Publicité

Kinh Dịch (giản thể: 易经; phồn thể: 易經, phiên âm tiếng Hán Hanyu Pinyin): Yì Jīng......, các kiểu Latinh hóa khác: I Jing, Yi Ching, Yi King) là bộ sách kinh điển rất lâu đời của người Trung Hoa mà đến nay người ta vẫn chưa biết rõ nguồn gốc, tuy đã có truyền thuyết là nó có nguồn từ các dân tộc Bách Việt vào thời các vị vua thời Thần nông.

Nó là một hệ thống tư tưởng triết học của người Trung Hoa cổ đại. Tư tưởng triết học cơ bản dựa trên cơ sở của sự cân bằng thông qua sự đối kháng và thay đổi (chuyển dịch)  Ban đầu, Kinh Dịch được coi là một hệ thống để bói toán, nhưng sau đó được phát triển thêm với các nhà triết học Trung Hoa. Cho tới nay, Kinh dịch đã được bổ sung các nội dung nhằm diễn giải ý nghĩa cũng như truyền đạt các tư tưởng triết học cổ Trung Hoa và được coi là một tinh hoa của cổ học Trung hoa, nó được vận dụng vào rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống như thiên văn, địa lý, quân sự, nhân mệnh v.v.



 

Ý nghĩa

Kinh (經 jīng) có nghĩa là một tác phẩm kinh điển, trong tiếng Hoa có gốc gác từ "quy tắc" hay "bền vững", hàm ý rằng tác phẩm này miêu tả những quy luật tạo hóa không thay đổi theo thời gian.


Dịch (易 yì) có nghĩa là "thay đổi" hay "chuyển động".

Khái niệm ẩn chứa sau tiêu đề này là rất sâu sắc. Nó có ba ý nghĩa cơ bản có quan hệ tương hỗ như sau:


Giản dị – thực chất của mọi thực thể. Quy luật nền tảng của mọi thực thể trong vũ trụ là hoàn toàn rõ ràng và đơn giản, không cần biết là biểu hiện của nó là khó hiểu hay phức tạp.
Biến dịch – hành vi của mọi thực thể. Mọi vật trong vũ trụ là liên tục thay đổi. Nhận thức được điều này con người có thể hiểu được tầm quan trọng của sự mềm dẻo trong cuộc sống và có thể trau dồi những giá trị nhân bản để có thể xử sự trong những tình huống khác nhau.
Bất dịch – bản chất của thực thể. Mọi vật trong vũ trụ là luôn thay đổi, tuy nhiên trong những thay đổi đó luôn luôn tồn tại nguyên lý bền vững — quy luật trung tâm — là không đổi theo không gian và thời gian.

Tóm lại:

Vì biến dịch, cho nên có sự sống.
Vì bất dịch, cho nên có trật tự của sự sống.
Vì giản dị, nên con người có thể qui tụ mọi biến động sai biệt thành những quy luật để tổ chức đời sống xã hội.

 

Lịch sử ra đời
Kinh Dịch được cho là có nguồn gốc từ huyền thoại Phục Hi (伏羲 Fú Xī). Theo nghĩa này thì ông là một nhà văn hóa, một trong những người cai trị Trung Hoa sớm nhất (khoảng 2852-2738 TCN, theo huyền thoại), người sáng tạo ra bát quái (八卦 bā gùa)  biến hợp của ba hào. Vào thời gian vua Vũ (禹 Yǔ) nhà Hạ, bát quái đã phát triển thành quẻ, có tất cả sáu mươi bốn quẻ (六十四卦 lìu shí­ sì gùa), được ghi chép lại trong kinh Liên Sơn (連山 Lián Shān) còn gọi là Liên Sơn Dịch. Liên Sơn, có nghĩa là "các dãy núi liên tiếp" trong tiếng Hoa, bắt đầu bằng quẻ Thuần Cấn (艮 gèn) (núi), với nội quái và ngoại quái đều là Cấn (tức hai ngọn núi liên tiếp nhau) hay là Tiên thiên bát quái.



Sau khi nhà Hạ bị thay thế bởi nhà Thương, các quẻ sáu hào được suy diễn ra để tạo thành Quy Tàng (歸藏 Gūi Cáng; còn gọi là Quy Tàng Dịch), và quẻ Thuần Khôn (坤 kūn) trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên. Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua Văn Vương nhà Chu diễn giải quẻ (gọi là soán) và khám phá ra là quẻ Thuần Càn (乾 qián) (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong Thoán từ (卦辭 guà cí) và quẻ Thuần Càn trở thành quẻ đầu tiên. Hậu thiên bát quái ra đời.

Khi vua Vũ Vương nhà Chu (con vua Văn Vương) tiêu diệt nhà Thương, em ông là Chu Công Đán tạo ra Hào từ (爻辭 yáo cí), để giải thích dễ hiểu hơn ý nghĩa của mỗi hào trong mỗi quẻ. Tính triết học của nó ảnh hưởng mạnh đến chính quyền và văn học thời nhà Chu (khoảng 1122-256 TCN).



Muộn hơn, trong thời kỳ Xuân Thu-Chiến Quốc (khoảng 722-481 TCN), Khổng Tử đã viết Thập Dực (十翼 shí yì), để chú giải Kinh Dịch. Vào thời Hán Vũ Đế (漢武帝 Hàn Wǔ Dì) của nhà Tây Hán (khoảng 200 TCN), Thập Dực được gọi là Dịch truyện (易傳 yì zhùan), và cùng với Kinh Dịch nó tạo thành Chu Dịch (周易 zhōu yì). Những đoạn thêm vào sau này của Chu Dịch chỉ đơn thuần là phần giải thích vì ý nghĩa của các quẻ Kinh Dịch quá thâm thúy.



Trong hơn 50 năm qua, lịch sử của Kinh Dịch được hiên đại, dựa trên cơ sở các phê phán và tìm kiếm bản khắc mai rùa thời Thương và Chu cũng như bản khắc trên đồ đồng thời Chu và các nguồn khác .Việc xây dựng lại nguồn gốc của Kinh Dịch này có quan hệ với một loạt các cuốn sách như The Mandate of Heaven: Hidden History in the I Ching của tác giả: S. J. Marshall và Zhouyi: The Book of Changes của Richard Rutt, .Các nghiên cứu khoa học có liên quan đến cách hiểu mới về Kinh Dịch bao gồm các luận án tiến sĩ của Richard Kunst và Edward Shaughnessy. Các công trình khoa học này được giúp đỡ rất nhiều bởi phát hiện trong những năm 1970 của các nhà khảo cổ học Trung Quốc về các ngôi mộ cổ còn gần như nguyên vẹn từ thời nhà Hán ở Mã Vương Đôi (馬王堆) gần Trường Sa, tỉnh Hồ Nam. Một trong các ngôi mộ chứa bản Kinh Dịch gần như còn hoàn hảo vào khoảng thế kỷ 2 TCN, Đạo Đức Kinh và các tác phẩm khác, nói chung rất giống với những bản còn tồn tại đến ngày nay tuy có một số sai biệt đáng kể.



Văn bản trong ngôi mộ cổ bao gồm cả những chú giải bổ sung của Kinh Dịch mà trước đây người ta không được biết và có vẻ như được viết ra (như người ta vẫn gán cho) bởi Khổng Tử. Mọi văn bản trong ngôi mộ ở Mã Vương Đôi là sớm hơn vài thế kỷ so với các bản sớm nhất được công nhận. Khi nói về sự tiến hóa của Kinh Dịch các nhà khoa học nghiêng về xu hướng hiện đại cho rằng đây là điều quan trọng để phân biệt giữa văn bản của Kinh Dịch truyền thống và văn bản giống như Kinh Dịch (mà theo họ là sai niên đại), nằm trong những chú giải được thần thánh hóa suốt hàng thế kỷ cùng với chủ thể của chúng, và các nghiên cứu lịch sử gần đây nhất còn nhận được hỗ trợ bởi các phê phán của các nhà ngôn ngữ học hiện đại và khảo cổ học. Nhiều người cho rằng các văn bản này không nhất thiết phải loại trừ lẫn nhau, nhưng nhiều nhà khoa học hiện đại nghi ngờ về sự tồn tại thật sự của Phục Hi cũng như cho rằng Khổng Tử không làm gì cho Kinh Dịch cả. Một số học giả khác cho rằng đồ hình của Kinh Dịch là sản phẩm của nền văn minh Thần Nông (ở phía nam sông Dương Tử) mà sau này người Hoa Hạ đã học tập và phát triển lên. Luận cứ của họ không phải là không có cơ sở khoa học khi mà một số tên quẻ cũng như diễn giải quẻ của người Trung Quốc từ xưa tới nay đôi khi còn rất mơ hồ.



 

Cấu trúc
Các biểu tượng của Kinh Dịch là nằm trong sự biến hợp của 64 quẻ ( các đường trừu tượng gọi là quẻ (卦 guà). Mỗi quẻ bao gồm 6 hào (爻 yáo) được biểu diễn dưới dạng các đoạn thẳng nằm ngang; mỗi hào này có thể là Dương (đường liền nét) hay Âm (đường đứt nét bao gồm hai đoạn thẳng cách nhau một khe nhỏ). Với sáu đoạn thẳng này được đặt lên nhau từ dưới lên trên , suy ra có 64 quẻ.



 

Mỗi quẻ đại diện cho một trạng thái, tiến trình hay sự thay đổi có thể xảy ra. Khi quẻ được gieo bằng một trong những phương thức của bói toán bằng Kinh Dịch thì mỗi một đường (hào) có thể là tĩnh hoặc động. Hào động có thể có sự thay đổi từ Âm sang Dương hay ngược lại để tạo thành một quẻ khác, việc giải nghĩa của quẻ được gieo ban đầu dựa trên sự cân nhắc và xem xét các thay đổi đó.

Các phương pháp truyền thống để gieo quẻ sử dụng số ngẫu nhiên để sinh ra quẻ, vì thế 64 quẻ này là không đồng nhất xét về xác suất.

Có một số hình thức khác nhau sắp xếp quái và quẻ. Bát quái (八卦 bā gùa) là sự sắp xếp của các quái, thông thường là trên gương hoặc đĩa. Truyền thuyết cho rằng Phục Hi đã tìm thấy bát quái được viết trên mai rùa (Xem Hà Đồ). Kiểu sắp xếp tám quái dựa trên suy diễn này gọi là Tiên thiên bát quái.

Sự sắp xếp của vua Văn Vương được gọi là Hậu thiên bát quái. (Xem Lạc Thư)



 

Thành phần hợp thành của quẻ
Vạch liền là Dương, được coi là thành phần sáng tạo, tích cực. Vạch đứt là Âm, là thành phần tiếp thụ, thụ động. Mỗi một vạch (liền hoặc đứt) là một hào. Các thành phần này được biểu diễn trong một biểu tượng hình tròn chung (☯), được biết đến như Thái Cực đồ  (太極圖 taijitu), nhưng nói chung người ta gọi tắt là đồ Âm-Dương (陰陽 yin-yang), miêu tả quan hệ giữa hai trạng thái của mọi thay đổi, chuyển dịch: khi Dương đạt tới cực đỉnh thì Âm bắt đầu phát sinh và ngược lại. Thái Cực đồ cũng là nguyên lý phát sinh Âm-Dương.


Vô Cực sinh Thái Cực

Thái Cực sinh Lưỡng Nghi

Lưỡng Nghi sinh Tứ tượng

Tứ Tượng sinh Bát Quái

Bát Quái biến hóa ra vô cùng


Trong đó:

Vô Cực tương đương trong Lão giáo là Vô Vi - có thể coi là hư vô; không có gì thuộc về vật chất, có thể tạm coi như trạng thái trước khi xảy ra vụ nổ lớn Big Bang trong khoa học phương Tây??
Thái Cực có thể tạm coi như trạng thái tại thời điểm xảy ra vụ nổ lớn Big Bang trong khoa học phương Tây??
Lưỡng Nghi là hai thành phần Âm và Dương.
Tứ Tượng là Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm.
Trong danh sách sau, quái và quẻ được biểu diễn bằng cách sử dụng các quy ước thông thường trong soạn thảo văn bản theo chiều ngang từ trái qua phải, với ký hiệu '|' cho Dương và ':' cho Âm. Lưu ý rằng, biểu diễn trong thực tế của quái và quẻ là các đường theo chiều đứng từ thấp lên cao (có nghĩa là để hình dung ra quái hay quẻ trong thực tế, ta cần phải quay đoạn văn bản biểu diễn chúng ngược chiều kim đồng hồ một góc 90°).

 



Có tám quái hay bát quái (八卦 bāguà) tạo thành do biến hợp chập ba của Âm và/hoặc Dương:

Sô  Quái  Tên  Bản chất tự nhiên  Hướng theo Hậu Thiên Bát Quái 
1  ||| (☰)  Càn (乾 qián)  Trời (天)  tây bắc> 
2  ||: (☱)  Đoài (兌 duì)  Đầm (hồ) (澤)  tây 
3  |:|(☲)  Ly (離 lí)  Hỏa (lửa) (火)  nam 
4  |:: (☳)  Chấn (震 zhèn)  Sấm (雷)  đông 
5  :|| (☴)  Tốn (巽 xùn)  Gió (風)  đông nam 
6  :|: (☵)  Khảm (坎 kǎn)  Nước (水)  bắc 
7  ::| (☶)  Cấn (艮 gèn)  Núi (山)  đông bắc 
8   ::: (☷)  Khôn (坤 kūn)  Đất (地)  tây nam 


Ba hào dưới của quẻ, được gọi là nội quái, được coi như xu hướng thay đổi bên trong. Ba hào trên của quẻ, được gọi là ngoại quái, được coi như xu hướng thay đổi bên ngoài (bề mặt). Sự thay đổi chung của quẻ là liên kết động của những thay đổi bên trong và bên ngoài. Vì vậy, quẻ số 13 (|:||||) Thiên Hỏa đồng nhân, bao gồm nội quái |:| (Ly hay Hỏa), liên kết với ngoại quái ||| (Càn/Trời). Ý nghĩa của quẻ này người Trung Quốc và Việt Nam hiểu tương đối khác nhau. Người Trung Hoa hiểu theo nghĩa mối quan hệ của con người với đất đai còn người Việt hiểu theo nghĩa mối quan hệ hòa hài của con người đối với vũ trụ nói chung.


Triết học
Sự phát triển của hình thức biểu diễn nhị phân dựa trên Âm và Dương (Thái Dương, Thái Âm; Thiếu Dương hay Thiếu Âm)  là những nền tảng để quẻ được xây dựng nên từ đó. Âm và Dương có liên quan đến nhiều trường phái khác nhau của văn minh Trung Hoa cổ đại, đặc biệt là liên quan đến Lão giáo.


Một cách nhìn nhận khác cho rằng Kinh Dịch là những văn bản đạo đức hay triết học khởi thủy của đạo Khổng. Cách nhìn nhận này dựa trên các yếu tố sau:

Thập Dực hay các chú giải bổ sung là do Khổng Tử viết.
Việc nghiên cứu Kinh Dịch là một phần bắt buộc của các sĩ tử trước khi đi thi trong chế độ phong kiến. Các kỳ thi này chỉ hỏi về các tài liệu liên quan đến Khổng giáo.
Nó là một trong Ngũ Kinh của đạo Khổng.
Nó không xuất hiện trong bất kỳ thư tịch nào còn sót lại của Dao Zheng.
Phần lớn các chú giải chính được viết bởi những người theo Khổng giáo hay tân Khổng giáo.

Cả hai cách nhìn nhận này đã chứng minh rằng Kinh Dịch là nền tảng của các triết lý Trung Hoa, là nền tảng cho cả hai trường phái Khổng - Lão. Từng bị lãng quên khi đạo Phật phát triển ở Trung Quốc thời nhà Đường, Kinh Dịch đã nhận được nhiều sự chú ý hơn từ các trường phái trong thời kỳ nhà Tống. Nó đi kèm theo với sự đánh giá lại đạo Khổng bởi những người theo Khổng giáo trong sự kết hợp với các triết lý trừu tượng của đạo Lão và đạo Phật, và được biết đến ở phương Tây như là tân Khổng giáo. Kinh Dịch đã giúp cho các triết gia Khổng giáo thời Tống tổng hợp các thuyết vũ trụ học của đạo Lão và đạo Phật cùng với các luân lý của đạo Khổng và đạo Lão. Sản phẩm cuối cùng là một thuyết vũ trụ học mới, có thể liên quan đến cái gọi là "Đạo đã mất" của Khổng Tử và Mạnh Tử.



 


Bói toán bằng Kinh Dịch, còn gọi là bói Dịch, là một phép bói toán dựa trên Kinh Dịch.


Giới thiệu
Trước khi khoa học dự đoán phát triển thành ngành khoa học, thuật xem bói, xem tướng đã phát triển. Với nhiều dân tộc, thời nguyên thủy hay văn minh, thường tồn tại các hình thức xem bói. Trong thời đại tiền sử thần quyền, các bộ lạc cư trú dọc theo các sông lớn, sống bằng nghề đánh cá, săn bắn và hái lượm, nhu cầu cuộc sống đòi hỏi họ phải tìm hiểu sự biến đổi của tự nhiên. Vì thế xuất hiện một số người chuyên đi tìm những điều bí ẩn đó.



Người Trung Hoa xưa xem bói bằng mai rùa (bốc 卜 - bói giáp cốt) và bói bằng cỏ thi (phệ 筮). Hai chữ bốc phệ là từ ghép của hai cách bói này. Sau đó, người ta đơn giản hóa việc lấy quẻ Dịch bằng cách gieo đồng xu (còn gọi là lắc hào).

Việc bói muốn thành công phải có lễ nghi và sự thành khẩn. Trong bốc phệ, người ta coi trọng sự cảm ứng. Người xem bói phải cảm (tức là thành khẩn) thì thần minh mới ứng (đáp ứng, trả lời). Những người bói toán thường vin vào đây để chống chế cho những lời giải đoán sai lạc tối tăm của họ: Vì người xem bói không thành khẩn nên quẻ bói không linh nghiệm.



Dịch kinh là sách xem bói, tức là phản ánh cách xem bói bằng mai (yếm) rùa, bói bằng cỏ thi thời bấy giờ. Nó bàn về bản chất xem bói mai rùa, cỏ thi, nó liên hệ chặt chẽ với giới tự nhiên và thần bí. Về sau, nó trở thành một sách triết lý tổng hợp những tư tưởng về vũ trụ quan, nhân sinh quan của dân tộc Trung Hoa thời Tiên Tần, qua đời nhà Hán, nó bắt đầu có màu sắc tượng số học, muốn giải thích vũ trụ bằng biểu tượng và số mục; tới đời Ngũ đại, được dùng trong môn lý số và tới đời nhà Tống, nó thành lý học. Kinh Dịch không chỉ là sách xem bói mà còn mang tinh triết lý và tư tưởng, "từ một sách bói mà thành một sách triết." (Nguyễn Hiến Lê - Kinh Dịch, đạo của người quân tử, NXB Văn học, 1992).

Sau này, trên cơ sở học thuyết âm dương, ngũ hành, Ðồ hình Phương vị Tiên thiên bát quái, Ðồ hình Phương vị Hậu thiên bát quái,... Khổng Minh (tức Gia Cát Lượng) - vị quân sư và đại thần của nước Thục thời hậu Hán, Hi Di Trần Ðoàn - cuối đời nhà Ðường , đầu thời Bắc Tống, Thiệu Ung (hiệu là Khang Tiết tức Thiệu Tử) - đời Bắc Tống, cùng các nhà lý số khác đã kết hợp với Hà đồ, Lạc đồ, Thiên can, Ðịa chi, các Tiết khí trong năm... để xây dựng nên nhiều môn lý số nổi tiếng như Khổng Minh thần toán, Tử vi, Bát tự Hà Lạc, Tử bình, Mai Hoa Dịch số, Ðộn giáp, Thái Ất...



Nhiều người nhìn nhận bói dịch cao cấp hơn các loại bói khác. Con người ta lúc bình thường xem bói và lúc bất thường cũng xem bói. Tại Hệ từ thượng, của Chu Dịch, chương II có nói "Quân tử cư tắc quan kỳ tượng, nhi ngoan kỳ từ, động tắc quan kỳ biến nhi ngoạn kỳ chiêm..." nghĩa là "Người quân tử lúc ở yên thì xem tượng mà ngẫm nghĩ đến lời văn; khi hoạt động thì xem sự biến đổi mà ngẫm nghĩ đến lời đoán...".

Nhiều nhà nho để tâm nghiên cứu Kinh Dịch để tìm cách ứng xử của con người trong hoàn cảnh cụ thể, qua khoa học biến Dịch để hiểu thời cuộc, tiên tri thời thế.



Trong lời tựa cuốn Dịch kinh phu thuyết, Lê Quý Ðôn nhấn mạnh: "Cái học Kinh Dịch của người sĩ quân tử không chỉ dừng lại ở việc xem tượng chơi từ xét biến hoá để cho vui, mà cần phải lưu ý suy nghĩ đến việc trao đổi đức hạnh để ngầm hiểu ý của thánh nhân; ý đó nằm ngoài lời của sách. Như vậy mới được." (Lê Quý Ðôn, bài tựa cho sách Dịch kinh phu thuyết).



Ngày nay, bói Dịch không còn là sản phẩm của sự bị động tiêu cực như trước đây nữa mà đã trở thành phương tiện khoa học của con người nhận biết thiên nhiên và lợi dụng thiên nhiên. Bói Dịch không còn là vấn đề quyết định con người làm hay không làm mà là quyết định của con người làm như thế nào.

Ðiều khó khăn trong việc xem bói không phải là ở hình thức. Nghi lễ bói tuy phiền phức, rườm rà nhưng chỉ cần nhớ các thao tác là có thể làm được. Cái khó của việc xem bói là phán đoán sau khi gieo được quẻ. Cần nhạy cảm, cân nhắc kỹ lưỡng, phán đoán chu đáo. Nhà dự đoán học không chỉ có dựa vào quẻ bói, mà phải có kinh nghiệm dồi dào, mẫn cảm với tình hình thực tế để từ đó suy đoán sự việc cho hợp lôgic, phân tích vần đề một cách biện chứng ....

Publicité
Tag(s) : #Tâm linh - Tôn giáo
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :