Tứ Niệm Xứ và Bồ tát đạo.
Bồ Tát, nói cho đủ là Bồ Ðề Tát Ðỏa dịch âm từ chữ Bodhisattva (Sanskrit) hay Bodhisatta (Pali). Bodhi là Giác,Sattva là Hữu tình. Bồ Tát là những người phát tâm, nguyện đạt cho được đạo quả Chánh đẳng Chánh giác, tức là Phật. Phát nguyện như vậy có quá đáng không? Có kiêu ngạo quá không?
Không! Chỉ vì Bồ Tát có tâm Ðại từ,Ðại bi, muốn cứu độ chúng sanh thoát khỏi cái khổ sanh tử luân hồi nên mới phát nguyện thành Phật. Xưa kia, đức Phật Thích Ca vì lý do nào lìa bỏ cung thành đi tu? Phải chăng vì thấy cảnhsanh, già, bệnh, chết của chúng sanhmà quyết ra đi tìm giải thoát cho mình và cho người?
Bồ Tát là người cầu thành Phật? Hay
chỉ là người có tâm Ðại từ Ðại bi thôi?
Cầu thành Phật mà không có tâm Từ bi
thì không thể có! Ðại từ, Ðại bi mà
không có Trí tuệ thì cũng không thể
cứu độ chúng sanh. Cứu khổ trong đạo
Phật cần được hiểu là cứu khổ sanh tử
luân hồi, chứ không phải khổ vật chất,
hay tinh thần. Muốn cứu khổ chúng
sanh một cách trọn vẹn và rốt ráo cần
phải có trí tụê toàn giác.
Vậy Bồ Tát là những người phát Bồ Ðề
Tâm (Bodhicitta), tức tâm nguyện
thành Phật để cứu độ chúng sanh một
cách toàn vẹn và rốt ráo. Ðại Từ Bi chỉ
là động lực đầu tiên thúc đẩy hành giả
tiến bước trên Bồ Tát Ðạo, và mục tiêu
cuối cùng của Bồ Tát Ðạo là quả vị Phật
Vì trong quả vị Phật, có đầy đủ
các đức tánh Ðại Từ, Ðại Bi, Ðại Hỷ,
Ðại Xả, Ðại Hùng, Ðại Lực, Ðại Trí,
Ðại Huệ... để cứu độ chúng sanh.
Một khi phát Bồ Ðề Tâm một cách
vững chắc rồi. Bồ Tát có thể lựa chọn
tất cả pháp môn nào tùy theo căn cơ, sở
thích và tâm nguyện của mình. Bồ Tát
không bắt buộc phải tạo nhiều chùa to,
tượng lớn, không bắt buộc phải đi khắp
nơi thuyết pháp, giảng đạo. Ngược lại
cũng không bắt buộc phải vào rừng núi
tu ẩn dật cho đến ngày thành Phật mới
ra độ đời (trường hợp của các Ðạo Sư
Tây Tạng như Milarépa xưa kia, hoặc
điển hình hiện đại là Kalou Rimpoché).
Từ lúc mới phát tâm cho đến khi thành
Phật, Bồ Tát vẫn tiếp tục phát triển tâm
Bồ Ðề, tiếp tục cứu độ và làm lợi ích
cho chúng sanh tùy theo căn cơ, khả
năng của mình.
Bồ Tát không bắt buộc phải là thượng
căn, Thanh Văn không hẳn là hạ trí. Bồ
Tát chỉ khác Thanh Văn nơi Bồ Ðề
Tâm thôi. Tất cả pháp môn Ðức Phật
để lại, không có pháp nào dành riêng
cho Bồ Tát hay Thanh Văn cả. Thí dụ
như Tịnh Ðộ được coi là một pháp môn
thuộc Ðại Thừa. Nhưng nếu người
niệm Phật cầu về Cực Lạc với tâm
niệm giải thoát cho chính mình khỏi
cái khổ Ta Bà, thì người này đang biến
Tịnh Ðộ thành Tiểu Thừa vậy.
Khi nói về ba Thừa (Thanh Văn,
Duyên Giác, Bồ Tát), người ta thường
nói như vầy: Thanh Văn tu theo Tứ Ðế,
Duyên Giác tu theo Thập nhị nhân
duyên, và Bồ Tát tu theo Lục Ðộ. Nói
như vậy không đúng.
Tứ Ðế là một
chân lý, trong đó có Ðạo Ðế, Ðạo Ðế là
con đường đưa đến Niết Bàn. Ðạo Ðế
tức là Ðạo Phật. Ðạo Ðế không phải
chỉ có Bát Chánh Ðạo, hoặc 37 phẩm
trợ đạo thôi, mà tất cả 84,000 pháp
môn đều được xem là Ðạo Ðế. Do đó
Thập nhị nhân duyên, và Lục Ðộ cũng
thuộc Ðạo Ðế. Vậy pháp tu của Duyên
Giác hay Bồ Tát cũng không nằm
ngoài Tứ Ðế.
Trong 84,000 pháp môn của Ðức Phật
để lại chỉ có một mùi vị, đó là vị giải
thoát. Nhưng chúng ta lại có thói quen
hay chia phe, xếp hạng: pháp này là
Tiểu Thừa, pháp kia Ðại Thừa.
Nếu tu
theo Ðại Thừa mà giảng Tứ Ðế thì
không hay, phải giảng Pháp Hoa, Kim
Cang mới đúng. Vì sự phân chia vô lý
này và hiểu lầm danh nghĩa Bồ Tát nên
người tu theo Ðại Thừa thường hay
thích thọ "Bồ Tát giới" và coi thường
(nếu không muốn nói là khinh chê)
giáo lý Tiểu Thừa.
Thọ "Bồ Tát giới" để làm gì? Có phải
để có quyền khai chế những giới luật
căn bản (Pàtimokkha) không? Ðể thoát
ra khỏi nếp sống gò bó, đơn giản của
đời tu sĩ ẩn dật, tự ý nghèo nàn không?
Thọ Bồ Tát giới rồi có bắt buộc phải
lao đầu vào những nơi chợ búa, thành
thị mà mở nhiều chùa, thuyết pháp thâu
phục đệ tử không?
Theo Phật giáo, có ba hạng Bồ Tát là:
Trí Tuệ Bồ Tát (Pannadhika), Tín Ðức
Bồ Tát (Saddhàdhika) và Tinh Tấn Bồ
Tát (Viriyàdhika).
Trí Tuệ Bồ Tát chú trọng phát triển trí
tuệ và thực hành Thiền Ðịnh nhiều hơn
là nhiệt thành với những hình thức lễ
bái cúng dường bề ngoài. Các ngài
luôn luôn đi theo sự hướng dẫn của lý
trí và không chấp thuận điều gì một
cách mù quáng. Không tự bó tay quy
hàng cho một lý thuyết nào, cũng
không làm nô lệ cho một quyển sách,
một bộ Kinh, hay một cá nhân nào. Trí
Tụê Bồ Tát thích trầm tĩnh yên lặng để trau dồi thiền định.
Từ nơi vắng vẻ tịch
mịch ấy, Ngài rải những tư tưởng an
lành, tuy trầm lặng nhưng hùng dũng,
bủa khắp thế gian, để đem lại sự hổ trợ
tinh thần cho nhân loại đau khổ.
Tín Ðức Bồ Tát đặt trọn niềm tin nơi
hiệu lực của tâm thành. Saddhà hay
niềm tin chân thành là đặc điểm chánh
yếu của Ngài. Cùng với Saddhà (niềm
tin nơi Tam Bảo) như người bạn đồng
hành trung tín, Ngài thành tựu mục
tiêu. Tất cả những hình thức cụ thể lễ
bái, thờ phượng là sở trường của Tín
Ðức Bồ Tát. Tượng Phật là một nguồn
gợi cảm quan trọng đối với Ngài.
Tinh Tấn Bồ Tát thì luôn luôn tìm cơ
hội để phục vụ kẻ khác. Không có gì làm cho vị Tinh Tấn Bồ Tát hoan hỉ
bằng tích cực phục vụ.
Ðối với các
Ngài, "làm việc là hạnh phúc, và hạnh
phúc là làm việc". Không tích cực hoạt
động phục vụ thì các Ngài không có
hạnh phúc.
Theo Kinh sách thì con đường của bậc
Trí Tuệ Bồ Tát ngắn nhứt, Tín Ðức Bồ
Tát phải trải qua một thời gian dài hơn,
và Tinh Tấn Bồ Tát còn dài hơn nữa.
Tứ Niệm Xứ là một phương pháp hành
thiền dẫn đến trí tuệ giải thoát, tự tánh
nó không phải Thanh Văn hay Bồ Tát,
tuy nhiên nếu phải so sánh và xếp loại
với Bồ tát đạo, thì Tứ Niệm Xứ là một
trong những con đường đi của Trí Tuệ
Bồ Tát.
Nếu hành giả theo Ðại Thừa có Tâm
địa Bồ Tát, thì song song với việc tu
tập Tứ Niệm Xứ (tự thanh lọc bản
tâm), hành giả phải thường tự nhắc
nhở, phát nguyện và noi theo những
gương Ðại Bi của Quan Âm, Ðại Trí
của Văn Thù, Ðại Hạnh của Phổ Hiền
(nuôi dưỡng chí nguyện độ tha).
From : Thich tri sieu ,......