Publicité

Hình Ý Quyền

 

Theo truyền thuyết, Nhạc Phi Vũ (Vũ Mục 1103 – 1142) Trung Liệt Tướng Quân vào đời vua Tống Cao Tông là sáng tổ của môn Hình Ý Quyền. Nhưng về kỹ thuật, người thừa kế và địa phương truyền bá môn này như thế nào? Không ai biết đến, vì không có tài liệu lưu truyền.


Mãi về sau, đến giữa thời của cuối đời Minh và đầu đời Thanh (1637 – 1662), Cơ Tế Khả, tự là Long Phong, người ở Bồ Châu, tỉnh Sơn Tây rất giỏi quyền thuật và thương pháp. Một hôm, Cơ Long Phong đến học đạo tại núi Chung Nam Sơn, và được một lão dị nhân truyền dạy môn Hình Ý Quyền và trao cho quyển "Ngũ Quyền Kinh" của Nhạc Vũ Mục với nỗi dung ghi chép các phép Ngũ hành và các hình vẽ liên hoàn quyền của Thập Nhị Thú Hình Đồ như Long, Hổ, Ưng, Hùng (Gấu), Xà, Cáp (bồ câu), Yến, Kê, Diều (tên một loại chim), Mã, Hầu, Qui. Tất cả đều dựa vào hình thể động tác mà rút ra cái ý nghĩa. Đó cũng là chủ yếu của môn Hình Ý Quyền. Từ đó, Cơ Long Phong kiên tâm nghiên cứu luyện tập mà đại ngộ và phát huy môn này đến chỗ cực thịnh. Cơ Long Phong có hai người học trò rất giỏi là Tào Kế Vũ, người Sơn Tây làm quan Thiểm Tây tỉnh Viên Tổng Trấn vào thời vua Thanh Khang Hy (1662 – 1722) và Mã Học Lễ, người ở Lạc Dương, Hà Nam.

 

Vào niên hiệu Hàm Phong (1811), hai anh em Đới Long Bang và Đới lăng Bang theo học với Tào Kế Vũ và rất nổi tiếng về Hình Ý Quyền tại Sơn Tây. Về sau, Lý Năng Nhiên có tên là Lạc Năng hay Phi Vũ, người ở Thâm Châu, tỉnh Trực Lệ, vốn thích quyền thuật, thường đi buôn ở Thái Cốc, nghe danh tiếng Đới Long Bang giỏi về Hình Ý Quyền đến xin theo thụ huấn được chín năm. Sau khi về quê, Lý Năng Nhiên thâu nhận học trò và rất nổi tiếng ở Hà Bắc. 


Học trò rất giỏi của Lý Năng Nhiên gồm có Quách Vân Thâm, người Thâm Châu (Quách Vân Thâm kết bạn với Đổng Hải Xuyên, một danh thủ Bát Quái Quyền, do đó mà hai môn Hình Ý và Bát Quái được dạy chung cho các học trò của hai phái), Lưu Kỳ Lan, người Thâm Châu, Trương Thủ Đức, người Kỳ Châu, Tống Thế Vinh, người Uyển Bình, Xa Nghị Trai, người Thái Cốc, Bạch Tây Viên, người Đại Hưng, Lưu Hiếu Lan, người Hà Giang, và Thọ Nhiễu Trai, người Tân An.

Quách vân Thâm có một số học trò rất giỏi như Hứa Chiêm Ngao, Tiền Quản Lương, Lý Tồng Nghĩa, Lý Khuê Nguyên, Trương Chiếm Khôi, ... 

Còn Mã học Lễ khi về đến Hà Nam thâu nhận rất đông học trò. Trong sô học trò giỏi nhất như Mã Tầm Nguyên, người Hà Nam và Trương Chí Thanh, người Nam Dương. Về sau, Trương Chí Thanh truyền dạy cho Lý Chính, người Lỗ Sơn. Lý Chính truyền lại cho Turơng Tu, người Lỗ Sơn. Trương Tu dạy lại cho Gia Trang Đỗ, rồi Gia Trang Đỗ dạy lại cho An Đại Khánh, người Trường An. An Đại Khánh dạy lại cho Bảo Hiến Đình. Đó là chi phái Hình ý Quyền ở Hà Nam một thời danh tiếng.

Môn Hình Ý Quyền rất là đơn giản, ít biến hóa, người tập chuyên tâm dễ thuần thục. Cả ba môn Thái Cực, Bát Quái, và Hình Ý thuộc Nội Gia Quyền đều có liên quan mật thiết lẫn nhau.

(GS. Vũ Đức)



 

Hình ý quyền "hình, thần kiêm bị"


Hình ý quyền là một loại quyền trong võ thuật , còn gọi là "tâm ý quyền", "tâm ý lục hợp quyền" hoặc vắn tắt là "Lục hợp quyền". Về tên gọi của Hình ý quyền cũng cõ nhiều cách nói khác nhau : có người cho rằng vì loại quyền này yêu cầu "tâm, ý thành ở bên trong, tay chân cơ thể hình ở bên ngoài ", ngoại hình và nội ý phải thống nhất cao độ, do đó mới đặt tên là "Hình ý quyền". Có người lại cho rằng loại quyền này có ý tượng hình, lấy phép làm quyền, biểu hiện sự đặc sắc của nhiều loại động vật như hổ thì dũng mãnh, khỉ thì nhanh nhẹn, v.v.. mà thành tên. Về nguồn gốc của hình ý quyền, theo nhiều người khảo chứng thì do Cơ Long Phong (có chỗ gọi là Cơ Long Phụng, vì hai chữ Phong và Phụng viết dễ lẫn nhau) người Bồ Châu tỉnh Sơn Tây sáng tác ra, cho tới nay đã có hơn 300 năm lịch sử. Tuy vậy lại có người bảo do Nhạc Phi đời Tống sáng tác ra.

 


Hình ý quyền

Đầu đời Thanh, Hình ý quyền được truyền bá rất rộng rãi ở Sơn Tây, Hà Nam, Hà Bắc. Gần trăm năm nay, danh thủ nối nhau. Năm 1914, nhà Hình ý quyền là Hách Ân Quang qua thăm Nhật Bản dạy cho các học sinh du học ở Nhật, do đó đã đưa Hình ý quyền giới thiệu ra nước ngoài. Hiện nay Hình ý quyền không chỉ phát triển ở các nơi trên cả nước, mà ở Đông Nam á, Nhật Bản, Châu Mỹ ... cũng đều có tập luyện Hình ý quyền đồng thời còn có cả đoàn thể và báo chí chyên môn.

 

Hình ý quyền lấy Ngũ Hành quyền (phác, bằng, toản, pháo, hoành tức bổ, hất, chọc, đập, gạt) và Thập nhị hình quyền (quyền 12 hình tức long, hổ, hầu, mã, kê, yến, xà, đà, thai, ưng, hùng, báo tức rồng, hổ, khỉ, ngựa, gà, én , rắn, kỳ đà, la, ưng, gấu, báo) làm gốc quyền cơ bản.Về trang pháp thì lấy "tam thế thức" mã, cung, hư bộ làm gốc. Các bài múa đơn luyện có: Ngũ Hành liên hoàn, Tạp thức chùy Bát thức quyên, Tứ bả quyền, Thập nhị hồng trùy, Xuất nhập động, Ngũ hành tương sinh, Long hổ đấu, Bát tự công, Thượng trung hạ bát thủ. Về đối luyện quyền thì có tam thủ pháo, Ngũ hoa pháp, An thân pháo, Cửu sáo hoàn. Luyện tập khí giới lấy đao, thương, kiếm, côn làm chủ; phần lớn lấy tam hợp, lục hợp, liên hoàn, tam tài để gọi tên. Một giải Hà Nam lưu hành Hình ý quyền phần lớn gọi là "tâm ý quyền". Quyền pháp lấy "thập đại hình" (mười hình lớn là long, hổ, kê, ưng, xà, mã, miêu, hầu, dao, yến tức rồng, hổ, gà, ưng, rắn, ngựa, mèo, khỉ, diều, én) và "tứ quyền bát thức" làm quyền pháp cơ bản. Về trang pháp có Kê thoái trang (tấn chân gà), Ưng hùng trang (tấn ưng gấu). Bài bản đơn luyện thì có Long hổ đấu thập hình hợp nhất (mười hình hợp nhất), Thượng trung hạ tứ bả ( bốn ngón (quyền) trên, giữa, dưới) v.v.. Các nơi lưu hành Hình ý quyền trừ nội dung có chỗ khác nhau ra, về mặt phong cách cũng có chỗ đặc sắc riêng. Hình ý quyền ở một giải Hà Bắc quyền thế thư triển, ổn mạnh chắc chắn. Hình ý quyền lưu hành ở Sơn Tây thế quyền gấp gáp, kình lực tinh kéo. Hình ý quyền ở một giải Hà Nam thì thế quyền dũng mãnh , khí thế hùng hậu.

 




 

Hình ý quyền có các đặc điểm sau:


Giản dị gọn gàng, chất phác thực tế, tự nhiên. Về động tác thì phần lớn là dến thẳng đi thẳng, một co một duỗi, tiết tấu rõ ràng, chất phác thực tế không có hoa hòe hoa sói, có cái đẹp ở chỗ tự nhiên.
Động tác nghiêm mật gấp gáp, "ra tay như dũa thép, xuống tay như câu liêm", "hai khuỷu không lìa sườn, hai(bàn) tay không lìa tâm (tim)"; khi phát quyền thì vặn , quấn, đục, xoay, với thân pháp, bộ pháp kết hợp chặt chẽ, toàn thân trên dưới giống như đang vặn thừng không chút lơi lỏng.


Trầm tĩnh, ổn định mau lẹ, thân ngay bộ, vững. Yêu cầu ngực nở bụng thực, khí trầm đang điền, cương mà không cứng đờ, nhu mà không mềm xèo, kình lực thi triển trầm thực.
Mau lẹ hoàn chỉnh. Hình ý quyền yêu cầu "lục hợp" tức là tam hợp với ý, ý với khí hợp, khí với lực hợp (gọi là nội tam hợp), vai và háng hợp, khuỷu và gối hợp, tay và chân hợp (giọ là ngoại tam hợp). Về động tác thì cường điệu phép (pháp) thân trên, tay chân cùng đến, một phát là đến, một tấc (đã) là trước (ý muỗn chỉ tốc độ và độ dài hơn đòn của đối phương). Trong "quyền phổ" có ghi: "Nổi như gió, rơi như tên, đánh ngã (đối thủ) rồi vẫn hiềm còn chậm". Hình ý quyền coi trọng tam tiết, bát yếu. Tam tiết (ba đốt) là: đốt ngọn nổi, đốt giữa theo, đốt gốc đẩy. Kể về toàn thân thì đầu và tay (chi trên) là đốt ngọn, thân mình là đốt giữa, chi dưới (chân) là đốt gốc. Ngay một bộ phận cơ thể cũng có thể chia nhỏ ra thành ba đốt.


Lấy tay làm ví dụ, khi ra đòn nắm tay là đốt ngọn, cẳng tay (dưới) cả khuỷu là đốt giữa, cánh tay trên với vai là đốt gốc. Thể hiện tam tiết cốt để đảm bảo toàn thân hoàn chỉnh thành một thể thống nhất, nột ngoại hợp nhất.

 

Tám điều cần ( bát yếu) là:
Đỉnh (đẩy lên trên, tức là "đầu phải đảy lên chỏm, chưởng phải đẩy ra trước, lưỡi phải đảy lên hàm ếch, để nối hai mạch nhâm, đốc").
Khâu khép vào, "vai phải khép, mu bàn chân bàn tay phải khép, (hai) hàm răng phải khép").
Viên (là tròn, tức là "ngực, lưng, hổ khẩu - khớp nối ngón tay cái và ngón tay trỏ - phải tròn").
Mẫn (là nhạy, tức tâm phải nhạy; chân phải nhạy; tay phải nhạy").
Bão (là ôm giữ, tức là "đan điền phải giữ (khí), tâm phải giữ ý sáng suốt, hai khuỷu phải giữ (sườn) ").
Thùy (chúc đầu xuống, xuôi xuống, tức vai phải xuôi, khuỷu tay phải xuôi, khí phải xuôi" -- thuận ).
Khúc (là gập lại, tức là "cánh tay gập, chận phải gập, cổ tay phải gập").
Đỉnh (là cứng cỏi tức "kình (lực) phải cứng cỏi, xương sống phải cứng thẳng, đầu gối phải thẳng cứng"). Có như thế mới bảo đảm được các bộ vị, tư thế của thân thể thi triển chính xác.

 


Hình ý quyền còn bao hàm cả lý luận về giao đấu và nội dung kỹ thuật chiến thuật phong phú. Nó nhấn mạnh dám đánh sẽ thắng, ý thức chiến đấu dũng cảm xông lên. Quyền phổ dạy : "Ngộ địch hữu chủ, lâm nguy bất cụ" ("Gặp địch giữ chủ động, gặp nguy chẳng sợ"). Về tư tưởng chiến thuật, có chủ chương mau lẹ đột ngột, tự ta làm chủ, khi giao đấu thì "thừa cơ bất bị nhi công chi, do cơ bất ý nhi xuất chi" (tức "thừa cơ (họ) không chuẩn bị mà tấn công, do cơ hội (họ) không để ý mà ra đòn"), về mặt kỹ thuật công phòng hình ý quyền đề xướng "cận đả khoái công" (đánh gần, tấn công nhanh): "Tiến là né, né là tiến, bắt tất cầu xa". Hình ý quyền chủ chương bảy ngọn quyền đầu, vai, khuỷu, tay, háng, gối, chân đều cùng dùng, gặp đâu cũng phát đòn "xa thì dùng tay, gần thì dùng khuỷu; xa nữa dùng chân, gần hơn dùng gối".


Đồng thời còn yêu cầu kết hợp hư thực, biết mình biết người, thức cơ mà làm, không nên câu nệ kỹ thuật thành chương pháp, làm thế nào để "quyền mà không có quyền, có ý mà không cố ý, không cố ý tức là ý thật" mới được coi là công phu thượng thừa. Trong lý luận chiếu đấu của Hình ý quyền có sáu nguyên tắc tức là công ( sự khéo léo, xảo diệu), thuận( tự nhiên), dũng (quyết đoán), tật (mau lẹ, đột ngột), lang (không nương tay, chẳng dung tình), chân (khiến địch không sao trốn thoát), sáu cách này gọi là "sáu phương ảo diệu".

 

Hình ý quyền chú trọng huấn luyện sức lực. Công phu bước một là "xây dựng cơ bản, khỏe mạnh thân thể, kiến cho xương cốt rắn như sắt đá", về kỹ thuật đề cao tạo cơ bản thật tốt gọi là công phu "minh kình" (kình lực rõ). Bước hai yêu cầu luyện "ám kình và hóa kình công phu" (công phu có kình lực ngầm và hóa giải kình lực ) yêu cầu toàn thân hoàn chỉnh, cương nhu giúp nhau, tinh thần tập trung, hình thần hợp nhất, lấy ý dẫn dắt cơ thể, lấy khí phát lực. (Theo chu trình cao của công phu là "dùng tâm điều ý, dùng ý dẫn khí, dùng khí thúc kình, dùng kình phát lực"). Có thể thấy Hình ý quyền đối với các công năng sinh lý của các bộ phận trong cơ thể đều có yêu cầu tương đối cao. Động tác Hình ý quyền ngay ngắn, không dựa dẫm, phép đánh có thể nhu có thể cương, người có thể chất khác nhau đều có thể tùy sức mình mà tập luyện. Những năm lại đây cũng được chọn dùng vào thể dục y học chữa bệnh. 
Select by RC .

 

Publicité
Tag(s) : #Thể Thao - Võ Thuật
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :