Publicité

Ngân sách Chính phủ VN kiệt quệ?

Nguồn thu thuế của Chính phủ Việt Nam đang bị thu hẹp do kinh doanh khó khăn

Giới chuyên gia hiện đang lo ngại về tình hình tài chính của Chính phủ Việt Nam sau một loạt động thái như đề xuất giảm lương tối thiểu trong khu vực Nhà nước và nới trần bội chi ngân sách.

 

Theo con số thống kê được trong 9 tháng đầu năm, Việt Nam bội chi hơn 140.000 tỷ đồng, tức khoảng 7 tỷ Mỹ kim.

Thu không đủ chiCác bài liên quanChính phủ bác đề xuất giảm lươngTiền giả và tham nhũng phá kinh tế VNKhi tài phiệt 'móc ngoặc' với nhà nước
Tại phiên họp nội các hôm 29/9, Chính phủ nhất trí sẽ đề xuất với Quốc hội cho phép nới trần bội chi ngân sách năm 2013 từ 4,8% lên 5,3%, báo mạng VnExpress tường thuật, do nguồn thu ngân sách đang gặp nhiều khó khăn.

Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng đề xuất giảm 100.000 đồng mức lương tối thiểu của người làm ăn lương trong khu vực Nhà nước nhưng đã bị Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bác.

Việc Bộ Tài chính có động thái nhạy cảm là đụng đến lương của cán bộ công chức vốn đã rất thấp so với mức sống thực tế là chỉ dấu cho thấy ngân khố quốc gia đang trong tình trạng ngặt nghèo.

Theo số liệu của Bộ Tài chính được công bố thì đến đã giữa tháng Chín mà mới thu ngân sách được 62,5% dự toán cho cả năm 2013 và dự báo năm nay thu ngân sách sẽ không đạt chỉ tiêu – chỉ vào khoảng chưa đến 40 tỷ Mỹ kim.

"Bộ máy Nhà nước hoạt động kém hiệu quả thì phải chịu giảm lương."

 

Kinh tế gia Phạm Chi Lan
Nguyên nhân được chỉ ra là do tình hình kinh doanh khó khăn nên nhiều nguồn thu như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu... đều giảm.

Kinh tế gia Phạm Chi Lan, nguyên cố vấn của thủ tướng, được VnExpress dẫn lời nói bà hoan nghênh đề xuất giảm lương khu vực Nhà nước của Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng.

Theo bà Lan thì bộ máy Nhà nước hoạt động kém hiệu quả thì phải chịu giảm lương để chịu trách nhiệm cho tình hình kinh tế yếu kém như hiện nay.

Bà cũng so sánh với khu vực tư nhân là ‘khi không làm ăn được, từ giám đốc tới nhân viên đều phải giảm lương’.

BBC đã đem vấn đề này trao đổi với kinh tế gia Hà Huy Thành, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu môi trường và phát triển bền vững, thì ông Thành không tán đồng với đề xuất trên.

 

‘Không đến nỗi nào’
Công nhân trong lĩnh vực Nhà nước đang phải rất vất vả với đồng lương ít ỏi
“Bộ Tài chính tự nhiên đưa ra đề nghị quái quỷ đó,” ông nói, “Nền kinh tế Việt Nam đã đến nỗi nào đâu.”

Ông Thành bày tỏ nghi ngờ về những lời than vãn khó khăn của Bộ Tài chính do ‘những số liệu về chi tiêu ở Việt Nam không được công khai lắm’.

“Trong vài ba năm trở lại đây cách hoạt động như đầu tư công, phát triển dịch vụ công cộng như bệnh viện, trường học đặc biệt là giao thông vận tải đều bình thường,” ông giải thích.

“Nguồn thu có thể giảm nhưng không thể giảm đến mức kiệt quệ tài chính được,” ông nói thêm, “Trong nhiều trường hợp các ngành xuất khẩu có giảm nhưng không giảm đến mức như thế.”

Về bội chi ngân sách, ông Thành nói cũng là bình thường vì ‘năm nào cũng thế’.

 

'Bộ Tài chính hơi nóng vội'

Kinh tế gia Hà Huy Thành đánh giá Bộ Tài chính 'nóng vội' khi đề xuất giảm lương để giải quyết khó khăn ngân sách.

 

Khi được hỏi về những biện pháp để cân bằng ngân sách, ông Thành đề xuất ‘có thể tăng thuế lên một số lĩnh vực còn làm ăn được’ và ‘tung ra trái phiếu chính phủ để người dân đóng góp’.

“Theo tôi biết trong dân cư còn rất nhiều tiền. Trong những năm trước đây làm được người ta có tích trữ vàng, tiền gửi ngân hàng nhiều đến mức ngân hàng phải giảm lãi suất đi,” ông giải thích và từ vài năm nay chính phủ không phát hành trái phiếu.

“Người dân sẵn sàng mua trái phiếu nếu như thật sự chính phủ có những khó khăn như thế,” ông nói thêm.

Ông cũng cho biết ‘một số nhà đầu tư quốc tế’ đang chờ đón đợt chào bán trái phiếu ra quốc tế của chính phủ vì ‘có một số lĩnh vực họ nhìn thấy tương lai phát triển’.

“Có lẽ Bộ Tài chính hơi nóng vội trong câu chuyện này,” ông nói.

 

 

 

Đáy kinh tế và bến bờ sạt lở

Cuộc tranh cãi về cái gọi là “đáy” của nền kinh tế Việt Nam vẫn tiếp biến, giữa một bên là những chuyên gia “trung thành” với đường lối của các nhóm lợi ích và nhóm thân hữu quan chức, với phía đối diện là những người phản biện độc lập thừa lòng tự trọng.

Gần đây, một số dư luận trong nước đã phải lên tiếng phản ứng đối với ông Vũ Đình Ánh - một cấp phó của Viện Nghiên cứu thị trường-giá cả (Bộ Tài chính) và cũng là người đang cổ vũ cho học thuyết “đáy kinh tế”, khi vị tiến sỹ này cho rằng “không thể đòi hỏi công khai minh bạch về vàng” và quy kết rằng những người có đòi hỏi như thế chứng tỏ “không hiểu gì về bản chất của vàng”.

 

Kinh tế VN tăng trưởng 4,9% nửa năm 2013Chủ đề liên quanDiễn đànKhẩu khí của ông Ánh lại như khá đồng điệu với khẩu ngữ của Thống đốc ngân hàng nhà nước Nguyễn Văn Bình: “Chênh lệch giá vàng thuộc về đất nước, thuộc về nhân dân”.

Nhưng cũng trong khối chuyên gia quan chức, vẫn xuất hiện những nhân tố mới đang xa dần bến bờ cũ.

“Những dự báo về khả năng “thoát đáy” của nền kinh tế có thể bắt đầu từ giữa năm 2012 đang trở nên xa vời hơn” - trong Diễn đàn kinh tế mùa Xuân ở Nha Trang vào tháng 4/2013, viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên đã phóng ra một phản biện bất ngờ.

 

Khác hẳn với năm 2012, số ý kiến phản biện độc lập đối với triển vọng “kinh tế Việt Nam thoát đáy”, bao gồm cả những quan chức đa ngành vốn chưa có điều kiện để thể hiện khẩu khí và dũng khí, đã vang lên can đảm và tự tin hơn vào nửa đầu năm 2013, ngược chiều với não trạng của giới quan chức chính phủ.

Ở phía bên kia dòng sông, nhiều người đang nhìn thấy bến bờ cũ bị sạt lở nghiêm trọng và còn đang cận kề nguy cơ lũ quét.

Cho dù mức lạm phát năm 2012 chỉ có 7% và 6 tháng đầu năm 2013 chưa đầy 3%, nhưng với việc tỷ lệ tăng trưởng GDP cũng bị sụt giảm gần như tương ứng, thay cho “quyết tâm” đến 8%-9% của những năm trước, hiển nhiên điều này không phải là một thành tích và cũng chẳng phát đi dấu chỉ “điềm lành” nào.

"Thực chất GDP mà nền kinh tế Việt Nam đạt được trong năm 2012 và hiện thời có thể chỉ nhích hơn chỉ số 0% đôi chút."
Một nhà nghiên cứu Hong Kong mới đây đã đưa ra đánh giá rằng về thực chất, kinh tế Trung Quốc chỉ đang tăng trưởng với mức 3,3%, thay vì 7,5% như báo cáo của chính phủ nước này. Và nếu tương ứng với những sai lệch thâm căn về số liệu của Trung Nam Hải, thực chất GDP mà nền kinh tế Việt Nam đạt được trong năm 2012 và hiện thời có thể chỉ nhích hơn chỉ số 0% đôi chút.

 

Giảm phát lại là hệ lụy của hiện tượng lạm phát kinh niên bị ép xuống đột ngột. Vòng quay vốn trong năm 2012 chỉ còn 0,8 lần so với mức hơn 2 lần trong giai đoạn 2007-2008 là một minh chứng điển hình cho chiều cao hình thể kinh tế bị lùn hóa hơn một nửa.

Đáy giả 2013 - 2014Cho tới nay, ba năm suy thoái nặng nề vẫn như chưa sáng ra được bài học cơ bản nào. Tất cả vẫn như nguyên vẹn, từ nợ và nợ xấu trong các ngân hàng đến tỷ lệ tồn kho chất ngất của thị trường bất động sản vẫn hầu như chưa được thanh lý. Con số hàng trăm ngàn doanh nghiệp phải giải thể và phá sản có lẽ vẫn chưa phải là là đáp án cuối cùng, nếu so với tình trạng thất nghiệp mà chính một quan chức phải cho rằng “thêm vào một con số 0 vẫn đúng”.

Vào đầu năm 2013, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã công bố tỷ lệ thất nghiệp trên toàn Việt Nam chỉ là 1,99%, tức còn xán lạn hơn cả mức thất nghiệp của năm 2011 và 2010.

Đến giữa năm 2013, bộ trưởng của đức tin xán lạn ấy là bà Phạm Thị Hải Chuyền đã phải nhận lãnh số phiếu “tín nhiệm thấp” khá cao từ các đại biểu Quốc hội - một sự trả giá cho thói quen vô cảm trước tâm thế khốn khổ của các doanh nghiệp và người lao động.

 

Riêng thống đốc Ngân hàng Nhà nước còn trở thành quán quân về tỷ lệ phiếu tín nhiệm thấp. Hiển nhiên sau hai năm từ khi chính phủ mới đi vào hoạt động cùng quá nhiều hệ lụy phát tác, khối ngân hàng đã đóng vai trò chủ đạo trong việc làm sao để tín dụng, lãi suất huy động và lãi suất cho vay chỉ có lợi cho họ.

Cho dù tới nay mặt bằng lãi suất huy động đã được kéo giảm đến 12%-13% so với đỉnh của nó là 19%-20% vào cuối năm 2011, nhưng thực tế mặt bằng lãi suất cho vay chỉ được kéo hạ từ 5%-6%.

Trong cơn bĩ cực chưa hết thấm thía, các ngân hàng chỉ chuyên tâm vào chuyện khuyến dụ người tiêu dùng bằng cách giảm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực bất động sản, đặc biệt là những chương trình khuyến mãi lãi suất đối với dự án căn hộ cao cấp được thỏa thuận giữa chủ đầu tư và ngân hàng.


Các chính sách kinh tế gây ra nhiều tranh cãi
Hiện vẫn tồn ít nhất hàng trăm ngàn căn hộ trung-cao cấp ở hai đầu cầu Hà Nội và Sài Gòn, và vào cuối quý 2/2013, Bộ Xây dựng đã phải thừa nhận tỷ lệ tồn kho căn hộ vẫn tiếp tục tăng lên. Như một hiệu ứng đồng pha, Ngân hàng Nhà nước cũng phải phát đi báo cáo về tỷ lệ nợ khó thu hồi tại các ngân hàng đã tăng đến trên 30% so với đầu năm 2013.

Thế nhưng lại không thiếu minh họa về việc nhiều ngành nghề khác do chậm thu hồi vốn, và nói chung không liên quan đến địa ốc, nên không nhận được ưu ái nào từ ngân hàng. Nhiều ngành sản xuất như cá tra, cà phê, mía đường, sắt thép, xi măng… đều đang chìm trong vòng nợ nần cùng núi tồn kho không tiêu thụ được. Ở một số nơi, nông dân đang phải bán ruộng tổ tiên để trả nợ.

Mặc dù một thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho biết 83% nợ vay cũ đã được đưa về mức lãi suất 13%, nhưng cho tới nay vẫn chẳng có manh mối công khai nào về chuyện các ngân hàng thương mại đã xử lý đến đâu số nợ vay cũ để có thể chuyển sang cơ chế cho vay mới với lãi suất thấp hơn hẳn.

Hết tháng này đến tháng khác, người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước vẫn lặp lại điệp khúc “giảm lãi suất cho vay cần có độ trễ”.

 

Nhưng nền kinh tế Việt Nam đã mòn mỏi chờ đợi cái được coi là “độ trễ” ấy đến gần ba năm qua.

Cho đến giờ, chẳng còn mấy doanh nghiệp hy vọng vào lòng thành giảm lãi suất. Đơn giản là, các ngân hàng với bản tính ích kỷ cố hữu của họ đã không muốn như thế.

Chỉ khi các ngân hàng thương mại cảm nhận về mối nguy hiểm cận kề, hay nói khác hơn là về một cái chết đe dọa họ, lãi suất cho vay mới có thể được tự động kéo giảm.

"TPP vẫn là một cái gì đó đang được tô hồng hoặc được thao diễn để khỏa lấp các mâu thuẫn xã hội lẫn nội bộ."
“Đáy kinh tế” cũng bởi thế đã trở nên một từ ngữ hàm hồ ru ngủ vào năm 2012 và có thể cả vào năm 2013, bất chấp vài ba dự đoán và khuyến cáo lạc quan từ một số giới chức điều hành, kể cả triển vọng Nhà nước Việt Nam đang manh nha cơ hội được chấp thuận tham gia vào Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), nếu được đính kèm những tự điều chỉnh về mặt nhân quyền.

 

Điều tốt nhất trong tình thế hiện thời là một cái đáy giả được thiết lập, để người ta cố ru mị nhau rằng đó là đáy cuối cùng của cuộc suy thoái cuối cùng. Để nếu khả quan, cái đáy giả đó sẽ kéo dài đến năm 2014.

Đáy thực 2016-2017?Cái nhìn của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế cũng chẳng mấy lạc quan về điều được xem là “đáy” của một mặt bằng điều hành kém cỏi và đầy ứ thuận thảo với các nhóm lợi ích.

Moody’s - một tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế có uy tín - vào tháng 9/2012 đã hạ mức tín nhiệm của kinh tế Việt Nam một bậc xuống còn B2. Tại thời điểm đó, xếp hạng tín dụng của Moody’s đối với Việt Nam là mức xếp hạng thấp nhất trong ba tổ chức xếp hạng uy tín trên thế giới khi thấp hơn 2 bậc so với xếp hạng của S&P và thấp hơn 1 bậc so với của Fitch Ratings.

 

Hiển nhiên, nếu một nền kinh tế không thể cất cánh trong điều kiện “mới nổi”, gần như chắc chắn sẽ phải mất một thời gian dài chìm trong tâm thế “bò sát”. S&P, Moody’s và cả Fitch Ratings đều có lý do để e ngại về cái triển vọng quá thiếu trong sáng như thế đối với Việt Nam.

Dù rằng TPP vẫn là một cái gì đó đang được tô hồng hoặc được thao diễn để khỏa lấp các mâu thuẫn xã hội lẫn nội bộ.

Nhưng trước khi nhìn về tương lai của TPP, người ta cũng nên ngoái lại dĩ vãng để nhận biết mình đang ở đâu, và hơn thế nữa là đang lâm vào tình trạng khó xử đến thế nào.

Chẳng mấy có ý nghĩa về tính thực chất của WTO sau 6 năm “hội nhập”, thật khó để có thể hy vọng về một lối thoát cho nền kinh tế Việt Nam cho dù có được tham gia vào TPP.


Liệu kinh tế Việt Nam sẽ 'thoát đáy'?
Năng lực điều hành kinh tế yếu kém, lồng trong bối cảnh bị xen cài quá nhiều bởi các nhóm lợi ích và gần đây lại xuất hiện cụm từ “nhóm thân hữu”, hố phân cách giàu nghèo ngày càng lớn lao và ngày càng đầy đặn các phản ứng xã hội quyết liệt hơn…, tất cả những nguồn cơn đó có thể đẩy nền kinh tế và xã hội Việt Nam vào một vòng xoáy không ngoi lên được.

Tuy vậy, cái vòng xoáy khốn khổ ấy dù đang hiện hình nhưng vẫn chưa nguyên trạng. Với những tác động song ánh trực tiếp từ mối nguy khủng hoảng kinh tế thế giới cùng những dự báo u ám của “tiến sỹ tận thế” Nouriel Roubini, nền kinh tế Việt Nam có thể sẽ phải chứng thực một cái đáy nữa theo mô hình chữ W, với cạnh sau sâu hơn cạnh trước và đáy sau, tất nhiên, cũng sâu hơn đáy trước.

Nếu không có gì thay đổi, mọi chuyện có thể xảy đến vào năm 2016-2017, hoặc sớm hơn.

Nhưng ngay cả sau cuộc khủng hoảng tương lai ấy, nếu không tự cải tạo về những hình ảnh hoàn toàn mất cân đối của mình, nền kinh tế và có thể cả vận động kinh tế - chính trị của Việt Nam sẽ không có, dù chỉ một cơ hội nhỏ nhoi, để “thoát đáy”.

 

 

 

Trong khi ngân khố đang hạn hẹp, Chính phủ trình phương án tăng bội chi còn Bộ Tài chính muốn giảm lương thì các địa phương vẫn giữ tâm lý "đốt" tiền "chùa". Nếu không kiểm soát chi tiêu công chặt chẽ, Việt Nam dễ đối mặt với tình trạng của Mỹ hiện nay.
 
Sự kiện này đặt giữa bối cảnh, tại Việt Nam, Chính phủ cũng đang có dự kiến sẽ trình Quốc hội nâng tỉ lệ bội chi ngân sách Nhà nước lên 5,3% GDP vào năm tới từ mức 4,8% GDP như hiện nay, cùng với đó là việc Bộ Tài chính đề xuất giảm lương.

Về vấn đề này, PV Dân trí đã có buổi phỏng vấn riêng với TS Đinh Tuấn Minh, chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế công, từng từng tham gia Nhóm Tư vấn Chính sách, Bộ Tài chính. Ông cũng là đồng tác giả của các báo cáo có tiếng vang lớn trong thời gian vừa qua do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội chủ trì, mới đây nhất là báo cáo “Nợ công và tính bền vững ở Việt Nam: Quá khứ, hiện tại và tương lai”.


Thưa TS, về dự kiến trình của Chính phủ sẽ trình Quốc hội về việc nới trần bội chi ngân sách lên 5,3% GDP đặt giữa bối cảnh hiện tại, ông có đánh giá như thế nào?

Việc nâng trần bội chi để tăng chi đầu tư phát triển trong giai đoạn này, tôi cho rằng, điều này thể hiện việc cải cách ngân sách vẫn chưa được tốt.

Bởi trong giai đoạn tái cơ cấu thì việc giảm thuế để hỗ trợ doanh nghiệp là một bước đi tích cực nhưng đồng thời với đó phải có những cắt giảm chi tiêu, đặc biệt là chi tiêu thường xuyên để cải thiện năng suất của nền kinh tế.

Do đó, nếu hiện tại không cắt giảm được các khoản chi tiêu thường xuyên này để có tiền hỗ trợ đầu tư công thì phần nào cho thấy, Chính phủ chưa thực sự có những quyết tâm mạnh mẽ trong việc cải cách nền kinh tế, trong đó có việc cải cách chính mình. Đó là điểm chưa được trong thời gian vừa qua.

 

Đánh giá của ông như thế nào về tình hình lãng phí ở các địa phương hiện nay, khi mà đầu tư công mặc dù đã được siết nhưng đâu đó vẫn còn câu chuyện mua thêm xe, xây thêm trụ sở hay các chương trình kêu gọi tiết kiệm, báo cáo kết quả thực hiện tiết kiệm lại được thực hiện tại những khách sạn hạng sang?

Theo tôi, có lẽ là Chính phủ vẫn chưa có một cái nhìn thực sự nghiêm túc về việc cắt giảm chi tiêu, tinh gọn bộ máy và làm thế nào để sử dụng nguồn vốn có hiệu quả hơn.

Tất nhiên là cũng cần phải có một lộ trình trên tất cả những khía cạnh này, từ các hình thức tiết kiệm cho đến những hình thức nhằm tinh giảm biên chế.

Song, nếu nhìn vào mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và địa phương hiện này thì thấy rằng vẫn đang còn lỏng lẻo.

Rất nhiều khoản từ Trung ương đưa xuống địa phương nhưng lại không có được sự giám sát tốt nên chính quyền địa phương nhiều lúc lại chi tiêu như “tiền chùa”, “tài sản chùa” – đó là bất cập!

 

Để khắc phục tình trạng này, liệu có nên có những có chế như khoán chi tiêu hay các chế tài nhất định nào đó về phạt hay không?

Tôi không nghĩ rằng những quy định cụ thể như vậy sẽ có ý nghĩa mà quan trọng nhất là cần có một cơ chế rõ ràng về thu và chi ngân sách ở các địa phương. Tức là, những khoản địa phương tự huy động nhưng có thể tự đưa ra kế hoạch để chi tiêu, còn những khoản từ trung ương thì phải được giám sát để sử dụng đúng mục đích.

Hơn nữa, những khoản từ trung ương “rót” xuống cũng chỉ nên dành cho những mục tiêu mang tính liên tỉnh, mục tiêu quốc gia chứ không phải thuần túy cho riêng địa phương đó.

Còn việc giải ngân vốn nhà nước tại các dự án công, theo ông, đâu là vấn đề gây ra lãng phí? Do năng lực nhà thầu (nhất là nhà thầu được chỉ định) hay do tình trạng “lót tay”, tham nhũng, bớt xén tài sản công?

Tôi nghĩ, việc tham nhũng, bớt xén thì cũng không thể nào nói được một cách chính xác, nhưng có một điều mà ai cũng có thể nhìn ra là tất cả những khoản chi tiêu ngân sách nếu không có được sự giám sát chặt chẽ trong giải ngân thì sẽ bị chi tiêu một cách hoang phí. Cấp quản lý ở tầm thấp hơn họ sẽ không để tâm đến việc giám sát, đấu thầu và khiến giá thành bị đội cao lên rất nhiều.

Hiện tại xảy ra một tình trạng trong đầu tư công đó là, địa phương cứ vẽ lên các dự án và trình lên các cấp trung ương, sau đó trung ương lại rót vốn xuống để bù đắp, từ đó dẫn đến việc, địa phương vừa trình lên dự án lại vừa chịu trách nhiệm giám sát, đánh giá tất cả các dự án đó trong khi Chính phủ ngoài việc rót vốn lại không kiểm soát được.

Đây là vấn đề đề mà nếu không có hướng giải quyết đúng đắn thì sẽ không thể nào cải thiện được chất lượng đầu tư công. Càng mở rộng ra thì càng phung phí tiền bạc mà chưa chắc hiệu quả đã tốt. Trong khi đó, cơ chế và quy trình giám sát của Chính phủ cần phải được phát huy, trước hết phải xem xét được, các dự án đó tốt hay xấu, nên hay không nên triển khai.

 

Có thể nói, khi Bộ Tài chính có đề xuất giảm lương thì dường như tình hình ngân sách đã trở nên cấp bách. Vậy, theo ông, việc phát hành trái phiếu để tăng thu có giúp Chính phủ giải quyết được vấn đề hay không?
 
Về mặt kế toán, việc phát hành trái phiếu để tăng nguồn thu đương nhiên là đáp ứng được nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, nhưng cái quan trọng là điều đó có ảnh hưởng tới nền kinh tế và để lại hệ lụy hay không? Còn vay để tiêu thì đương nhiên là dễ rồi!

Đối với các doanh nghiệp thì nhu cầu về vốn luôn rất lớn, riêng với DNNN, nếu Chính phủ tiếp tục bảo lãnh cho trái phiếu doanh nghiệp thì sẽ tiềm ẩn nợ công quốc gia, còn nếu không thì doanh nghiệp sẽ phải trả một mức lãi suất rất cao mới hấp dẫn được nhà đầu tư. Vậy theo ông, trong trường hợp này, Chính phủ nên ứng xử như thế nào?

Theo tôi, điều đầu tiên là Chính phủ không nên tài trợ cho các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước, chỉ trừ những dự án công như các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng cần vay theo chương trình hợp tác công – tư (PPP) thì Chính phủ có thể cân nhắc bảo  lãnh để doanh nghiệp được vay vốn.

Còn tất cả những dự án khác có tính kinh tế thương mại thì dù đó là những dự án về xây dựng nhà máy điện, xi măng thì cũng nên tránh việc Chính phủ đứng ra bảo lãnh. Rủi ro liên quan đến hiệu quả kinh tế thì không thể nào biết được, không lường trước được. Đó là việc mà doanh nghiệp phải tự thu xếp.

Còn quan ngại rằng nếu trái phiếu không được Chính phủ bảo lãnh thì tính hấp dẫn sẽ kém đi, doanh nghiệp phải trả lãi suất cao hơn thì tôi nghĩ, đó không phải đó là điều đáng lo.

Thực tế cho thấy, bản thân rất nhiều các doanh nghiệp tư nhân như Vingroup hay Hoàng Anh Gia Lai họ cũng đã tự phát hành trái phiếu, tự đi vay và vẫn vay được với một mức lãi suất đảm bảo, hợp lý. Các doanh nghiệp khác cũng hoàn toàn có thể  làm được nếu kinh doanh tốt.

 

Ở đây, nhiệm vụ của Nhà nước là ổn định được kinh tế vĩ mô để có được một mặt bằng lãi suất thấp, tự khắc lúc đó các doanh nghiệp sẽ tiếp cận được những nguồn vốn tốt trên thế giới.

 

Bối cảnh của Việt Nam hiện này có gì khác với các nước khác và chúng ta cần làm gì để tránh suy kiệt ngân sách như vậy, thưa ông?

Việt Nam có khác các nước là chúng ta đang trong thời gian mới bắt đầu và có thể nhìn các nước khác để rút ra những bài học.

Các nước khác đã xảy ra tình trạng đó rồi và đang phải xử lý. Thật ra mức nợ hiện tại của Việt Nam bây giờ trên kinh nghiệm quốc tế vẫn chưa phải là đáng báo động, nhưng từ đấy đến mức đáng bảo động cũng không còn xa.

Bên cạnh nợ công thì một vấn đề rất đáng quan tâm là chúng ta bị rơi vào tình trạng mất cân đối ngân sách có tính thường xuyên. Nếu tình trạng này cứ tiếp diễn và nhất là khi chúng ta đang có xu hướng nâng mức bội chi ngân sách thì nguy cơ sẽ sớm đối diện với tình trạng bất ổn hơn.

Nếu chúng ta không có phương án quản lý chi tiêu công một cách chặt chẽ thì trong tương lai có thể sẽ dễ gặp phải tình trạng như châu Âu và Mỹ bây giờ.

Vậy theo ông, vấn đề quan trọng nhất cần đặt ra ở thời điểm hiện tại là siết chi tiêu, giám sát chi tiêu hay tăng thu?

Quan trọng nhất bây giờ có hai điểm: Thứ nhất là phải giảm chi của Chính phủ, đặc biệt là giảm chi thường xuyên.

Thứ hai là phải quản lý và xem lại cơ chế đầu tư công một cách cẩn trọng hơn để làm thế nào đồng tiền cung ứng ra phải được sử dụng hiệu quả nhất.

Đó là những việc phải làm trước khi có các quyết định về mặt tăng đầu tư công, nếu không sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và có thể gây ra những bất ổn trong các cán cân kinh tế vĩ mô, nhất là nợ công.

Tuy nhiên, tôi cũng lưu ý rằng, tăng đầu tư công là cần thiết để hồi phục tăng trưởng kinh tế. Quốc gia nào cũng cần đầu tư công ở một mức độ nhất định và ổn định. Nhưng, nếu quay sang hướng này quá sớm trong khi chưa giải quyết được khoản chi thường xuyên cũng như nâng cao chất lượng quản lý đầu tư công thì sẽ lặp lại tình trạng như những năm vừa qua và sẽ chẳng giải quyết được vấn đề gì

 

 

 

From : BBC ,....Phạm Chí Dũng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Publicité
Tag(s) : #Dư Luận Chính Trị VN
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :