VN chi bừa bãi để tạo tăng trưởng? Kinh tế đi xuống khiến chính phủ phải tăng cường chi tiêu để giữ tăng trưởng GDP
Ý kiến chuyên gia cho rằng đầu tư công bừa bãi để đảm bảo tăng trưởng ngắn hạn mà không chú ý đến lợi ích kinh tế dài hạn đã để lại hậu quả nặng nề cho nền kinh tế của Việt Nam.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của một nước được cơ cấu bởi các yếu tố trong đó:
GDP = Tiêu dùng tư nhân + Tổng ngạch đầu tư + Chi tiêu chính phủ + (Xuất khẩu - Nhập khẩu). Đây cũng là các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng GDP.
Tuy nhiên các báo cáo kinh tế gần đây nhất cho thấy những yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế hiện tại đều rất yếu, thể hiện qua sản xuất công nghiệp quý một chỉ đạt 4,93%, mức thấp nhất từng thấy trong quý một giai đoạn 2010-2013, tăng trưởng dư nợ tín dụng trong cùng quý đạt 0,03%, số doanh nghiệp phá sản trong quý một tăng 14,6% so với cùng kỳ năm ngoái và giá tiêu dùng tháng Năm tiếp tục âm.
Vậy, chính phủ đã đảm bảo mức tăng trưởng kinh tế dao động quanh mức 5% như thế nào khi một loạt các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng đã yếu đi?
Chi tiền để tăng trưởngTrả lời phỏng vấn BBC ngày 13/6, ông Raphaël Cecchi, chuyên gia phân tích rủi ro tại hãng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ONDD của Bỉ nhận xét thời gian qua, Việt Nam đã đẩy mạnh chi tiêu công thông qua chính sách tài khóa để bù đắp lại sự suy yếu của các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng khác.
"Hầu hết tất cả những yếu tố thúc đẩy tăng trưởng của Việt Nam, trong đó có tiêu dùng tư nhân, đã yếu hẳn đi trong vòng hai năm qua," ông Cecchi nói.
"Trong một bối cảnh khó khăn đối với cả môi trường bên ngoài và nội địa, chính phủ Việt Nam đã tăng cường sử dụng chính sách tài khóa (giảm thuế hoặc tăng đầu tư công) để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế."
Việc tăng cường chi tiêu công cũng được thể hiện trong báo cáo của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội về nợ công đưa ra hồi cuối tháng Năm.
Theo báo cáo của ủy ban này, thâm hụt ngân sách của Việt Nam, không bao gồm chi trả nợ gốc đã tăng gấp đôi từ 1,3% GDP trong giai đoạn 2003-2007 lên 2,7% GDP trong giai đoạn 2008-2012.
Báo cáo này cũng cho thấy tổng nợ công của Việt Nam đã tăng từ khoảng 40% GDP trong năm 2007 lên 55,4% GDP vào năm 2012. Cùng thời gian đó, nợ nước ngoài của Việt Nam cũng tăng từ 32% lên tới khoảng 42% GDP.
Tuy nhiên, con số này không phản ánh đúng mức nợ công bởi chính phủ Việt Nam không xem nợ của khối doanh nghiệp nhà nước là một phần của tổng nợ công, ngoại trừ những khoản nợ được chính phủ bảo lãnh.
Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho biết nếu tính cả nợ trong hệ thống ngân hàng của doanh nghiệp nhà nước và khoản nợ bằng trái phiếu trong nước không được Chính phủ bảo lãnh khác thì nợ công Việt Nam lên tới 95% GDP, vượt xa ngưỡng an toàn 60% GDP mà các tổ chức như Ngân hàng Thế giới hay Quỹ tiền tệ quốc tế đã khuyến cáo.
Đầu tư bất chấp hiệu quả"Các dự án (đầu tư công) này không đem lại nhiều lợi ích vì mục đích của chúng là xây dựng chỉ số tăng trưởng về ngắn hạn thay vì đáp ứng nhu cầu kinh tế về trung hạn và dài hạn"
Raphaël Cecchi, chuyên gia phân tích rủi ro tại ONDD
Ông Cecchi cho rằng mặc dù việc sử dụng đầu tư công để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ khó khăn là bình thường, hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực này tại Việt Nam là một vấn đề lớn.
"Trước hết, không có gì sai trong việc sử dụng chính sách tài khóa, thúc đẩy chi tiêu công để hỗ trợ tăng trưởng trong lúc chu kỳ kinh tế (biến động GDP qua ba giai đoạn suy thoái, phục hồi và hưng thịnh) rơi vào thời điểm không thuận lợi," ông nói.
"Đó là mục đích chính của chính sách tài khóa và điều này cũng hợp lý hóa kỷ luật tài khóa (thắt chặt ngân sách, chi tiêu công, tăng thuế) trong thời điểm kinh tế tốt hơn,"
"Tuy nhiên cần phải đặt ra câu hỏi cho tính hợp lý trong việc chi tiêu và đầu tư công ở Việt Nam."
"Những gì chúng ta thấy ở Trung Quốc đang được một phần nào đó được sao chép lại ở Việt Nam (tất nhiên là với một quy mô nhỏ hơn nhiều), tiêu biểu là sự tăng cường vốn đầu tư vào các dự án bất động sản và cơ sở hạ tầng với lý do thiếu chính đáng."
"Các dự án này không đem lại nhiều lợi ích vì mục đích của chúng là xây dựng chỉ số tăng trưởng về ngắn hạn thay vì đáp ứng nhu cầu kinh tế về trung hạn và dài hạn."
Hậu quả của việc đầu tư bừa bãi này dẫn đến nhiều tai tiếng đối với các công trình đầu tư công ở Việt Nam.
Các dự án đầu tư công tại đây thường được tiến hành khá chậm chạp và vì thế, khiến chi phí dần tăng cao so với dự kiến ban đầu và giảm lợi ích kinh tế, vốn đã ít ỏi đối với nhiều dự án.
Nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng ngắn hạn của chính phủ Việt Nam đã dẫn đến nhiều đầu tư công thiếu hiệu quả
Dự án bauxite Nhân Cơ là một ví dụ. Việc kéo dài thời gian thi công với dự án này đã đẩy chi phí ban đầu từ hơn 11 nghìn tỷ đồng lên 16 nghìn tỷ đồng, đồng thời giảm tỷ suất sinh lời từ 9,57% xuống 8,69%. Đó là chưa kể số năm lỗ cũng bị tăng từ 5,6 năm lên 7 năm và giá trị lỗ tăng từ 727 tỷ đồng lên gần 2.500 tỷ đồng.
Chính phủ cũng tỏ ra thiếu trách nhiệm, thiếu cân nhắc khi đổ tiền vào các dự án.
Trường hợp như dự án Cảng Kê Gà, với chi phí đầu tư lên đến 20 nghìn tỷ đồng đã không bao giờ được thực hiện là một ví dụ. Trước đó, để có đất cho dự án này, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Thuận đã thu hồi giấy phép và đất đã cấp cho 12 nhà đầu tư du lịch, vốn đã đổ vào dự án hơn 1000 tỷ đồng.
Trường hợp Cảng Năm Căn tại Cà Mau, sau khi xây xong lại không sử dụng được vì ... đường bộ chưa thông, đường sông nông cạn làm tàu không vào được cũng là một ví dụ khác.
Đó là chưa kể đến những câu chuyện tai tiếng tại các doanh nghiệp nhà nước, vốn được ưu đãi về vốn những lại kinh doanh kém hiệu quả, gây thất thoát lên đến hàng tỷ đôla mà báo chí trong nước đã tốn không ít giấy mực trong những năm qua.
Gánh nặng quốc gia"Khối nợ từ các doanh nghiệp nhà nước cũng như tình trạng thiếu vốn của các ngân hàng nhà nước sẽ là gánh nặng cho ngân sách quốc gia," ông Cecchi bình luận
"Việc tái cơ cấu khối doanh nghiệp nhà nước, thông qua tăng cường chất lượng quản trị, tái tập trung vào các ngành chính, tiếp tục với công tác cổ phần hóa cũng như nỗ lực củng cố hệ thống tài chính của Hà Nội là cần thiết hơn bao giờ hết vào lúc này nhằm đảm bảo cho nợ công nằm trong tầm kiểm soát và tái thiết lập niềm tin với nhà đầu tư."
"Giải quyết nợ xấu và tái huy động vốn cho khu vực ngân hàng cần được chính phủ đặt lên ưu tiên hàng đầu vì khu vực ngân hàng yếu kém đang ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng trong tương lai."
"Ngoài ra, công tác giám sát đối với khu vực ngân hàng cũng cần được nâng cao nhằm tránh cho nền kinh tế bị kẹt trong một vòng luẩn quẩn có tính hệ thống.
Về hệ thống tài chính tín dụng thiếu minh bạch ở Việt Nam
Để hạn chế hành động chi tiêu quá trớn của Chính phủ, vượt khỏi quyết định của Quốc hội, tùy tiện phát hành tín dụng cho các nhóm lợi ích tiếp tục gây lạm phát và bất ổn xã hội, Quốc hội cần thay đổi các quy định hiện nay về hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, và cần thực hiện ngay các hành động giám sát thường xuyên của mình. Một điều quan trọng nữa là Quốc hội cần cho thấy rõ là vi phạm quyết định của Quốc hội là vi phạm Luật. Không những thế, cần áp dụng thông lệ quốc tế là không coi thông tin về tài chính tín dụng củaNHNN là bí mật quốc gia (coi Phụ lục để thấy việc hạn chế thông tin hiện nay).
Rất nhiều năm nay,chúng ta đều biết Chính phủ luôn chi nhiều hơn thu, nhưng ít người biết là Chính phủ còn luôn luôn chi vượt xa rất nhiều so với ngân sách Quốc hội thông qua (ít nhất 30% so với những năm tôi có thể kiểm chứng). Hy vọng các nhà kinh tế nằm trong hệ thống chính quyền có điều kiện, kiểm chứng tình hình này những năm vừa qua. Như vậy thực tế là quyết định của Quốc hội chỉ để làm cảnh, chứ không được coi là luật vì Chính phủ hoàn toàn có thể tự quyết về chi tiêu mà không bị một thế lực nào cấm cản, kể cả vi phạm pháp luật. Ngân sách hàng năm của Quốc hội như ở Mỹ là luật (thí dụ xem budget control Act 2011), do đó không một Tổng thống nào dám chi vượt Luật [Appropriation Bills] do Quốc hội thông qua, vì như vậy là phạm pháp, theo Hiến pháp của Mỹ “không thể rút tiền khỏi Ngân khố nếu không có quyết định thành luật cho phép chi …” (“No money shall be drawn from the Treasury, but in Consequence of Appropriations made by Law; and a regular Statement and Account of Receipts and Expenditures of all public Money shall be published from time to time”).
Sự tự do và tùy tiện về chi tiêu và thiết lập các công ty nhà nước chính là lý đo đưa đến tình trạng quan chức có quyền và các nhóm lợi ích có quan hệ lũng đoạn thị trường tài chính và cướp đất của nông dân hiện nay, đưa nền kinh tế đến chỗ ngày càng tồi tệ. Tạm thời, trước khi nhận định lại xem ngân sách Quốc hội thông qua có phải là luật không, Quốc hội hoàn toàn có thể đòi hỏi NHNN cung cấp và phân tích các vấn đề sau:
1. Quyết định bán trái phiếu của Chính phủ để chi tiêu xem có vượt ngoài quyết định của Quốc hội?
2. Quốc hội có thể yêu cầu NHNN trình bày rõ và chi tiết các hoạt động mở của nó. Theo Luật NHNN hiện tại (coi ở phần Phụ lục ở dưới),
■NHNN không chỉ trong việc phát hành tín dụng mà còn in tiền mua trái phiếu (dù tư hay công);
■Thủ tướng hoàn toàn có thể ra lệnh/tạo áp lực ngầm NHNN mua trái phiếu của Chính phủ (tức là in tiền) nếu thị trường không chịu mua;
■Thủ tướng cũng có thể ra lệnh/áp lực ngầm hoặc tự bản thân NHNN quyết định mua trái phiếu tư nhân như của Bầu Kiên chẳng hạn nhằm giúp nhóm lợi ích .
Nói tóm lại, những gì trình bày ở trên chỉ là những điểm nhỏ cần làm trước mắt. Nếu muốn tình hình ổn định dài lâu, cần xem xét áp dụng hệ thống tam quyền phân lập rành mạch trong Chính phủ, đồng thời làm luật để giảm thiểu các hoạt động lạm dụng của nhóm lợi ích:
■Không cho phép các tập đoàn (dù công hay tư) nắm ngân hàng. Nguyên tắc: doanh nghiệp phi tài chính không được làm chủ doanh nghiệp tài chính.
■Không cho phép ngân hàng này làm chủ ngân hàng kia (tức là có cổ phiếu lẫn nhau). Ở các nước họ ấn định không cho trên 1 tỷ lệ cổ phiếu và không được ngồi trong Hội đồng quản trị. Nhưng để khỏi phức tạp, ở VN thì nên không cho phép.
■Không cho phép các công ty và tập đoàn nhà nước lập các công ty con, hoặc có cổ phiếu ở các công ty con. Ăn cướp đất của dân, nhất là ở địa phương, là kết quả của việc cho phép thiết lập các công ty con nửa tư nửa công nhằm làm sân sau cho quan chức và người nhà tập đoàn.
■Xác định việc thiết lập các công ty quốc doanh là thuộc quyền của Quốc hội, không thuộc quyền của hành pháp.
■Không cho phép Thủ tướng hoặc hành pháp ra lệnh cho ngân hàng cho tập đoàn vay. Nguyên tắc: thiết lập cơ chế, luật pháp minh bạch nhằm quản lý công ty nhà nước.
■Cần xác lập ngay Luật quản lý doanh nghiệp nhà nước.
■Xác lập ngân sách nhà nước Quốc hội thông qua là luật.
V.Q.V.
Phụ lục về luật ngân hàng và hành xử của nhà nước về thông tin hiện nay
Luật Ngân hàng Nhà nước quy định như sau:
Ai có trách nhiệm chính điều hành chính sách tiền tệ NHNN? Đó là Thủ tướng, Thống đốc NHNN chỉ là người thực hiện theo điều 4.
Điều 4. Chính phủ trình Quốc hội quyết định chỉ tiêu lạm phát hàng năm. Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định việc sử dụng các công cụ và biện pháp điều hành để thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia theo quy định của Chính phủ.
NHNN có quyền mua giấy nợ của tư nhân không? Có, theo điều 15, khoản 2.
Điều 15. Nghiệp vụ thị trường mở
1. Ngân hàng Nhà nước thực hiện nghiệp vụ thị trường mở thông qua việc mua, bán giấy tờ có giá đối với tổ chức tín dụng.
2. Ngân hàng Nhà nước quy định loại giấy tờ có giá được phép giao dịch thông qua nghiệp vụ thị trường mở.
NHNN hiện có hạn chế công bố thông tin không? Có, theo điều 38 và theo đánh giá của chính HHNN
Điều 38. Bảo vệ bí mật thông tin
“1. Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm lập danh mục, thay đổi độ mật, giải mật bí mật nhà nước về lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định;…”
“2. Ngân hàng Nhà nước được quyền từ chối yêu cầu của tổ chức, cá nhân về việc cung cấp thông tin mật về tiền tệ và ngân hàng, trừ trường hợp theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”.
Đánh giá cùa Ngân hàng nhà nước
Đây là đánh giá không ghi ngày tháng (nhưng viết sau 11/11/2011) của NHNN về thông tin mật và các thông tin mà NHNN chưa được phép công bố theo tiêu chuẩn quốc tế (Bảo vệ bí mật nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng trước yêu cầu mới). Theo đó chỉ có 5 trong 40 chỉ số tài chính được công bố. Hầu hết các chỉ số quan trọng nhất đều không được công bố:
“[1] Theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế, mức dự trữ ngoại hối nhà nước của mỗi quốc gia là thông tin cần được công bố định kỳ. Đây cũng là thông tin được các chủ thể trong nền kinh tế, các nhà đầu tư nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế rất quan tâm. Tuy nhiên, theo quy định của Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước, đây là thông tin thuộc độ Tối mật. Từ năm 2008, Ngân hàng Nhà nước đã đề nghị các cấp có thẩm quyền đưa thông tin này ra khỏi danh mục bí mật nhà nước nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được vì việc sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước chưa được thực hiện.
[2] Theo tiêu chuẩn của IMF, mỗi quốc gia thành viên cần công bố Bộ chỉ số lành mạnh tài chính gồm 40 chỉ số tài chính, trong đó có 12 chỉ số cốt lõi dành cho tổ chức nhận tiền gửi. Hiện nay, trên thế giới có 96 quốc gia và vùng lãnh thổ đang công bố Bộ chỉ số của quốc gia mình trên website của IMF, trong đó có 11 quốc gia Châu Á với 7 quốc gia đangphát triển gồm Trung Quốc, Ấn Độ, In-đô-nê-xia, Ma-lai-xia, Pa-kít-tang, Phi-líp-pin và Thái Lan. Mặc dù đã rất nỗ lực nhưng Thông tư 35/2011/TT-NHNN chỉ mới quy định được việc công bố 5/12 chỉ số cốt lõi theo tiêu chuẩn của IMF”.
From : BBC ,Vũ Quang Việt,.....