giảng viên, Tiến sĩ kinh tế, (ĐH kinh tế ĐHQGHN) ví von, trào lưu xây trụ sở của các địa phương giống như cuộc so găng "ai to hơn, cao hơn, đẹp hơn, nhiều tiền hơn....".
Theo ông Bình, cuộc chạy đua nước rút để ai cũng cố có được cái dự án để đời trong mỗi nhiệm kỳ nó giống như câu chuyện một ông bố có mấy người con. Hết tiền lại chìa tay xin, người này xin được người kia cũng xin. Ban đầu xin ít, sau xin nhiều hơn. Xin để chi tiêu, xin để lấy vợ, xin để xây nhà. Có nhà rồi lại xin để xây nhà mới to hơn... tóm lại, xin càng nhiều càng muốn xin.
Đặt trong bối cảnh thực tế hiện nay, câu chuyện địa phương nào, tỉnh nào cũng muốn xây trụ sở, có rồi lại đập đi xây mới là điều bình thường. Chỉ một ví dụ điển hình, Lai Châu dù là một trong những tỉnh nghèo nhất nước nhưng vẫn tự hào có trụ sở là công trình để đời, có quảng trường lớn nhất cả nước.
Trụ sở các cơ quan hành chính Lai Châu
Nhưng, khi chưa hoàn toàn tự chủ được về ngân sách tức là vẫn phải phụ thuộc vào nguồn tiền rót về từ Trung ương, dân thu nhập chưa đủ ăn, thì trụ sở to lại trở thành thứ nghịch dị.
Vậy phải trả lời tại sao họ vẫn làm? Có nhiều lý do. Đầu tiên là do tham nhũng, xây dựng cơ bản là tham nhũng dễ nhất, an toàn nhất, nhanh nhất. Chỉ có những dự án xây dựng mới dễ cài cấy vi rút tham nhũng. Điều này trả lời vì sao VN khó chống tham nhũng.
Thứ hai, là tư duy nhiệm kỳ, thích khoe khoang, báo cáo thành tích.
Thứ ba, xây trụ sở được coi là lối thoát cứu GDP cho các địa phương, mặc dù không nhiều.
Ở VN câu chuyện tính GDP giống như chuyện hài, rất vui. Ví dụ, tôi có một con gà mua về giá 20 đồng, tôi nuôi một tháng bán lại cho người thứ nhất 20 đồng, người thứ hai bán lại cho người thứ ba 20 đồng... đến người thứ 100. Nếu theo cách tính của VN hiện nay là đã có 100 con gà nhưng thực chất chỉ có một con gà.
Như vậy, xây trụ sở vừa giải quyết được lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân vừa có GDP, vừa có thành tích... và có nhiều thứ khác nữa, tại sao lại không làm. Rồi địa phương này làm được, địa phương khác làm được tại sao các địa phương còn lại không làm được.
Đây là điều bất cập trong quản lý, sử dụng chi tiêu công hiện nay đã không có một chiến lược, kế hoạch tổng thể đặt trong bối cảnh tổng thể của nền kinh tế. Xây được cứ xây nhưng không tính toán xem hiệu quả tới đâu, có cần thiết không, có tương thích với nền kinh tế, điều kiện dân trí của dân hay không. Xây để một vài năm lại đập đi xây lại, điều này rất nguy hiểm.
Trong khi, hiện nay điều kiện kinh tế còn nghèo, bệnh viện không có đủ giường nằm, học sinh không có lớp học nhưng vẫn thấy những công trình như Cục thuế Sơn La hoành tráng, sa hoa. Điều đáng nói, Sơn La đã có trụ sở Cục thuế nhưng vẫn xây trụ sở mới. Trụ sở cũ mấy chục tỉ nhường lại cho HĐND, mỗi năm được mấy lần họp. Biết vô lý tại sao họ vẫn làm?
Nghèo vẫn cố chơi sang
Không coi chuyện xây trụ sở là sai, tuy nhiên vị chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong cũng cảnh báo trước tình trạng lạm dụng, chạy đua xây nhà to.
Ông Phong cho biết, trong chủ trương cải cách hành chính có hai hướng cải cách rất lớn, một là cải cách về thủ tục, chức năng hành chính, con người tức là công tác quản lý nhà nước. Thứ hai là hiện đại cơ sở vật chất trong đó có hiện đại hóa phần cứng và phần mềm. Phần cứng bao gồm các công nghệ quản lý, do đó yêu cầu xây dựng các trụ sở to đó để hiện đại hóa không phải là sai. Đặc biệt các đô thị lớn, càng phải tập trung các trụ sở lớn để tập hợp các liên cơ tạo ra cho xã hội một thuận lợi, tiết kiệm thời gian đi lại, làm việc tập trung.
Tuy nhiên, hiện nay trào lưu xây trụ sở to đang bị lạm dụng. Có những địa phương còn nghèo cũng cố có được cái trụ sở to dù biết rõ nó không tương thích với khả năng kinh tế, cũng như so với nhu cầu quản lý của địa phương đó. Như thế là không cần thiết.
Cần phải có cơ chế quản lý, nhất là nguồn ngân sách chi cho xây dựng, nguồn tiền có hợp lý không, có dẫn tới lạm thu gây mất cân đối ngân sách không. Tất cả không minh bạch, rõ ràng dễ dẫn tới lãng phí, tham nhũng. Đây là bài toán khó, không dễ giải quyết nhưng ai cũng có quyền được đặt câu hỏi về vấn đề minh bạch, lợi ích nhóm trong mỗi dự án, chủ trương đó.
Xây trụ sở: Nhà to, thành tích oách, tội gì không làm!
Không hoàn toàn đồng ý với quan điểm cho rằng xây trụ sở là cách cứu GDP nhưng vị chuyên gia này cũng đồng tình với quan điểm xây trụ sở ít nhiều có làm tăng GDP. Đây có thể là một trong những nguyên nhân khiến địa phương nào cũng muốn xây trụ sở.
Ông Phong lấy ví dụ, cách tính GDP ở VN cũng giống như TQ, về nguyên tắc chỉ cần đào đường, xây một cái công trình cũng làm tăng GDP. Bài toán này đã được TQ áp dụng triệt để, tức là khi cần tăng GDP họ lại xây dựng những tòa nhà bỏ không.
Đứng ở góc độ kinh tế, ông Phong cho rằng nếu việc xây trụ sở cũng là cách giải quyết những nguồn nguyên vật liệu tồn đọng, mọi thứ đang trì trệ, ít nhiều có thể có tác động lan tỏa đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu không hợp lý nó sẽ tạo ra nhiều hệ lụy xấu. Một là lợi ích nhóm, tham nhũng. Thứ hai là làm tăng nợ xấu. Thứ ba là căn bệnh thành tích.*
Trụ sở như cung điện: Kiểu gì cũng là tiền của dân!
Bích Ngọc (BaoDatViet) - Việc xây trụ sở hành chính tại nhiều địa phương, có nói là xã hội hóa thì cũng là tiền của dân.
Ông Nguyễn Thái Học, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh Phú Yên đã chia sẻ với Đất Việt góc nhìn của mình khi nói về chuyện xây dựng trụ sở hành chính tại các địa phương hoành tráng, nguy nga như cung điện.
Theo ĐB Học: “Việc xây dựng trụ sở tại các địa phương như báo chí phản ánh nguy nga như cung điện dù xã hội hóa hay bằng ngân sách suy cho cùng cũng xuất phát từ việc sử dụng tài sản chung. Có xã hội hóa thì cũng là tiền của dân”.
Lễ hội tổ chức hoành tráng, trụ sở khánh thành khang trang, gây lãng phí cho ngân sách
Hiện vẫn có nhiều ý kiến xung quanh việc xây dựng trụ sở hành chính tại các địa phương quá lớn. Nói như Chủ nhiệm Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Ksor Phước từng phản ánh với Quốc hội, rằng ông đi nhiều nơi thấy nhiều tỉnh nghiêm túc trong xây trụ sở, nhưng không ít tỉnh xây trụ sở như cung điện, như địa điểm để du lịch.
“Dân mình đang nghèo tại sao mình làm to như thế!", ông Phước đặt câu hỏi.
Lo ngại của các vị ĐBQH cũng là từ thực tế người dân vẫn còn nhiều người phải sống khổ sở. Vẫn còn những trường học tạm, những chiếc cầu tạm luôn rình rập tính mạng của học sinh và người dân khi đi qua đó.
Tuy nhiên, trên thực tế không phải địa phương nào cũng dùng tiền ngân sách để xây dựng. Như ở Bình Dương dù là trụ sở hành chính được xem là lớn nhất Việt Nam có tới 23 tầng, độ cao 104 m với tổng vốn đầu tư 1.400 tỷ đồng, có bãi đáp trực thăng; 2 tầng để xe, bãi đỗ xe có sức chứa 640 ôtô và hơn 2.000 xe máy, tổng diện tích sàn là 104.000 m2. Ngay cạnh Trung tâm hành chính là Trung tâm Hội nghị và triển lãm có sức chứa 800 người. Song địa phương đã không sử dụng vốn ngân sách mà huy động nguồn lực của doanh nghiệp và xã hội, sau đó hoán đổi các trụ sở cũ để thu hồi vốn.
Trụ sở làm việc của tỉnh Hậu Giang
Song theo ĐB Nguyễn Thái Học: “Việc xã hội hóa hay bằng ngân sách suy cho cùng cũng xuất phát từ việc sử dụng tài sản chung. Có xã hội hóa thì cũng là tiền của dân. Do vậy trong tình hình chung của từng địa phương, từng đơn vị, nhu cầu của từng cơ quan và quyết định xây dựng cho phù hợp”.
Từ chối đưa ra bình luận cá nhân khi xu thế hiện nay địa phương sau xây trụ sở hành chính lớn hơn địa phương trước, song ông Học cho rằng cần xuất phát từ tình hình thực tế của mỗi địa phương.
“Việc xây dựng trụ sở trong điều kiện thấy vượt quá khả năng, tình thế chung thấy chưa thực sự cần thiết cũng cần nhìn nhận và đánh giá lại. Những người có trách nhiệm quyết định đầu tư xây dựng phải cân nhắc điều này”, ĐB Học nói.
Nhiều ý kiến người dân cũng phản ánh, trụ sở quá lớn, sang trọng và hoành tráng khiến họ có cảm giác ngại ngần mỗi khi có việc cần phải bước chân đến “cửa quan”.
“Vốn đến cửa quan đã là một khoảng cách lớn, mình là dân đen, ăn mặc không sang trọng mà bước vào khu làm việc nguy nga quá cũng thấy e dè. Một điều cốt lõi nữa là cán bộ làm việc ở đó có thực sự vì nhân dân, vì nước không. Trụ sở hoành tráng nhưng nếu người dân đến nơi công quyền đó để giải quyết công việc vừa thấy nhanh chóng, nghiêm túc, hiệu quả thì có ích biết mấy”, một độc giả tên Phan Thọ chia sẻ.
From : Liên Sơn (VNTB ),.Bích Ngọc, Lam Lam (BaoDatViet)
...........
baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tin-tuc-thoi-su/tru-so-hoanh-trangcuoc-so-gang-ai-to-hon-nhieu-tien-hon-3104855/
baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tin-tuc-thoi-su/tru-so-nhu-cung-dien-kieu-gi-cung-la-tien-cua-dan-3002697/