Nợ chồng nợ, nhiều doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa tìm cách thoát thân bằng cách vay “nóng” với lãi suất cắt cổ.
Nhưng nợ tiếp tục sinh ra nợ, nhiều DN đang bị xoáy vào vòng luẩn quẩn không lối thoát.Số tiền nợ lên đến hàng trăm tỉ đồng, vét sạch tài sản đem cầm cố để trả những khoản vay nặng lãi vẫn không đủ, nhiều chủ DN đã âm thầm bỏ trốn hoặc tẩu tán tài sản đi nơi khá.
DN tư nhân ĐB chuyên sản xuất ván ép gỗ xuất khẩu ở Khu công nghiệp Biên Hòa 2 (Đồng Nai) từ nhiều ngày nay đã không còn... giám đốc. Gần 100 công nhân rơi vào tình trạng nợ lương, đi không đành ở cũng chẳng được. Ông V., em trai giám đốc B. đồng thời là quản lý hiện tại của công ty này, cho biết giữa năm 2011 DN quyết định mở thêm hai nhà xưởng để tăng công suất. Vay ngân hàng không được, DN quyết định vay “nóng” bên ngoài số tiền 1,6 tỉ đồng với lãi suất 7%/tháng để mở xưởng và mua thêm may móc. Thế nhưng điều DN này không ngờ là đơn hàng ngày càng thưa thớt, lãi mẹ đẻ lãi con khiến chủ DN phải cầm cố hai chiếc ôtô để trả nợ dần. Nợ chồng nợ, chủ nợ lại siết liên tục nên ông B. bỏ trốn cách đây ít ngày để lại khoản nợ ngày càng phình ra, còn tài sản đã cạn kiệt, máy móc “trùm mền”. “Bây giờ chỉ còn biết sản xuất cầm chừng để lo ăn qua ngày chứ chưa biết tính cách gì?”- quản lý DN rầu rĩ nói.
Còn tại Công ty may mặc TT (huyện Hóc Môn, TP.HCM) chiều 9-4, một số công nhân phát hiện công ty có dấu hiệu di dời máy móc, kể cả hàng hóa thành phẩm đi nơi khác nhưng chưa thanh toán lương tháng 3-2012. Một số công nhân đã thay nhau đặt ghế bố nằm trước cổng ra vào công ty canh chừng không cho di chuyển tài sản.
Bà Bùi Thị Tuyết Nhung - chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện Hóc Môn - cho biết: “Do tình hình sản xuất khó khăn dẫn đến nợ nần, nhiều công nhân phát hiện chủ công ty có dấu hiệu di chuyển tài sản dù số tiền nợ lương công nhân hơn 400 triệu đồng vẫn chưa trả. Tuy nhiên, sau khi liên đoàn vào cuộc, chủ DN đã trả toàn bộ tiền nợ lương công nhân. Riêng khoản nợ ngân hàng hay nợ bên ngoài của DN này bao nhiêu thì liên đoàn chưa nắm được do người đứng tên chủ DN không tiếp xúc”.
Chiều 13-4, khi chúng tôi trở lại trụ sở công ty này thì nơi đây chỉ còn “vườn không nhà trống”, những chuyến xe ba gác cuối cùng đã chở máy móc trong nhà xưởng đem đi bán.
Từng là công ty có tiếng trong ngành may mặc xuất khẩu qua Đông Âu với ba xưởng may cùng hàng ngàn công nhân, nhưng nay Công ty VK (Q.12, TP.HCM) đang rơi vào cảnh cầm cự từng ngày. Khó khăn bắt đầu đến với Công ty VK vào thời điểm giữa năm 2011 khi công ty rất khan hiếm đơn hàng, dẫn đến việc sản xuất đình đốn.
Hiện tại chỉ tính riêng số tiền lãi của công ty này với hai ngân hàng đã lên tới 200 triệu đồng một tháng. Để có tiền trả nợ ngân hàng, bà B. - giám đốc công ty - đã phải rao bán hai căn nhà ở đường 3-2 (Q.10) và đường Tôn Thất Thuyết (Q.4) cùng một nhà xưởng ở Q.12. “Để chạy tiền trả lãi suất ngân hàng và trả lương cho công nhân, tôi buộc phải gỡ máy may, máy vắt sổ ra bán, hiện tại máy móc trong nhà xưởng đã bán 20-30% nhưng vẫn chưa trả hết nợ” - bà B. than.
Chủ một DN may tại TP.HCM cho biết để giải quyết nợ nần ngoài bán tháo máy móc, tình trạng cầm cố, thế chấp tài sản để vay tiền với lãi suất cao đang diễn ra rất phổ biến. Bị dồn đến đường cùng, nhiều DN buộc phải vay ngoài với lãi suất “cắt cổ”.
Trường hợp của DN kinh doanh nhà hàng ăn uống ở quận 1, TP.HCM là một ví dụ. Trong thời điểm khó khăn DN này vay 3,7 tỉ đồng bên ngoài, sau một thời gian DN này đã trả được 726 triệu đồng tiền lãi. Nhưng việc kinh doanh ngày càng lún sâu vào khó khăn khiến DN này không có tiền trả. Sáu tháng sau chủ nợ đưa giấy nợ ép DN ký với mức nợ cả vốn lẫn lãi lên đến gần 8 tỉ đồng.
Ông H.A., nhân viên tín dụng một ngân hàng thương mại tại TP.HCM, cho biết hiện nhiều DN sản xuất đình đốn, làm bao nhiêu cũng không đủ trả lãi. Trong hai năm qua, nhiều DN đã chịu đựng để cầm cự sản xuất vì họ không muốn mất sản nghiệp của mình. Không có tiền buộc họ phải đi vay tới vay lui. Đơn cử như một khách hàng kinh doanh sắt thép của ông H.A. đang vay bảy ngân hàng với số tiền tới 750 tỉ đồng, hiện DN này đang gom góp tất cả số tiền để trả cho ngân hàng...
Từ tờ rơi dán đầy trên đường Nơ Trang Long (Bình Thạnh, TP.HCM) với nội dung “Hỗ trợ vay vốn đáo hạn ngân hàng, thủ tục nhanh gọn lãi suất cạnh tranh”, chúng tôi liên lạc được với T., một đối tượng cho vay tín dụng bên ngoài. T. chào mời “anh có sẵn hồ sơ, chỉ cần đưa cho tôi trong vòng một tuần làm xong thủ tục thế chấp là vay được, số tiền vay tối thiểu 200 triệu và tối đa 40 tỉ đồng. Thủ tục nhanh gọn, còn lãi suất thì gặp nhau thỏa thuận”. T. nói thêm trong tháng vừa qua đã giúp cả chục con nợ vay vốn đáo hạn ngân hàng.
Một thẩm phán tại TP.HCM cho biết hiện hàng loạt ngân hàng bắt đầu vào cuộc sàng lọc những khoản nợ của DN được cho là không có khả năng chi trả. Các ngân hàng này cho biết sau khi sàng lọc sẽ khởi kiện các DN nêu trên. Vị thẩm phán trên tiết lộ tại tòa của ông đang nhận rất nhiều đơn kiện DN, cơ sở sản xuất, có giá trị 10-70 tỉ đồng từ các ngân hàng.
Thẩm phán Phan Thanh Hưng, Tòa án nhân dân quận 12, cho biết chỉ tính riêng án kinh tế tại đây đã có 40-50 vụ đang dược ông thụ lý, giải quyết. Theo ước tính của ông Hưng, có hơn 100 vụ án kinh tế liên quan đến tranh chấp tài sản đang được giải quyết tại tòa này.
Theo luật sư Trạch, hầu hết khoản nợ của DN ở thời điểm này xuất phát từ nguyên nhân hàng sản xuất không tiêu thụ được, lỗ chồng lỗ khiến DN phải tìm cách xoay xở. “Bản thân các ngân hàng khi xem xét cho vay mặc dù hồ sơ vay của DN có đầy đủ cũng không dám cho vay, hoặc cho vay rất hạn chế, dè dặt. Thậm chí nếu liên quan đến kinh doanh bất động sản chắc chắn các ngân hàng sẽ từ chối” - ông Trạch nói.
Chính vì cậy nhờ các ngân hàng không được nên DN đành phải tìm đến các khoản vay bên ngoài để cầu cứu. Nhưng hình thức vay “nóng” hay cầm cố chỉ là biện pháp tạm thời, thực tế đó là vòng luẩn quẩn không lối thoát khiến DN ngày càng ngập sâu vào khủng hoảng nợ.
Tồn đọng tài sản lớn, các DN được chào mời vốn rẻ cũng không dám vay. Nếu không có một cách tháo gỡ đống bộ thì các DN chỉ còn nước ôm tài sản rồi chết dần.Đầu ra không có, không vay được vốn, dự án đình trệ, nợ chồng chất... đang khiến nhiều DN BĐS ngập trong khó khăn.
Nguồn trông chờ lớn nhất của các DN BĐS chính là việc bán bớt tài sản mà cụ thể là số nhà đất đang xây dựng. Tuy nhiên, cũng theo thống kê của Horea, hiện nay 60 -70% DN BĐS tại tp Hồ Chí Minh đang trong tình trạng "đắp chiếu", sản phẩm làm ra không bán được.Trong một báo cáo "kêu cứu" gửi các cơ quan chức năng mới đây, Hiệp hội BĐS TP Hồ Chí Minh (Horea) cho biết, tổng số nợ mà các DN BĐS đã niêm yết trên TTCK lên đến 200.000 tỉ đồng, trong khi quỹ tiền mặt mà các DN này đang nắm giữ chỉ khoảng 9.000 tỉ đồng. Với tình hình tài chính như vậy, các DN BĐS chỉ đủ khả năng cầm cự thêm được vài tháng nữa.Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP HCM, Lê Hoàng Châu cho hay, hiện nay tất cả các DN địa ốc đều khó khăn, có công ty phải trả hàng tỷ đồng tiền lãi mỗi ngày.
Không chỉ các DN BĐS tại TP Hồ Chí Minh gặp khó khăn mà phần lớn các DN BĐS trên cả nước cũng chung tình cảnh này. Theo số liệu của các công ty nghiên cứu thị trường BĐS, tổng quỹ căn hộ tồn đọng đã lên đến trên 10.000 căn.
Công ty Phát triển BĐS Phát Đạt (tp Hồ Chí Minh), theo báo cáo tài chính đến cuối tháng 12/2011, tổng số hàng tồn kho (BĐS) tăng cao, nợ lớn, hiện đã phải bổ sung thêm ngành nghề kinh doanh về nông nghiệp, trồng rừng, cao su... và xác định sẽ là nguồn thu ổn định để nuôi ngành kinh doanh BĐS đang gặp khó khăn.
Nhiều dự án tại tp Hồ Chí Minh, Hà Nội hiện đất để không, cho thuê làm quán cà phê, trông giữ xe và rửa xe.
Bên cạnh đó, không ít các doanh nghiệp DN BĐS phải bán đổ bán tháo dự án, tháo chạy khỏi thị trường. Tập đoàn Dầu khí từ cuối năm 2011đã thoái vốn khỏi dự án PVN Tower (Hà Nội).
Một dự án BĐS trên đường Lê Văn Lương (Hà Nội) có diện tích 4.000 m2, đã được phê duyệt gồm 2 tòa nhà 30 tầng với mật độ xây dựng 50%, đầy đủ pháp lý, đang chào bán với giá 470 tỷ đồng, nhưng rao bán cả mấy tháng nay vẫn chưa tìm được người mua.
Trên đường Phạm Hùng, Khu đô thị Linh Đàm, một số dự án cỡ trung bình, có diện tích từ 2.700m2 - 3.600m2 , xây từ 20- 25 tầng, đang chào bán với giá 88- 92 tỷ đồng, nhưng cũng không có ai mua.
Một dự án quy mô lớn tại quận Hà Đông rao bán dự án gần 6 héc-ta bao gồm biệt thự, liền kề và căn hộ, có phê duyệt quy hoạch 1/500, có quyết định giao đất, đã giải phóng mặt bằng và san nền mức giá chỉ bằng một nửa so với thời điểm đất lên cơn sốt hồi năm 2010...
Chết theo dây chuyền .Doanh nghiệp BĐS khó khăn kéo theo sự khó khăn của các DN sản xuất vật liệu xây dựng như thép, xi măng, gạch ốp lát sứ vệ sinh... các DN trong lĩnh vực này cũng đang bơi trong khó khăn.
Ông Phạm Chí Cường, Chủ tịch Hiệp hội Thép VN cho biết, trong quý 1/2012 lượng thép tiêu thụ đạt 1.153.000 tấn giảm 10% so với cùng kỳ 2011. Trong đó tháng 1 tiêu thụ giảm mạnh chỉ đạt 233.000 tấn. Đến tháng 3 tăng lên 551.000 tấn nhưng không phải do đầu ra đã khơi thông, mà do tháng 1 và 2 tiêu thụ quá thấp và thấy giá cả đầu vào thép tăng lên nên nhiều khách hàng đã tăng mua vào để dự trữ.
Tồn kho hiện đã giảm còn 288.000 tấn. Tuy nhiên giá đầu vào sản xuất thep như phôi thép vừa qua dã tăng thêm 500.000 đồng/tấn, điện tăng, xăng dầu tăng, lãi suất vay cao đã làm cho giá thành sản phẩm 1 tấn thép hiện đang ở mức 15,5 triệu đồng/tấn, nhưng giá bán thì không thể tăng được do cạnh tranh khốc liệt. Hiện gía bán thép của các DN ở mức 15,3-17 triệu đồng/tấn và phải khuyến mãi lớn cho khách hàng nên thua lỗ không phải là ít.
Theo ông Cường hiện có 4 DN đã mấy tháng nay không có sản lượng. Chẳng hạn như DN Thép Nam Đô, Công ty cổ phần thép Thăng Long Kansai. Một số DN khác như Vinashin Cửu Long hiện đang gia công thuê, tức là khách hàng nào tìm được đầu ra, mua phôi đưa đến thì DN cho thuê dây chuyền sản xuất. Nhiều DN thép khác đã phải cắt giảm đến 50% công suất như Công ty Thép Việt. Hệ quả là hàng nghìn lao động đã phải nghỉ việc giãn việc, kéo theo thu nhập giảm sút.
Hiệp hội Xi măng Việt Nam cũng cho biết, tiêu thụ xi măng đang ở mức thấp, chỉ bằng 70%- 80% so với cùng kỳ. Thị trường xi măng dư cung 8 - 10 triệu tấn, xuất khẩu gặp nhiều khó khăn... khiến nhiều DN xi măng quay ra cạnh tranh khốc liệt trên thị trường trong nước. Hầu hết doanh nghiệp sản xuất đều tung ra mức chiết khấu cao, kèm theo khuyến mãi "khủng" như mua 100 bao tặng 9-13 bao từ nhiều tháng qua nhưng sức mua vẫn thấp.
Một số nguồn tin cho biết, nhiều DN sản xuất xi măng lỗ hàng ngàn tỷ đồng, đặc biệt là các DN mới đầu tư thêm dây chuyền sản xuất phải trả lãi vay lớn, thậm chí có DN đã phải tạm dừng 1 dây chuyền.
Vấn đề quan trọng là đầu ra cho những sản phẩm này. Không có đầu ra thì DN cũng chẳng thể nào hoạt động nổi.
Dù có vay được vốn ngân hàng để tiếp tục nhưng không có người mua thì nợ càng chồng chất.
Việc hạ lãi suất và nới lỏng cho vay BĐS sẽ giúp cho các DN dễ dàng tiếp cận nguồn vốn hơn, tuy nhiên các DN BĐS cho biết họ chưa thể vui mừng vì điều quan trọng nhất là đầu ra. Nếu khách hàng không mua thì DN cũng không có tiền trả ngân hàng. Nhiều DN sẽ bị ăn mòn hết tài sản vì đầu tư không sinh lợi và hàng đống tài sản sẽ bị chôn vùi trong núi nợ.
Theo ông Deepak Mishra - kinh tế trưởng ngân hàng Thế giới (WB) hiện các DNNN chiếm tới 60% tín dụng của các ngân hàng, các tổ chức tín dụng. Đặc biệt, mức nợ của các DNNN đang chiếm tới 70% nợ xấu của các ngân hàng. Theo Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, tính đến hết tháng 8.2011, nợ xấu toàn ngành ngân hàng ở mức trên 76.000 tỉ đồng và đang có xu hướng tăng. Trong đó, các tổ chức tín dụng có nguy cơ mất trắng khoảng 37.000 tỉ đồng (số này thuộc nợ nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn).
Một số đơn vị có nhiều nợ xấu tăng là các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thương Tín, Đệ Nhất, công ty tài chính Dầu khí, ngân hàng liên doanh Việt Thái, ngân hàng United Overseas Bank... Nợ xấu của một số ngân hàng cao hơn mức bình quân của toàn ngành là 3,21%/tổng dư nợ. Trong đó, nợ xấu của Agribank là 6,67%, Vietcombank là 3,47%. Báo cáo của Đảng uỷ khối doanh nghiệp Trung ương mới đây cho thấy, tập đoàn Điện lực hiện nợ gần 8.000 tỉ đồng; Tổng công ty Xăng dầu khoảng 1.500 tỉ đồng, tổng công ty Hàng hải nợ hơn 600 tỉ đồng ...
Điều đáng quan tâm là trong lúc nợ xấu ngân hàng tăng nhanh thì việc mua bán nợ xấu theo quyết định 59/2006/QĐ-NHNN chưa đáp ứng nhu cầu, có nhiều công đoạn và mất rất nhiều thời gian. Khi doanh nghiệp mất khả năng trả nợ, việc giải chấp các tài sản đảm bảo cũng không đơn giản. Vì thế, các định chế nước ngoài rất ít hoặc chưa muốn tham gia vào lĩnh vực này do e ngại rủi ro mua tài sản rồi về sau không bán được.
Thực tế này không chỉ gây khó cho các ngân hàng mà nó còn là một dấu hiệu đáng lo ngại cho cả nền kinh tế. Bởi lẽ nợ xấu của hệ thống ngân hàng tăng lên, tín nhiệm quốc gia giảm xuống, định hạn của các tổ chức tín dụng Việt Nam hạ xuống sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh Việt Nam trên thế giới.
Bên cạnh đó, việc xử lý nợ và tài sản công cần thu hồi trong khu vực DNNN trên thực tế chậm và kéo dài. Hiện tại, việc mua và xử lý nợ công tại Việt Nam chủ yếu dựa vào công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) - công ty 100% vốn nhà nước thuộc bộ Tài chính, được Chính phủ giao nhiệm vụ chủ yếu là giải quyết nợ và tài sản tồn đọng của DNNN, hỗ trợ thúc đẩy quá trình sắp xếp, chuyển đổi sở hữu DNNN.
Tổng giá trị nợ và tài sản (bị loại khi xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hoá) từ các DNNN mà DATC đã tiếp nhận tính theo giá trị sổ sách là 3.033 tỉ đồng, trong đó nợ là 1.314 tỉ đồng, tài sản là 1.719 tỉ đồng. Sau khi tiếp nhận, đối với các khoản nợ, hiện DATC mới chỉ thu hồi được 12,6 tỉ/556,2 tỉ đồng, chiếm 2,2% số nợ có đủ hồ sơ. Số nợ không đủ hồ sơ, không có khả năng thu hồi vẫn chưa có giải pháp xử lý dứt điểm. Đối với tài sản, DATC đã xử lý tài sản các doanh nghiệp bàn giao, thu hồi được 363 tỉ đồng, bằng 22% giá trị trên số kế toán; xử lý tài sản bị mất, thiếu hụt, thu hồi được 295 triệu/12,7 tỉ đồng.
Hơn nữa, với 3/4 số vốn nhà nước cấp cho DATC chưa được sử dụng vào hoạt động kinh doanh, mà gửi vào ngân hàng là một sự lãng phí rất lớn (tổng số vốn đầu tư của DATC hiện nay là 641 tỉ đồng, trong đó chuyển nợ thành vốn góp là 382 tỉ đồng, đầu tư trực tiếp bằng tiền là 259 tỉ tại 12 doanh nghiệp). Trong khi vốn đầu tư chưa được sử dụng triệt để, thì các hoạt động đầu tư và cung cấp dịch vụ, tư vấn là một phần trong hoạt động kinh doanh của DATC lại chậm được triển khai hoặc chưa triển khai
Phá sản ở Việt Nam là đối mặt với công khai tài chính, tài sản trả hết cho chủ nợ, bản thân bị tước quyền kinh doanh... nên nhiều công ty đã "chết" nhưng không chịu khai tử.
Luật Phá sản đầu tiên ở Việt Nam có hiệu lực thi hành từ năm 1994. Qua 10 năm thực thi luật này, chỉ thụ lý được 151 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản trong đó, tuyên bố phá sản được chỉ có 46 doanh nghiệp. Phó chánh tòa kinh tế TAND TP.HCM cho biết: sau khi sửa đổi luật, từ năm 2005 - 2011, TAND TP.HCM chỉ thụ lý có 55 vụ và thực tế chỉ tuyên bố phá sản được 4 vụ, chưa đến 1%.
Ông Nguyễn Văn Tứ - Phó giám đốc Sở Kế hoạch - Đầu tư Hà Nội cho biết, hiện nay con số doanh nghiệp (DN) đăng ký giải thể trên địa bàn đang tăng đều đặn từng ngày. Báo cáo của Bộ Kế hoạch - Đầu tư cho thấy, hết quý 1/2012 có khoảng 2.200 DN giải thể, tăng 57% so với cùng kỳ năm trước và trên 9.700 đăng ký ngừng hoạt động, tăng khoảng 6%.
Trao đổi với Thanh Niên, một thứ trưởng Bộ Tài chính khẳng định, con số DN tạm dừng nghĩa vụ nộp thuế do không có doanh thu tính tới hết năm 2011 (theo khảo sát của Bộ Tài chính phối hợp với VCCI) là gần 80.000. Đó mới là con số DN có đăng ký tạm dừng hoạt động và giải thể. Thực tế, theo số liệu từ Tổng cục Thuế, hiện có khoảng 200.000 DN trên tổng số 600.000 không còn thực hiện nghĩa vụ thuế do không có doanh thu - số này cũng có thể đã rơi vào trường hợp giải thể nhưng chưa đăng ký với cơ quan quản lý.
Theo ông Nguyễn Văn Tứ, tất cả số liệu trên chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Sở dĩ số DN xin tạm dừng hoạt động chiếm đa số vì nó là cách hành xử ưa thích nhất của DN Việt Nam. Vì nó nhẹ nhàng, không rườm rà về mặt thủ tục và luật cũng cho phép DN được tạm dừng tối thiểu 1 năm và tối đa 2 năm. Sau đó, nếu không thể hoạt động tiếp thì giải thể. Vì vậy, đa số DN “chết” rồi nhưng vẫn không khai tử - số này mới đáng báo động hơn. “Hiện nay, không ít DN đã tạm dừng hoạt động, nhưng vì nhiều lý do không đến đăng ký. Kể cả số DN vẫn nộp thuế môn bài, nhưng không có doanh thu gì cả, loại này cũng rất nhiều” - ông Tứ nói.
Không chịu phá sản.Trong vài ngày qua, nông dân nuôi cá lẫn các chủ nợ của Công ty CP thủy sản Bình An (Bianfishco) xôn xao về việc gần chục hộ nông dân là chủ nợ của Bianfishco đã ủy quyền cho luật sư của mình chính thức đệ đơn lên TAND TP.Cần Thơ yêu cầu tiến hành mở thủ tục phá sản đối với Bianfishco và đã được tòa nhận đơn. Nhưng chỉ vài ngày sau đó, ông Trần Văn Trí, người đại diện cho Bianfishco đã tiến hành chi trả hơn 20 tỉ đồng tiền nợ lương tháng 3 của hơn 2.000 công nhân và tiền nợ mua cá của hàng chục hộ nuôi cá nhỏ lẻ, đồng thời tuyên bố Bianfishco không có ý định xin phá sản mà đang cố gắng tái cơ cấu lại để tiếp tục kinh doanh.
Luật sư Nguyễn Thị Hồng Ngân (Đoàn luật sư TP.HCM) - đại diện ủy quyền của các nông dân là chủ nợ của Công ty CP thủy sản Bình An (Bianfishco) - cho biết chiều 16.4, đã có thêm 2 nông dân chủ nợ của Bianfishco với số tiền 53 tỉ đồng nộp đơn lên TAND TP.Cần Thơ yêu cầu tiến hành thủ tục phá sản đối với công ty này, nâng số đơn lên 9 (tổng số tiền Bianfishco nợ các nông dân này là 85 tỉ đồng).
Câu chuyện nợ nần của Bình An đã lùm xùm cả hơn tháng nay khi công ty này rơi vào tình trạng mất thanh khoản, nợ không trả được vàcác ngân hàng không chịu cho vay thêm. Nhưng như nói trên, bất chấp món nợ lên tới trên 1.500 tỉ đồng, công ty này không chấp nhận phá sản. Đây là thực trạng chung của nhiều doanh nghiệp hiện nay.
Chết “bí mật”.Theo luật sư Trần Ngọc Quý, Đoàn luật sư TP.HCM, mục đích chính của luật Phá sản là tạo lối thoát nhân đạo cho những DN lâm vào hoàn cảnh khó khăn tài chính, không còn khả năng trả dứt nợ. Theo cách nói của nhiều người, phá sản là “giựt nợ hợp pháp”, thanh lý hết tài sản còn lại để trả nợ. Hết tài sản thì chủ nợ coi như mất tiền. Như vậy có thể nói, phá sản cũng là lối thoát cho các DN rơi vào tình trạng bế tắc tài chính như nói trên. Vậy tại sao nhiều DN lại sợ và trốn phá sản?
Bởi lẽ, theo quy định của luật Phá sản, các ông chủ của DN bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập DN, không được làm người quản lý DN, trong thời hạn từ 1 - 3 năm, kể từ ngày bị tuyên bố phá sản. Vì vậy, chẳng ông chủ nào muốn ra tòa để bị tước quyền kinh doanh, quản lý. Tương tự, người giữ chức vụ quản lý, điều hành công ty 100% vốn nhà nước, người được giao đại diện phần vốn góp của nhà nước ở DN khác bị tuyên bố phá sản cũng sẽ không được đảm đương chức vụ đó ở bất kỳ DN nhà nước cũng như DN có vốn nhà nước. Trong khi nếu chết “bí mật” vẫn có thể mở DN khác, xin làm quản lý ở đơn vị khác. Vì vậy, mới có chuyện 1 người đứng tên mở cả 50 chục DN, trong đó có 30 chục cái đã... chết - một thẩm phán tòa kinh tế TAND TP.HCM cho hay.
Sâu xa hơn, theo ông Quý, nhiều chủ DN trốn phá sản vì khi nộp đơn ra tòa, bắt buộc mọi chuyện về tài chính đều phải công khai. Khi đó sẽ “lòi” ra việc nhập nhằng chuyện sử dụng tài chính của công ty làm việc riêng không đúng mục đích, các khoản vay mượn, mua bán không nhập quỹ, hai hệ thống sổ sách kế toán... Đây là dấu hiệu phạm tội hình sự, có thể là lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoặc cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng. Rất nhiều DN nhập nhèm tài chính công - tư nên mọi chuyện sẽ bị phơi bày nếu làm thủ tục phá sản nên họ ngại.
From : Vef ,.....