Publicité

Biển Đông: Quyền lợi kinh tế và tinh thần dân tộc
Hải quân Việt Nam tuần tra trên quần đảo Trường Sa

Cách đây mấy năm, trong một cuộc gặp gỡ quanh bàn tiệc ở Úc, có người nêu lên vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa, một cán bộ khá cao cấp và có học thức đến từ Hà Nội, nhún vai đáp: “Đó chỉ là mấy hòn đảo hoang nhỏ xíu thôi mà!” Rồi ông lái câu chuyện sang hướng khác. Có lẽ vì lịch sự, không ai quay lại câu chuyện ấy nữa. Tất cả đều quen biết nhau cả. Gần đây, đọc các blog trong nước, tôi lại bắt gặp câu nói tương tự từ các cán bộ cao cấp trong nước, cũng liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa: “Ồ, mấy cái đảo ấy toàn cát, chỉ có chim ỉa, chứ có gì đâu mà làm ghê vậy!”
 
Mới biết đó là quan điểm thật. Nếu không phải đảng và chính quyền thì ít nhất cũng của một số, có lẽ không ít, cán bộ cao cấp trong bộ máy đảng và chính quyền Việt Nam.
 
Quả thật, về phương diện diện tích, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không có gì đặc biệt.
 
Hoàng Sa gồm khoảng 30 đảo, bãi đá, hòn đá và cồn, nhưng tất cả đều rất nhỏ. Lớn nhất là đảo Phú Lâm cũng chỉ dài chưa tới 4 cây số và rộng chưa tới 3 cây số. Còn đảo Hoàng Sa thì chỉ dài có 900 mét và rộng khoảng 700 mét, diện tích tổng cộng chỉ khoảng 0,3 cây số vuông, kể cả vòng san hô chung quanh. Các đảo khác cũng tương tự, khoảng 1/3 cây số vuông. Như Hoàng Sa. Còn những cái gọi là cồn hay hòn thì có khi chỉ là những mỏm san hô nổi lên trên mặt nước.
 
Trường Sa lớn hơn, gồm đến gần 140 đảo, đá và bãi. Nhưng tất cả cũng đều rất nhỏ. Gộp chung lại, tất cả chỉ có diện tích khoảng 11 cây số vuông. Trong số đó, được chú ý nhất là đảo Song Tử Đông rộng 250 mét, dài 900 mét; đảo Song Tử Tây rộng 300 mét, dài 700 mét; đảo Thị Tứ rộng 550 mét, dài 700 mét; đảo Sinh Tồn – được biết nhiều qua bài thơ “Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn” của Trần Đăng Khoa (1) – chỉ rộng có 140 mét và dài khoảng 400 mét. Đã nhỏ, hầu hết các đảo ấy đều thiếu nước ngọt trầm trọng. Do đó, dân cư rất thưa thớt. Hầu hết những người hiện diện trên các đảo đều là bộ đội.
 
Tuy nhiên, ở đây có mấy điều cần chú ý. Thứ nhất, Trung Quốc không phải chỉ muốn chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Họ còn muốn chiếm ít nhất là 80% tổng diện tích của Biển Đông. Thứ hai, đảo không phải chỉ là những hòn đá hay thửa đất nổi trên mặt biển mà còn bao gồm tất cả các nguồn tài nguyên thiên chứa chất dưới chúng cũng như dưới đáy biển chung quanh chúng. Và thứ ba, không nên quên điều quan trọng này: ngoài ý nghĩa địa lý, dân cư và kinh tế, các hòn đảo và vùng biển chung quanh chúng còn có ý nghĩa chiến lược quân sự quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn vong, hoặc ít nhất, sự phát triển của quốc gia.
 
Thứ nhất, đứng về phương diện kinh tế, Biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có mấy ý nghĩa chính. Một, đó là nguồn cung cấp cá và hải sản quan trọng, chiếm khoảng 7-8% tổng sản lượng cá biển và hải sản trên cả thế giới. Riêng với Việt Nam, đó là nguồn cung cấp cá biển và hải sản duy nhất cho cả 90 triệu dân (chưa nói đến chuyện xuất khẩu) và là nguồn sinh kế của cả mấy chục ngàn ngư dân nằm dọc theo các tỉnh duyên hải. Hai, đó cũng là một trong những bồn dầu khí lớn nhất thế giới. Trữ lượng dầu khí ở đó, theo sự ước lượng của Mỹ, lên đến khoảng 28 tỉ thùng, đủ để cung cấp cho cả thế giới trong vòng một năm; theo Trung Quốc, lạc quan hơn, khoảng 200 tỉ thùng, đủ cung cấp cho cả thế giới khoảng sáu năm rưỡi.

Thứ hai, về phương diện chiến lược, Biển Đông là một trong những con đường hàng hải quan trọng nhất thế giới. “Mỗi ngày có khoảng từ 150 - 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên. […] 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông. Lượng dầu lửa và khí hoá lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama. […] Hàng năm có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hoá xuất khẩu của Nhật Bản được vận chuyển qua Biển Đông. Trung Quốc có 29/39 tuyến đường hàng hải và khoảng 60% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển qua Biển Đông.”
 
Trên con đường hàng hải quan trọng ấy, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đặc biệt là Trường Sa, có vị trí như một cái yết hầu, từ đó, người ta có thể kiểm soát tất cả các tàu bè qua lại. Bởi vậy, nhiều nhà nghiên cứu chiến lược mới khẳng định: quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Trường Sa sẽ khống chế được toàn bộ Biển Đông. Mà khống chế Biển Đông cũng là khống chế hầu hết các nước ở châu Á và tất cả các quốc gia giàu có trên thế giới, những nước có quan hệ thượng mại với châu Á.
 
Cả hai khía cạnh kinh tế và chiến lược nói trên đều khá hiển nhiên. Hầu như ai cũng thấy. Nhưng Biển Đông và các hòn đảo trên Biển Đông còn có ý nghĩa thứ ba này nữa, cũng quan trọng không kém: nó gắn liền với tinh thần dân tộc.
 
Không có quốc gia nào, dù cởi mở đến mấy, có thể phát triển hùng mạnh mà không dựa trên tinh thần dân tộc. Với những nước đang phát triển, khi kinh tế và văn hóa chưa ở độ cao của toàn cầu hóa, tinh thần dân tộc lại càng mạnh và lại càng cần thiết: nó là yếu tố thiết yếu để nối kết mọi người lại với nhau, để nhắm đến một mục tiêu và một lý tưởng chung; nó cũng là nguồn động lực để gây sức mạnh, giúp mọi người chịu đựng được gian khổ hầu thúc đẩy đất nước ngày một tiến bộ. Nói theo các nhà nho cách mạng ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20, đó chính là hồn nước. Ý thức dân tộc ấy xem bất cứ cái gì thuộc lãnh thổ của mình, dẫu chỉ là những hòn đảo nhỏ nhoi và xa xôi, đều là những gì thiêng liêng được đánh đổi bằng xương máu của tổ tiên trong cả hàng ngàn năm, hoặc ít nhất, hàng trăm năm nay.
 
Đối diện với những di sản thiêng liêng ấy, người ta phải có trách nhiệm bảo vệ, có khi ngay cả bằng xương máu của chính mình.
 
Không phải chỉ với người Việt Nam. Khi người Nhật Bản và Hàn Quốc kiên quyết chống đối Trung Quốc để bảo vệ những hòn đảo xa lắc, không có người ở và cũng không có triển vọng chứa đựng bất cứ tài nguyên thiên nhiên nào, họ cũng đều hành xử trong tinh thần như thế. Những hòn đảo ấy chỉ có giá trị tượng trưng cho chủ quyền quốc gia. Vậy thôi. Nhưng dù vậy, họ vẫn giữ một cách đầy quyết tâm, bất chấp mọi hậu quả.
 
Người Việt Nam vẫn thường tự hào về truyền thống yêu nước và bất khuất của mình. Không ai có thể chấp nhận xem những vùng biển quan trọng như thế và những hòn đảo đã từng thấm đẫm máu của cha anh mình như thế, chỉ là những mảnh đất hoang đầy cứt chim như lời một số cán bộ cao cấp tuyên bố.

 

 

 

Nghị quyết đã được Thượng viện Mỹ thông qua vào thứ Hai, chỉ trích các hành vi vi phạm luật biển của Trung Quốc, trong đó có việc nước này tự ý in bản đồ mới, ngang nhiên chiếm trọn 80% diện tích Biển Đông và cử các tàu giám sát ra vào tự do tại vùng biển tranh chấp với Nhật Bản.

Trong một tuyên bố, Bộ Ngoại giao Trung Quốc lớn tiếng phản đối nghị quyết của Mỹ: "Nghị quyết trên được đưa ra bởi thiểu số thượng nghị sĩ, trong khi không dựa vào bất kỳ yếu tố lịch sử cũng như hiện tại nào. Đây là một thông điệp sai lầm và vô lý".

Đồng thời, tuyên bố cũng kêu gọi các thượng nghị sĩ có liên quan phải "tôn trọng sự thật" và "sửa chữa sai lầm" của mình để tránh làm phức tạp thêm vấn đề và tình hình khu vực.

Trước đó, Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố Mỹ không được tham gia vào các tranh chấp trên Biển Đông.

 

Sự nguy hiểm của 'hạm đội tàu trắng' Trung Quốc ở Biển Đông

Bắt đầu từ tháng 7/2013 Trung Quốc chính thức thống nhất 4 lực lượng công vụ bán vũ trang trên biển thành Cảnh sát biển Trung Quốc với số lượng hùng hậu nhất từ trước đến nay và được trang bị vũ khí, phương tiện mạnh hơn để thực hiện cái gọi là tuần tra, chấp pháp ở các vùng biển tranh chấp trên Biển Đông và Biển Hoa Đông.

 

Vũ khí hạng nặng trên tàu Cảnh sát biển Trung Quốc

Ngay từ đầu năm 2013 Bắc Kinh đã thông báo sẽ thống nhất lực lượng 4 bộ phận gồm Hải giám của Cục Hải dương quốc gia thuộc Bộ Tài nguyên và đất đai, Ngư chính thuộc Bộ Nông nghiệp, Cảnh sát chống buôn lậu của Tổng cục Hải quan và Cảnh sát biển của Bộ Công an.

Trong mấy tháng qua hàng trăm chiếc tàu tuần tra của các lực lượng này đã được sơn lại, một số tàu được trang bị vũ khí hạng nặng và tất cả nhân viên thay đồng phục Cảnh sát biển - một lực lượng bán quân sự.

Các chiến lược gia Mỹ của trang Strategy cho rằng hoạt động tái cơ cấu các lực lượng của Trung Quốc trên biển phản ánh chiến thuật ưa thích của Bắc Kinh hòng tìm cách khẳng định yêu sách (vô lý và phi pháp) của mình đòi kiểm soát gần như toàn bộ Biển Đông bằng cách (tạm) tránh sử dụng các tàu quân sự.

Thay vào đó nó sẽ phái những tàu Cảnh sát biển sơn trắng ra quấy rối và đe dọa tàu nước ngoài hoạt động trên tuyến hàng hải quốc tế tấp nập ở Biển Đông mà luật pháp quốc tế cho phép, nhưng Bắc Kinh lại coi đó là lãnh hải của họ.

Nếu một trong các bên gọi tàu chiến ra can thiệp khi tàu của họ bị Cảnh sát biển Trung Quốc quấy rối, lúc này Bắc Kinh sẽ lấy cớ để điều động tàu chiến, chiến đấu cơ ra can thiệp.

 

Trong mấy tháng qua, Trung Quốc sơn lại toàn bộ các tàu Hải giám, Ngư chính, Hải quan và Cảnh sát biển thành một loại thống nhất, Cảnh sát biển Trung Quốc, sơn trắng, 1 sọc đỏ đậm 4 sọc xanh lam nghiêng trên thân tàu cho "hợp tiêu chuẩn quốc tế".

Trong mấy tháng qua, Trung Quốc sơn lại toàn bộ các tàu Hải giám, Ngư chính, Hải quan và Cảnh sát biển thành một loại thống nhất, Cảnh sát biển Trung Quốc, sơn trắng, 1 sọc đỏ đậm 4 sọc xanh lam nghiêng trên thân tàu cho "hợp tiêu chuẩn quốc tế".

Một phần của chiến lược nguy hiểm này, trong năm nay Trung Quốc bắt đầu thực thi các quy định mới (vô lý, phi pháp và do Bắc Kinh tự đặt ra) cho phép tàu Cảnh sát biển Trung Quốc hộ tống, hoặc trục xuất tàu nước ngoài trên hầu hết các khu vực thuộc Biển Đông.

Động thái này đang vấp phải sự phản đối quyết liệt từ các quốc gia láng giềng ven Biển Đông.

Các tàu Cảnh sát biển Trung Quốc được sơn toàn thân màu trắng với 1 sọc đỏ đậm 3 sọc xanh lam kẻ vạt nghiêng trên thân tàu là cách để quốc tế công nhận và xác định đó là tàu Cảnh sát biển (Tuần duyên/Bảo vệ bờ biển), lực lượng được xem như ít nguy hiểm hơn so với tàu chiến.

Bắc Kinh đồng thời yêu cầu các tàu dân sự mà chủ sở hữu của những con tàu tư nhân hiểu rằng họ không có lựa chọn khác phải chạy theo những tuyến hàng hải mà Cảnh sát biển nước này muốn chúng đi để nếu tàu nước khác nổ súng xua đuổi tàu Cảnh sát biển Trung Quốc quấy rối nó, Bắc Kinh sẽ lập tức lu loa rằng đó là những kẻ xấu, tàu nước ngoài phạm pháp hay "gây hấn" với Trung Quốc ở Biển Đông.

Trong lực lượng "hạm đội tàu trắng" của Trung Quốc thì Hải giám là hùng hậu nhất. Thành lập năm 1998 thuộc Cục Hải dương quốc gia, Bộ Tài nguyên và đất đai, Hải giám có trách nhiệm tuần tra các vùng biển nó quyên bố chủ quyền và thực thi pháp luật về môi trường trong các khu vực ven biển của nó.

 

Các lực lượng Hải giám, Ngư chính, Hải quan Trung Quốc ở Biển Đông thay đồng phục Cảnh sát biển từ tháng 7/2013.

Hải giám Trung Quốc trước khi hợp nhất có 10 ngàn nhân viên với 300 tàu tuần tra, 10 máy bay.

Khi xảy ra một cuộc đối đầu vũ trang trên các khu vực tranh chấp ở Biển Đông thường thì Trung Quốc phái tàu Hải giám tới "tuần tra" thường xuyên các khu vực này và nó được các bên mô tả là "tàu chiến Trung Quốc".

Cùng với các lực lượng khác (Ngư chính), Trung Quốc đã có hàng trăm tàu lớn trên 1000 tấn, trong đó một số trên 3000 tấn và hàng ngàn tàu nhỏ hơn.

Trung Quốc cũng đang xây dựng (trái phép) các căn cứ nhỏ lẻ trên các đảo tranh chấp ở Biển Đông để có thể phục vụ như cầu cảng neo đậu cho các tàu tuần tra nhỏ.

Cần lưu ý rằng không ít các tàu tuần tra nhỏ được trang bị vũ khí hạng nặng như tên lửa, ngư lôi trong khi một số khác được lắp thêm vũ khí kể từ khi sơn lại tàu thành Cảnh sát biển Trung Quốc.

Bắc Kinh đang đặc biệt "quan tâm" đến quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam, hiện là tâm điểm tranh chấp của 5 nước 6 bên), một nhóm theo các chiến lược gia Mỹ có khoảng 100 đảo nhỏ, bãi ngầm, bãi cạn, rặng san hô với tổng diện tích khoảng 5 km vuông.

 

Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm phi pháp Đá Chữ Thập nằm trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam năm 1988 và xây dựng công sự nhà nổi kiên cố trái phép làm nơi đồn trú cho binh lính và chỉ huy lực lượng quân sự Trung Quốc chiếm đóng trái phép ở Trường Sa.

Tuy nhiên Trung Quốc mở rộng phạm vi pháp lý của quần đảo Trường Sa mà nó đòi "chủ quyền" với tên gọi Nam Sa ra vùng biển rộng 410 ngàn km vuông chỉ bằng một tiểu xảo - đánh tráo khái niệm "quần đảo" thành "quốc gia quần đảo" vốn được quy định rõ ràng trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1992 (UNCLOS) hòng mở rộng phạm vi lãnh hải, xác lập phi pháp vùng kinh tế đặc quyền xung quanh Trường Sa, thậm chí cả Hoàng Sa, theo Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ Việt Nam phân tích.

Tài liệu từ phía Mỹ cho biết trong số khoảng 45 điểm đảo, bãi đá, bãi ngầm, rặng san hô ở Trường Sa hiện nay Việt Nam đang giữ 25 điểm, Trung Quốc chiếm 8 điểm, Philippines 8 điểm, Malaysia 6 điểm và Đài Loan 1 điểm.

Tuy nhiên cả Trung Quốc và Đài Loan đều tuyên bố "chủ quyền" với toàn bộ quần đảo Trường Sa, thậm chí là gần như toàn bộ Biển Đông.

Thủ đoạn nham hiểm của Bắc Kinh sử dụng tàu phi quân sự hoặc bán quân sự như Cảnh sát biển để quấy rối tàu nước ngoài nó muốn xua đuổi ra khỏi vùng biển tranh chấp, cách tiếp cận này ít có khả năng châm ngòi cho một cuộc xung đột vũ trang trên Biển Đông và dễ đánh lừa dư luận khi Trung Quốc tự biến mình thành "nạn nhân" trong các vụ va chạm (có chủ ý của Bắc Kinh).

Những tuyên bố đại loại như Trung Quốc là "nạn nhân" trong chính các trò đùa, âm mưu của nó với các bên tranh chấp như Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei và Đài Loan không được quốc tế thừa nhận.

Ấn Độ và Mỹ đã thông báo rõ ràng rằng họ sẽ không theo sự áp đặt của Trung Quốc ở Biển Đông và các tàu chiến của 2 quốc gia này vẫn mong đợi sẽ tiếp tục di chuyển thoải mái trong các vùng biển quốc tế ở Biển Đông.

 

 

 

From : Blog / Nguyễn Hưng Quốc,..Giáo dục Việt Nam,...

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Publicité
Tag(s) : #Dư Luận Chính Trị VN
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :