THỬ TÌM HIỂU BỞI ĐÂU MÀ CÓ DANH TỪ “SÀI GÒN”
( tìm hiểu về lai lịch đất Sài Gòn )
Về danh từ “SÀI GÒN”
Đại Nam Quốc Âm Tự vị của Huỳnh Tịnh Của viết:
__ :Sài tức là củi thổi.
__ : Gòn tên loại cây có bông nhẹ xốp, nhẹ hơn bông thường, trong Nam hay dùng để dồn gối, dồn nệm, ngoài Bắc gọi là cây bông gạo (kapok, kapokier).
Điều nên nhớ là thuở cựu trào, mỗi lần chạy sớ tấu ra kinh, mỗi moxi lấy Hán tự làm gốc. Các quan trong Nam thuở ấy, để gọi thành “Sài Gòn” đều viết hai chữ nôm như vầy _________. Viết làm vậy, nhưng đến khi đọc thì luôn luôn đọc là “Sài Gòn”.
Về sau, có nhiều người, đọc “Sài Côn”, tưởng rằng đúng. Ngờ đâu, đọc như thế là phản ý người xưa, tôi muốn nói những người cố cựu miền Nam của đất Gia Định cũ. Cũng như có một ông tướng tên là Võ Tánh, vốn người Gò Công, nay rất nhiều người đọc tên ông là Vũ Tính. Lại như tên một trái núi trên Biên Hòa, thuở nào đến nay, quen gọi là “núi Châu Thới”. Nay thường nghe nhiều học giả đọc và viết “núi Chu Thái”, chúng tôi không dám nói gì, nhưng thiết tưởng đến ông Trời cũng phải chịu! Còn đến như nguyên do làm sao cổ nhân khi trước ghép chữ Hán “Sài” ____ với một chữ Nôm "Gòn" _____làm vậy thì thú thật tôi xin chịu bí! Nói nhỏ mà nghe, dốt nát như tôi, tôi hiểu rằng khi ông bà ta thiếu chữ “gòn” không biết phải viết làm sao, thì ông bà cứ mượn chữ “côn” thế tạm, có hại gì đâu, hại chăng là ngày nay con cháu không muốn đọc y như ông bà lại dám chê xưa kia ông bà ta quá dốt!
Cũng trong Tự Vị ông Huỳnh Tịnh Của, còn thấy ghi hai chỗ khác nhau về danh từ Sài Gòn:
_Sài Gòn: tên riêng đất Chợ Lớn, bây giờ lại hiểu là đất Bến Nghé (trang 280 quyển II).
_Sài Gòn: tên xứ ở về tỉnh Gia Định (trang 390 quyển I).
Tôi xin hẹn sau sẽ giải nghĩa việc này. Điều nên chú ý liền đây là bộ Tự vị Huỳnh Tịnh Của in vào năm 1895-1896 cho ta thấy rõ đời ấy đã có sự lẫn lộn về danh từ “Sài Gòn” rồi.
Để tìm hiểu sâu rộng và muốn biết rành rẽ về nguồn gốc tích “SÀI GÒN”, phải dày công phăng từ ngọn ngành, căn cội và chịu khó tra cứu từng các dân tộc một, đã sống qua các thời đại trải không biết mấy ngàn năm và thay nhau khai thác cõi Nam này: 1) người Phù Nam, 2) người Cam Bốt, 3) người Tàu, 4) người Việt.
Sài Gòn Năm Xưa
1. Trước hết, từ giống người Phù Nam (18)
Thời cổ đại, theo sử Trung Quốc ghi lại, thì có giống người Phù Nam chiếm cứ sơ khởi vùng gọi Phù Nam. Đất Phù Nam sau đổi lại là “Thủy Chân Lạp” (le Chan-la des eaux ou Basse Cochinchine) để phân biệt với đất Lục Chân Lạp (le Chan-la des montagnes ou Cambodge).
THỜI ĐẠI NÀY, ĐẤT THỦY CHÂN LẠP CÒN LÀ RỪNG RẬM SÌNH LẦY, THÀNH SÀI GÒN CHƯA CÓ.
Khoảng năm 1943 – 1944, nhà học giả Pháp, ông Louis Malleret nhân danh là hội viên trường Viễn Đông Bác cổ và Giám đốc viện Bảo tàng Sài Gòn có thân hành đến chặng giữa đường Long Xuyên đi Rạch Giá, noi dấu bọn thổ dân đã đến chỗ này nhiều tháng trước để bòn vàng ... Nơi đây, ông tìm ra di tích một nền cổ Phù Nam bị chôn vùi dưới đất từ ngàn xưa.
Ông có đem về Viện Bảo tàng rất nhiều món đồ nữ trang, cổ vật, trang sức phẩm và rất nhiều tài liệu cổ có chơn giá trị về lịch sử (đồ đất nung, dót nấu kim khí, miểng bát chén, phao lưới, trái trì lưới (poids de filet), cục đá căng nặng xe chỉ sợi (fusaiolus), v.v...), hiện các vật này trưng bày làm một gian phòng riêng biệt trong Viện Bảo tàng Sài Gòn. Nhờ đó, ta biết được cội đất nước ta và biết tại đây xưa kia vào thế kỷ thứ hai, người dân La Mã đã tìm theo con đường biển thả tàu buồm đến đây và đã từng đặt chân trên đát này cũng như họ đã từng giao thiệp chặt chẽ cùng thổ dân bản xứ. Họ (người La Mã, Ấn Độ di cư, Mã Lai, Phù Nam, v.v...) qua lại đổi chác với nhau, tỷ như vàng khối xứ Chiêm Thành (l’or du Cathay), lụa Trung Quốc (soie de Chine), hoặc hương liệu (épices): sa nhân, đậu khấu vùng Khmer (núi Cardamomes rất gần).
Đặc biệt nhất là có một đồng vàng tìm được tại chỗ và đó là một tài liệu quý hóa nhất chứng minh cho thuyết nói trên. Đồng vàng ấy mang dấu hiệu của vua Antonin le Pieux, sinh năm 86 và trị vì tại La Mã từ năm 138 đến năm 161 Tây lịch kỷ nguyên. Hiện thời, các nhà thông thái tạm lấy chỗ tìm được cổ vật mà đặt tên cho các vật tìm thấy, gọi đồ thuộc văn minh Óc-Eo. (theo chính tả Việt Ngữ. Nếu viết theo Phạn tự và theo giọng Khmer thì là ÂK EV).
Nay Óc-Eo thuộc về làng Mỹ Lâm, tổng Kiên Hảo, giáp ranh hai tỉnh Long xuyên và Rạch Giá. Từ năm 1945 có chiến tranh, sự giao thông bất tiện, thêm thiếu điều kiện bảo thủ canh gác nên người tại chỗ đã đào đã hôi rất nhiều... Khó mà tiếp tục sưu tầm, tiếc thay! (19)
____________
(18) - Về danh từ “Phù Nam”, có đến hai thuyết khác nhau:
a – Trong sử Tàu, gọi đó là đất Phù Nam, tức xứ Nam nổi phù. Đời Thượng Cổ, vùng đất này có lẽ quanh năm ngập lụt, không ai thấy được: đất chỉ lồi lên khỏi mặt nước cho ngó thấy vào mùa hạn, khi nước rút đi hết và trời dứt mưa.
b – Nhà lão thành, thông thái người Pháp, ông G.Coedès lại cắt nghĩa : “Phù Nam” do tiếng Khmer “Phnom” đọc ra làm vậy. (Còn trong vòng cãi cọ, chưa thuyết nào ngã ngũ nhất định).
c – Theo cố học giả người Pháp Pierre Dupont, thì xứ Phù Nam gồm đất Nam Kỳ cũ (Thủy Chân Lạp), đất Cao Miên (Lục Chân Lạp) và một phần xứ Xiêm La, và Phù Nam là một nước có từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ V sau Gia-tô. (BEFEO, năm 1959, tập II, trang 635)).
(19) - Muốn biết rành rẽ, nên chờ xem bộ luận án thi Tiến sĩ của học giả Malleret, đăng trong tập kỷ yếu Trường Viễn Đông Bác cổ (Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extrême-Orient) đang in. Theo tác giả, sẽ gồm bốn tập lớn. Hiện nay Viện Bảo Tàng Sài Gòn đã nhận tập thứ nhứt chia làm hai quyển nhan đề: "L'exploration arche'ologique et les fouilles d ' Oc-Eo" , Paris 1959, Tome Premier, "Texte", Tome Premier "Planches" (Sách tham cứu khảo cổ nói về cuộc đào tìm cổ tích tại Oc-Eo, tập nhứt chia ra một quyển về luận văn, một quyển về hình ảnh.)
(Nay trọn bộ đã xuất bản rồi.)
2. Nối chân Phù Nam trên vùng Thủy Chân Lạp là người Cam Bốt.
Không nói đâu xa, từ đầu thế kỷ thứ XVII, người Cam Bốt đã có mặt tại vùng Sài Gòn lâu rồị Nhưng họ không khai thác chi cả. Họ chỉ ăn hoa lợi tự nhiên: thú rừng, lâm sản; lá lợp nhà, cây làm củi, v.v... Bằng cớ hiển hiện là khi lọt về tay người Việt, Sài Gòn vẫn là một thôn quê rừng, ruộng, vô danh.
Nghiệm ra rằng người Khmer sanh đẻ tại Nam Việt, phát âm không giống y giọng Khmer trên Nam Vang. Tình trạng này có thể so sánh lại với tình trạng người Việt vùng Cà Mau Bạc Liêu giọng nói vẫn khác giọng Sài Gòn hoặc giọng Hà Nộị Đối với tiếng Khmer, trên Nam Vang, dùng nhiều chữ “r” có thể nói mỗi tiếng nói, gần như mỗi có đánh lưỡị Trái lại miền Nam Lục Tỉnh, dân Khmer nuốt gần mất chữ “r”. Tỷ dụ trên kia nói “Préam riet” (là 5 đồng bạc) thì dưới này họ nói “Péam yiel”, v.v... chưa quen tai, không hiểu họ muốn nói gì.
Bởi rứa, về danh từ “Sài Gòn” đối với người Cam Bốt, khi họ gọi:
a) Prei Kor
(nếu họ là người Nam Vang)
b) Prei Nokor
hoặc
c) Pẹi – ừ – Ko
(nếu họ là người Khmer Lục Tỉnh)
d) Pẹi - ằng – ko
Khiến người Việt ta điếc con ráy và ... khó phân biệt được. (20)
Vả trong bốn cách phát âm trên, tưởng cần ghi lại hai cách Nam Vang, có phần khoa học, đáng tin cậy hơn, nhưng trong hai cách ấy cũng chưa phân biệt cách nào đúng nghĩa của người xưa.
Prei, prey : rừng, không còn ai chối cãi.
Kor : Kô, Ku : có hai nghĩa khác hẳn nhau :
Khi “kor” là gòn, Prei-kor là “Rừng gòn”.
Khi khác thì “Kor” : “Kũ” : boeuf, Prei-Kor tức là “Rừng bò”?
Có một tỷ dụ: Bockor : bâuk kũ : boeuf à bosse: bò u. Cố Tandart, sành về Miên ngữ, lại cắt nghĩa: Nokor do “Nagaram” tiếng Nam Phạn (Pâli), đồng nghĩa với chữ “thành” Việt Hán tự trong các danh từ: thành thị, đô thị (cité); thành phố (ville).
Một tự vị Miên Pháp nữa dịch: Nokor: royaume : quốc. Vậy thì : Prei-Nokor là lâm quốc.
Các thuyết trên cho phép ta định chừng “Nokor” là giọng kinh chợ, giọng các nhà hay chữ thông thái trên Nam Vang, chớ người Khmer... miền lục tỉnh, nước phèn cứng lưỡi, quen nói trại bẹ, thuở nay, để ám chỉ Sài Gòn, họ dùng một danh từ lơ lớ nghe tương tự “Pei-ừ-ko” hay “Pẹằng-ko” không rõ chắc được.
Bằng như có ai hỏi họ sát đề quá, để tránh cái khó, họ dùng một danh từ khác, rõ rệt không còn chối cãi và lầm lộn nữa, ấy là danh từ “srock yuong” ta âm ra “Sốc Duồng” để chỉ xứ Sài Gòn (21) Lấy theo điểm này và căn cứ hai chữ nên thơ “Srock yuong”, thì người Cam Bốt tự ngàn xưa đã ngấm ngầm nhìn nhận đất Sài Gòn là lãnh thổ Việt Nam không chối được. Dân Khmer Lục Tỉnh là người trí óc mộc mạc chất phác, người củi lục làm ăn, không biết nói láo và không biết ngụy biện!
Do các thuyết Lang sa kể trên, ta có thể kết luận:
Dưới thời đại cam-bốt-diên, Sài Gòn là nước, xứ ở giữa rừng (Prei Mokor ). Vịn theo thuyết này danh từ “Sài Gòn”, trước định do “Prei Nokor” là “rừng gòn” không vững (22). Nay nên dịch “lâm quốc” đúng hơn. Tóm lại. danh từ “Sài Gòn” không ắt do điển “Prei Nokor” mà có.
__________
(20) - Tôi xin sao lục ra đây đoạn Pháp Văn nói về điển này:
" sur les origines de cette dénomination ghéographique, les hypotheses les plus ingénieuses ont eté avancéẹ Selon Pétrus Ky, qui prétend avoir découvert cette interprétation dans l'ouvrage de Trịnh Hoài Đức, les deux caracteres ______ Saigon, signifieraient bois des ouatiers, contenant ainsi une allusion aux nombreux kapokiers qui se rencontraient, parait-il, autrefois dans la région. Le Đốc-Phủ-Sứ Lê Văn Phát avait cru pouvoir pousser cette interprétation très loin, et en déduire que là Plaine des Tombeaux avait été jadis une forêt inépuisablẹ Comme dans le domaine des étymologies on n'en est guère à une hypothese, l'abile Đốc-Phủ n'avait pas manque de soliciter le sens des mots de diverses façons, afin d ' en tirer une explication propre à satisfaire des exugenees de son esprit. Il en résultait que Sài Gòn pouvait être dérivé du nom cambodgien Prei Kor (a) qui signigie forêts des kapokiers.Il pouvait être aussi l'adaptation des mots siamois Cai-ngon, c'est-àđire brousse des kapokiers, que les Laotiens emploient encore, affirmait-il, pour désigner la capitale de la Cochinchine (b).
"En réalité, l'ancienne ville cambodgienne, dont la tradition a conservé le souvenir, s'appelait Prei Nokor, désignation qúEtienne Aymonier traduit par les termes forêt royalẹ mais que le P. Tandart, dans son dictionnaire cambodgien-francais, propose de représenter par l'expression ville de la forêt, en rapportant Norkor au mot pali nagaram qui équivaut à cité, ville ou forteresse".
a) - Seule à notre connaissance, Adhémard Leclere, a mentionné le nom de Prei Kor qúil a identifié à Prei Nokkor dans le Sdach Kan, bulletin de la Société des Etudes Indochinoises, deuxieme semestre 1910, page 26. Prei Kor pourrait se traduire plutôt par Forêt des bouefs que par Forêt des Kapokiers.
b)- Note sur l'érymologie du nom de Saigon - extreme- Asie, octobre 1931. page 227-229. Dans une revue ephémere Tourisme, publiée à Saigon, diverese étymologies avaient été antéricurement proposées. ef N.16 ( 7 Aout 1925)
(21) - Srock biến ra tiếng Việt là “Sốc” tức xứ của người Miên ở. Về sau, “sốc” nghĩa là xứ, vùng. Tỷ dụ: Sốc thổ, sốc mọi, sốc việt (Sock yuong). Về danh từ “Yuong” hay “Yuônn” hoặc “duong”, chưa ai giải nghĩa nghe ổn thỏa. Có thuyết cho “duong” do tiếng Phạn trong “Yuong na” tức là người ngoại kiều. Cắt nghĩa làm vậy e thông thái quá, sợi tóc chẻ làm đôi, theo ý tôi phải chăng “duong” do tiếng chót danh từ “An nam quốc vương” của vua chúa ta dùng để xưng hô đời trước mà có. Người Khmer quen nói tiếng một, danh từ “An nam quốc vương” quá dài dòng bẻ miệng, bẻ môi, khó nói, nên họ dùng gọn chữ “vương” cũng đủ và “vương” biến lần “yuong” v.v... Có danh từ năm 1945-1946 người Miên dùng làm khẩu hiệu là “Cáp duồng”. “Cáp” là chém đầu, “Cáp duồng” là chém đầu thằng Việt! ).
(22) - Trong tập “Souvenirs historiques” cụ Trương Vĩnh Ký quả quyết người Khmer xưa có trồng gòn chung quanh đồn Cây Mai và chính người còn trông thấy vài gốc cổ thụ này tại vùng ấy năm 1885.
From : Vương Hồng Sển, Sài Gòn Năm Xưa