10 ĐIỀU NỘI QUI CỦA VÕ ĐƯỜNG SA LONG CƯƠNG
TIÊN HỌC LỄ - HẬU HỌC VÕ , CÓ TÀI PHẢI CÓ ĐỨC
1. Vào Võ đường trước hết phải khoanh tay cúi đầu chào bàn thờ Nhị Vị Sư Tổ, sau đó khoanh tay cúi đầu chào Sư Trưởng, chào Võ Sư, chào Huấn Luyện Viên, cuối cùng khoát tay phải chưởng ngang qua ngực bên trái chào các anh chị đồng môn.
2. Cấm tuyệt đối nói chuyện về Chính Trị, Tôn Giáo và cấm phê bình các Môn Phái khác.
3. Đi học đúng giờ, phải đến sớm trước 15 phút, về đúng giờ.
4. Nghỉ học phải xin phép, vắng mặt 3 buổi không xin phép xem như hết học.
5. Cấm tuyệt đối đi ngang sân, khi đang tập “Bát Quái Chân Quyền” môn sinh không được phép ngồi.
6. Nói năng phải có lễ độ, trên kính dưới hòa.
7. Trong giờ học không được tụ tập nói chuyện, ngồi đúng vào vị trí của mình.
8. Phải tuân theo sự huấn luyện hướng dẫn giảng dạy của Võ Sư và Huấn Luyện Viên.
9. Không được đấu, không được tập bài mới khi chưa có lệnh của Võ Sư hay Huấn Luyện Viên.
10. Đồng phục phải luôn sạch sẻ, nghiêm trang.
Quan niệm:
- Tập võ để biết nguồn gốc dân tộc.
- Tập võ để có sức khỏe giúp ích cho mình và phục vụ xã hội.
- Tuyệt đối không dùng võ thuật để làm điều tàn ác.
- Thể dục – Trí dục – Đức dục.
“ Đức thắng tài vi quân tử,
Tài thắng đức vi tiểu nhân”
Sư Trưởng SA LONG CƯƠNG
VÕ CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
Võ Thuật cổ truyền Việt Nam có THẬP BÁT BAN gồm:
1. Cung – Ná – Nõ .
2. Siêu.
3. Đao.
4. Thương – Giáo – Mác.
5. Độc kiếm – Song kiếm.
6. Xà mâu.
7. Lăn khiên.
8. Song phủ.
9. Độc phủ.
10. Kích.
11. Trường roi – Đoản roi.
12. Độc giản – Song giản.
13. Song chùy.
14. Đinh ba.
15. Trường côn – Đoản côn – Tề mi côn.
16. Bừa cào,
17. Dây.
18. Hai bàn tay không.
Ngoài ra còn nhiều thứ nữa là sở trường của các cao thủ luyện riêng, chẳng hạn như “ Dây xích sắt”, “ Con ngựa” ( Để lót ván) , “ Cửu liên hoàn”, “ Song tô”, “ Song xỉ”, “ Song búp”… rất nhiều không thể kể xiết, tùy sở thích của mỗi người.
Lại có một bài “ Độc kiếm 343 thế” * đến bây giờ còn ai biết ??? Xin chỉ dùm …
Sư trưởng SA LONG CƯƠNG
* Nén hương hoài niệm : ..... (Thưa Thầy ,có phải là bài nầy “ Độc kiếm 365 thế " , phân làm 6 đoạn bài ....
“ Độc kiếm 365 thế " chính là bài “ Độc kiếm 343 thế " nầy ? Thưa Thầy ??? )
LUYỆN QUYỀN và LUYỆN CÔNG
Tục ngữ có câu:
“ Lực bất đả quyền, quyền bất đả công”
Nghĩa là người có sức mạnh không thể đánh bại người có quyền thuật, người có quyền thuật không thể đánh bại người có luyện công.
Điều đó cho thấy một nhận xét hết sức đúng đắn: “ Là người tinh thông ở Lực không bằng người tinh thông ở Quyền, mà người tinh thông ở Quyền thì không bằng người tinh thông ở Công”.
Do đó luyện quyền mà không luyện công thì chẳng khác gì sợi tơ trước gió, cánh bèo trên sông, lập lờ vô định, chẳng lấy đâu làm căn cứ.
Vì vậy:
“Luyện quyền pháp không thể không luyện công pháp”.
Luyện quyền phải luyện công
Công quyền đều phải có
Trước phải luyện công
Bộ pháp cho thông
Sau mới luyện quyền
Hiệu quả mau chóng.
Luyện quyền phải chăm
Luyện công nên gắn
Từng thế luyện thành
Định khí bình thần
Vận kình tay chân
Khí hành châu thân.
Luyện công có phép
Chia làm ba phần
Mỗi ngày hai lượt
Không sót không quên
Lâu ngày tất nên
Nhảy nhót nghiêng ngữa
Ngăn chặn đánh đở.
Luyện quyền luyện công
Như hổ như rồng
Các thế đều thuộc
Quyền pháp mới thông.
Người học võ cần phải luyện quyền và luyện công tận tâm tận lực cho tới khi kỹ thuật không còn là kỹ thuật suông, mà phải là phản ứng tự nhiên , siêu thần nhập hóa một cách vi diệu vậy.
Nội Công SA LONG CƯƠNG
Điểm Luyện Công
Điểm luyện công cốt yếu là làm cho tinh thần, thể phách được vững vàng, thân thể cường tráng, gân cốt được rắn chắc, dẽo dai, phòng ngừa được các tạp bệnh, có khả năng chống trả lại địch thủ nguy hiểm. Nhưng luyện tập lại là một chuyện rất khó khăn gian khổ, không phải nói suông là làm được.
Phải biết kiên nhẫn bước tới từng bước cho vững chắc, không được gấp rút và không được chậm trễ, “ Dục Tốc Bất Đạt” có được như thế mới mong đạt đến kết quả luyện công.
Luyện “Quyền” mà không luyện “ Công” thì cũng chẳng khác gì như sợi tơ trước gió, bèo dạt trên sông, lập lờ vô định, chẳng lấy đâu làm căn cứ.
Việc tập cốt ở “ Thần Thanh Ý Trầm”. Khi muốn ra đòn đánh địch thủ thì trước hết khí phải phân toàn thân, nếu thấy cơ hội tốt thì nên biến hóa ngay mà không do dự.
Khi luyện công đã có căn bản, sau đó mới có thể kết hợp các thế lại để luyện quyền, sao cho động tác được nhanh nhẹn tự nhiên biến hóa theo ý muốn.
Cứ tập thuần thục từ thế một, rồi tuần tự mà tiến hành theo thứ tự lần lượt các thế trong bài cho trọn bài, sau đó mỗi lần luyện cả bài từ đầu đến cuối.
Lâu ngày tất nhiên phải thành công và sẽ tiến tới chổ “ Siêu Thần Nhập Hóa”, từ đó mới được xem là đạt đến mức tinh thông vậy.
Luyện công cũng phải phân chia ra từng bước:
- Bước đầu tiên là luyện da thịt ( Tấn nội công) : luyện cho da thịt rắn chắc, bắp thịt được bện chặt lại để tạo một sức mạnh khả dĩ, nó là một nguồn nội lực có thể bạt san, cử đĩnh…
- Bước hai là luyện gân xương ( Bát đoạn cẩm ): luyện cho Gân dẽo dai, xương cứng chắt.
- Bước ba ( Vận hành khí lực) : sau khi có sức lực đầy đủ rồi mới chuyển sang luyện quyền gân ( vận hành khí lực) để sai khiến theo ý muốn của mình, chừng đó mới có thể nói là thành công vậy.
Muốn đạt được kết quả của luyện công phải biết thấu đáo năm điều kỵ và bảy điều hại thì mới có thể bàn đến việc luyện công:
NĂM ĐIỀU KỴ:
1/ Tình cảm buông lung
2/ Bệnh kiêu căng
3/ Nóng nảy, gấp rút
4/ Luyện quá mức
5/ Tửu sắc
BẢY ĐIỀU HẠI
1/ Gần sắc hại Tinh
2/ Giận dữ hại Khí
3/ Lo lắng hại Thần
4/ Uống càng hại Huyết
5/ Biếng nhác hại Gân
6/ Gấp rút hại Xương
7/ Đam mê hại Tâm