Publicité

  
 
         

Sự phát triển phức tạp trong quan hệ hai miền Triều Tiên luôn gắn liền với những lợi ích và chính sách của 4 nước lớn (Mỹ, Liên Xô (Nga), Trung Quốc và Nhật Bản). ở thời kỳ đỉnh cao Chiến tranh lạnh, cả hai miền Triều Tiên đều thực hiện chính sách phù hợp với thể thức hai cực ổn định và tương đối đơn giản là liên minh quân sự và ngoại giao chống đối nhau.

 


         

Thế nhưng, khi cuộc Chiến tranh lạnh giảm dần và kết thúc, cả 4 nước lớn không những đã điều chỉnh quan hệ giữa họ với nhau mà còn điều chỉnh cả chính sách của họ đối với bán đảo Triều Tiên. Liên Xô và Trung Quốc đã từ bỏ chính sách một nước Triều Tiên và công nhận Hàn Quốc vào năm 1990 và 1992. Đồng thời, Mỹ cũng bắt đầu nới lỏng chính sách cô lập và kiềm chế truyền thống đối với CHDCND Triều Tiên. Tháng 10/1994, Mỹ và CHDCND Triều Tiên tho thuận trao đổi bình thường hoá từng phần quan hệ kinh tế và ngoại giao. Nhật Bản cũng từng bước thận trọng thăm dò khả năng thiết lập quan hệ ngoại giao với CHDCND Triều Tiên. Cả 4 nước lớn ở khu vực đã và đang đóng vai trò rất quan trọng trong việc thay đổi tình hình Triều Tiên khi thời đại đối đầu đang nhường chỗ cho kỷ nguyên hoà hợp.

Cũng như trước đây, bước sang thời kỳ mới, do có lợi ích và mục tiêu trái ngược nhau, nên các cường quốc dính líu vào bán đo Triều Tiên đều có một cách nhìn khá thống nhất về vấn đề thống nhất hai miền Triều Tiên. Trước tương quan so sánh lực lượng, các nước này đều sợ một nước Triều Tiên thống nhất rơi vào vòng ảnh hưởng của các nước khác, đấy là chưa nói việc họ lợi dụng sự chia cắt của bán đo này đề mặc cả với nhau. Do vậy, bốn nước lớn đều chủ trương duy trì sự chia cắt ở bán đảo Triều Tiên. Mỗi nước lớn theo cách phù hợp với lợi ích quốc gia của mình đều có xu hướng thi hành một chính sách thực dụng đối với cả hai nước Triều Tiên. Tuy nhiên, quan điểm chung của các nước lớn là, nếu hai chính phủ Triều Tiên tho thuận được với nhau về vấn đề thống nhất bằng biện pháp dân chủ và hoà bình, thì họ sẽ không chống lại hay bỏ phiếu phủ quyết.



Về phía Trung Quốc: Chính sách của Trung Quốc đối với bán đo Triều Tiên hiện nay là tăng cường vai trò và ảnh hưởng của mình, thông qua việc thực hiện chính sách cân bằng đối với cả hai miền Nam - Bắc. Mặc dù sau chiến tranh lạnh, mối quan hệ giữa Trung Quốc với CHDCND Triều Tiên đã chuyển từ mối quan hệ đặc biệt sang mối quan hệ bình thường, nhưng Bắc Triều Tiên vẫn giữ một tầm quan trọng về chiến lược đối với Trung Quốc, bởi vì nếu Trung Quốc bị mất vị trí đặc biệt hoặc mất ảnh hưởng đối với CHDCND Triều Tiên, tức là Trung Quốc sẽ rơi vào thế bị động hoặc giảm vai trò ở khu vực Đông Bắc á. Chính vì vậy, khôi phục quan hệ với CHDCND Triều Tiên là vấn đề rất quan trọng đối với Trung Quốc. Đây chính là nguyên nhân cơ bản làm cho Trung Quốc tiếp tục giữ thái độ tích cực trong quan hệ với CHDCND Triều Tiên. Gần đây, quan hệ Trung Quốc - CHDCND Triều Tiên đang được cải thiện nhanh chóng. Năm 2000, trước khi tiến hành cuộc họp cấp cao Nam - Bắc Triều Tiên, nhà lãnh đạo CHDCND Triều Tiên Kim Jong-il đã có chuyến thăm không chính thức tới Bắc Kinh và tháng 1/2001 lại có chuyến thăm như vậy tới Thượng Hải. Điều đó cho thấy, quan hệ cấp cao CHDCND Triều Tiên - Trung Quốc đang được khôi phục sau những gián đoạn vào đầu thập niên 1990.


Mặt khác, Trung Quốc tích cực xây dựng và phát triển quan hệ đối tác hợp tác toàn diện với Hàn Quốc, bao gồm cả lĩnh vực an ninh. Hiện nay, Trung Quốc đã có chung nhận thức với Hàn Quốc về "Chính sách ánh dương" của Hàn Quốc đối với CHDCND Triều Tiên và trong việc giải quyết tình hình bán đảo Triều Tiên, bởi vậy Trung Quốc rất tích cực thông qua các kênh khác nhau để khôi phục đối thoại giữa nguyên thủ hai miền Nam - Bắc Triều Tiên.

Về phía LB Nga: Nga đang có những nỗ lực lớn để khôi phục ảnh hưởng mà Liên Xô (cũ) đã có thời kỳ chiến tranh lạnh đối với bán đảo Triều Tiên, đặc biệt là đối với CHDCND Triều Tiên. Nga khẳng định, vấn đề hoà bình và ổn định trên bán đo Triều Tiên luôn là ưu tiên quan trọng trong chính sách Đông á của mình, đồng thời Nga công khai tỏ ý bất bình trước việc bị loại ra khỏi cuộc đàm phán 4 bên. Nga không chấp nhận công thức đàm phán 4 bên không chỉ vì công thức này không thừa nhận lợi ích địa - chính trị và lịch sử của Nga trên bán đảo Triều Tiên, mà còn vì, theo quan điểm của Nga, các cuộc thương lượng quốc tế không bao giờ thành công khi bất cứ một đối tác quan trọng trong khu vực bị gạt ra ngoài. Chính sách nhất quán của Nga là để giải quyết vấn đề Triều Tiên, tất cả các nước liên quan đến bán đảo này phi được tham gia trong một cơ chế quốc tế đa phương.





Hiện thời, Nga đang nỗ lực mở rộng hợp tác với Hàn Quốc, bên cạnh việc tiếp tục duy trì quan hệ với CHDCND Triều Tiên. Nga coi Hàn Quốc là người bạn hợp tác kinh tế - thương mại quan trọng ở châu á - Thái Bình Dương, hy vọng thu hút đầu tư  của Hàn Quốc để giúp Nga khai phá vùng Viễn Đông và Sibiri. Tháng 4/1992, Tổng thống Nga B. Yeltsin thăm Hàn Quốc và hai bên đã ký "Hiệp ước nguyên tắc về quan hệ Nga - Hàn" và một loạt hiệp định khác. Sau đó, quan hệ hai nước phát triển tương đối nhanh, kim ngạch buôn bán có xu hướng tăng mạnh. Đối với CHDCND Triều Tiên, Nga cố gắng hàn gắn quan hệ như cử phái đoàn đến Bình Nhưỡng thảo luận tình hình bán đảo Triều Tiên và quan hệ song phương thông qua đối thoại chính trị, hợp tác kinh tế. Nga đề xuất một dự án là ba nước (Nga, Hàn Quốc, CHDCND Triều Tiên) sẽ cùng nhau triển khai hợp tác kinh tế để hỗ trợ cho nhau. Lãnh đạo Nga đã thực hiện chuyến công du tới CHDCND Triều Tiên và hai bên đã ký được Hiệp ước hữu nghị và các hiệp định khác như Hiệp định về đường sắt từ Seoul đi Matxcva, Hiệp định hợp tác về tên lửa, về khoa học - kỹ thuật... CHDCND Triều Tiên muốn thúc đẩy quan hệ buôn bán với Nga, muốn được Nga cung cấp các thiết bị quân sự và ủng hộ về tinh thần trong quan hệ với Mỹ và Hàn Quốc. Kim ngạch buôn bán hai chiều Nga - CHDCND Triều Tiên mỗi năm tăng khong 5%, và đạt mức 105 triệu USD trong năm 2000.


Các chuyến thăm của Tổng thống V.Putin tới Bình Nhưỡng (7/2000);  của Chủ tịch Kim Jong-il tới Matxcva đầu tháng 8/2001 và tháng 8/2002 là bước tiến quan trọng trong quan hệ Nga - CHDCND Triều Tiên. Nga không chỉ muốn tăng cường quan hệ với CHDCND Triều Tiên vì những lợi ích chiến lược riêng của mình, mà còn muốn đặt mình vào vị trí "trung gian môi giới" giữa CHDCND Triều Tiên và phương Tây. Tổng thống Nga V.Putin là người chủ trưng khôi phục mối quan hệ hữu nghị từ thời Liên Xô với CHDCND Triều Tiên, với mục tiêu chính là nối lại mối quan hệ làm ăn kinh tế mà cả Nga và CHDCND Triều Tiên đều đang rất cần. Đồng thời, những kết quả đạt được trong các chuyến thăm Nga của Kim Jong-il cũng là nhân tố tác động thúc đẩy tiến trình hoà giải quan hệ liên Triều đang bị đình trệ.




Về phía Nhật Bản: Chính sách của Nhật Bản đối với bán đảo Triều Tiên dựa trên 4 nguyên tắc: Một là, hoà bình và ổn định trên bán đảo Triều Tiên là quan trọng đối với hoà bình và ổn định của Nhật Bản và Nhật Bản ủng hộ tiến trình hoà bình trên bán đảo này. Hai là, vấn đề Triều Tiên cần phi do chính người Triều Tiên giải quyết. Ba là, duy trì và phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với Hàn Quốc là một trong những ưu tiên cao nhất của chính sách đối ngoại Nhật Bản. Bốn là, cải thiện quan hệ với CHDCND Triều Tiên sẽ được thực hiện trong khuôn khổ 3 nguyên tắc trên.

Đồng thời, Nhật Bản đặt ra 3 điều kiện quan trọng để nối lại cuộc thương lượng bình thường hoá với CHDCND Triều Tiên: Thứ nhất, thương lượng không điều kiện, tức là mọi vấn đề đều có thể thảo luận tại bàn đàm phán, trong đó có vấn đề công khai hoá chưng trình hạt nhân của CHDCND Triều Tiên và quan hệ Nam - Bắc Triều Tiên. Thứ hai, các chuyến thăm Nhật Bản của các bà vợ mang hộ chiếu Nhật Bản của các công dân CHDCND Triều Tiên phi được tăng lên 3 đến 4 lần trong một năm và ít nhất 100 người mỗi lần. Thứ ba, Bình Nhưỡng phi chính thức cám ơn Nhật Bản về việc Nhật Bản cung cấp cho CHDCND Triều Tiên các viện trợ lương thực thông qua Liên hợp quốc. Tuy nhiên, quan điểm của Nhật Bản vẫn là: phi giải quyết hoàn toàn vấn đề hạt nhân và vấn đề tên lửa của CHDCND Triều Tiên, cũng như việc cải thiện quan hệ liên Triều trước khi bình thường hoá quan hệ Nhật Bản - CHDCND Triều Tiên.




Về phía Mỹ: Trong bối cảnh kết thúc chiến tranh lạnh, Mỹ công khai tăng cường ảnh hưởng ở bán đảo Triều Tiên, luôn duy trì một lực lượng quân sự ở Hàn Quốc một là để thực thi "sứ mệnh" đm bo lòng tin cho Hàn Quốc phía sau khu phi quân sự chia cắt hai miền; hai là nhằm ngăn chặn "mối xung đột giữa các cựu thù trong lịch sử" là Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên; ba là ngăn chặn ảnh hưởng của Nga ở khu vực và bốn là nắm quyền chủ đạo trong việc cải thiện quan hệ với CHDCND Triều Tiên. Đặc biệt là từ khi G.W Bush lên cầm quyền ở Mỹ chiến lược của Mỹ đối với bán đo Triều Tiên càng mang nặng tính cứng rắn hơn. Trong chiến lược châu á - Thái Bình Dương của Mỹ, chính quyền Bush đã đặt vị trí ưu tiên vào việc ngăn chặn sự phát triển của Trung Quốc trong khu vực, coi trọng Nhật Bản và phát triển quan hệ đồng minh Mỹ - Nhật, từ đó tạo ra những bất ổn định ở khu vực Đông Bắc á.


Theo quan điểm của Mỹ, sự thống nhất của Triều Tiên là nhân tố hàng đầu làm lung lay vị thế của Mỹ trong khu vực Đông Bắc á và cả ở châu á - Thái Bình Dương vốn đã được khẳng định trong nhiều thập kỷ qua. Khi hai miền Triều Tiên thống nhất, Mỹ sẽ không có lý do nào để biện hộ cho sự có mặt về quân sự của mình ở khu vực này. Vì thế, chính sách của Mỹ dưới thời G.W.Bush ngày càng thể hiện sự can thiệp sâu vào công việc nội bộ của Triều Tiên. Chuyến thăm của Tổng thống Mỹ G.W.Bush tới Hàn Quốc (tháng 2/2002) cho thấy sự can thiệp hết sức  cứng rắn  , cố ý làm chậm quá trình tái thống nhất Triều Tiên bằng cách cường điệu hoá "mối nguy hiểm" của chương trình phát triển hạt nhân và chương trình phát triển tên lửa của CHDCND Triều Tiên không chỉ đối với Mỹ, mà còn đối với cả Hàn Quốc và Nhật Bản...
From : ???

Publicité
Tag(s) : #Dư Luận Chính Trị Thế Giới
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :