Publicité

Trung Quốc là bậc thầy của mua chuộc, đút lót'

 Tại cuộc hội thảo “Tự chủ kinh tế trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau” do Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức sáng 3.7, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng: “Việt Nam đã trao quá nhiều công trình cho nhà thầu Trung Quốc theo hình thức EPC: 23/24 nhà máy xi măng; 15/20 dự án nhiệt điện đốt than, giao thông, khai khoáng (bauxite), cho thuê rừng và đất rừng ở vùng biên giới…”.

Công trình thi công cảng Vĩnh tân (Bình Thuận) do nhà thầu Trung Quốc đảm nhiệm - Ảnh: Quế Hà
 

Ông cũng cho rằng, với các dự án có nhà đầu tư Trung Quốc tham gia, lợi ích nhóm chi phối mạnh trong khi “Trung Quốc là bậc thầy của mua chuộc, đút lót”. Theo chuyên gia này, việc để lợi ích nhóm chi phối trong các dự án có nhà đầu tư Trung Quốc sẽ dẫn đến tình trạng có “quá nhiều sơ hở không đáng có dẫn đến tình trạng phụ thuộc vào kinh tế Trung Quốc”, do đó, cần công khai minh bạch hơn nữa và làm rõ trách nhiệm cá nhân. Theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh, cần sửa đổi, bổ sung luật Đấu thầu và các luật có liên quan (như về cho thuê rừng và đất rừng).    
 Với các dự án có nhà đầu tư Trung Quốc tham gia, lợi ích nhóm chi phối mạnh trong khi Trung Quốc là bậc thầy của mua chuộc, đút lót   


Ông Nguyễn Văn Thụ, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp cơ khí Việt Nam cũng xác nhận tình trạng này. “Hiện nay, ngành cơ khí Việt Nam không có thị trường, hầu hết các dự án công nghiệp dùng cơ chế chỉ định thầu hoặc cơ chế đấu thầu giá thấp nên đều lọt vào tay nhà thầu Trung Quốc”, ông Thụ nói. Theo ông này, từ năm 2003-2011, nhà thầu Trung Quốc làm tổng thầu EPC của 5/6 dự án hóa chất; 2/2 dự án chế biến khoáng sản; 49/62 dự án xi măng. Riêng nhiệt điện có 16/27 dự án do Trung Quốc làm tổng thầu.

“Nhưng các dự án do Trung Quốc làm thường chậm tiến độ 3 tháng đến 3 năm, chất lượng thiết bị không đồng đều, một số thiết bị phụ trợ chất lượng thấp thường bị thay thế. Nhà thầu Trung Quốc thường xuyên thay đổi thiết bị so với cam kết ban đầu, thay đổi tiêu chuẩn vật liệu, thay đổi hoặc bổ sung nhà cung cấp do đó, giá hợp đồng bị đội lên”, ông Thụ cảnh báo.

Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam lo lắng: “Có thể nói, ngành cơ khí Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi tình trạng nhà thầu Trung Quốc làm tổng thầu phần lớn các dự án công nghiệp, không dành phần việc nào cho cơ khí trong nước”. Ông cho rằng, một phần nguyên nhân của tình trạng trên là do luật Đấu thầu của Việt Nam hiện vẫn ưu tiên cho các nhà thầu bỏ giá thấp mà chưa chú trọng đến nguồn gốc xuất xứ về chất lượng thiết bị. Trong khi đó, các dự án chỉ định thầu EPC do nhà thầu Trung Quốc thu xếp được tài chính từ nguồn vay tại Trung Quốc với lãi suất thấp, thủ tục vay đơn giản.

Tập đoàn Dệt may (Vinatex) cũng cho biết, hiện nay ngành dệt may lệ thuộc quá lớn vào nguồn vải nhập khẩu (chiếm 86% tổng nhu cầu), đặc biệt là Trung Quốc (46%). “Tình trạng nút thắt cổ chai tại khâu dệt nhuộm trong chuỗi cung ứng dệt may của Việt Nam”, đại diện Vinatex nói.

 

Tại hội thảo, nhiều chuyên gia kinh tế khác cũng cảnh báo về nhập siêu từ Trung Quốc quá lớn. “Nhập siêu từ Trung Quốc luôn lớn hơn tổng nhập siêu của Việt Nam, thực sự là vấn đề lớn”, chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong nói. Ngoài những nguyên nhân khách quan về sự gần gũi về địa lý, sự phụ thuộc của nhiều ngành kinh tế Việt Nam vào những nguyên, phụ liệu từ Trung Quốc mà Việt Nam chưa sản xuất được; giá hàng hóa từ Trung Quốc quá rẻ và cạnh tranh hơn… theo chuyên gia này, một nguyên nhân chính là do các nhà thầu Trung Quốc thắng thầu quá nhiều công trình ở Việt Nam, nhiều cuộc thắng thầu không minh bạch.

Theo ý kiến chung của nhiều chuyên gia kinh tế, đại diện nhiều ngành sản xuất tại hội thảo, trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày nay, sự phụ thuộc của các nền kinh tế là không tránh khỏi, nhất là Việt Nam lại quá gần với một nền kinh tế lớn như Trung Quốc. Trung Quốc đạt được nhiều lợi ích trong quan hệ với Việt Nam và Việt Nam cũng đạt được nhiều lợi ích trong quan hệ thương mại, nhất là xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc. Tuy nhiên, để nhiều ngành kinh tế lệ thuộc quá lớn, để nhiều nhà đầu tư, doanh nghiệp Trung Quốc thao túng nhiều ngành sản xuất, đặc biệt cơ khí ở Việt Nam… là điều rất rủi ro cho nền kinh tế một khi quan hệ giữa 2 nước đi theo chiều hướng xấu. Do đó, các chuyên gia đề nghị phải cẩn trọng, xem xét lại tất cả các mặt, cần thiết có những điều chỉnh nhất định trong chính sách, quan hệ kinh tế với Trung Quốc để giảm bớt rủi ro

 

 

TP.HCM không có nhà thầu Trung Quốc thi công các dự án ODA

 
Sáng 2.6, Ban Kinh tế Trung ương có buổi làm việc với UBND TP.HCM về tình hình kinh tế-xã hội của thành phố 5 tháng đầu năm 2014.
UBND TP.HCM cho biết, hiện thành phố quản lý 3 dự án ODA đã hoàn thành đang theo dõi trả nợ và 20 dự án đang triển khai thực hiện với tổng mức đầu tư hơn 119.813 tỉ đồng, trong đó vốn ODA hơn 98.466 tỉ đồng, vốn đối ứng 21.346 tỉ đồng. Ước giải ngân trong 5 tháng đầu năm 2014 đạt 2.405 tỉ đồng, trong đó vốn ODA là 2.000 tỉ đồng.

Hiện nay không có nhà thầu Trung Quốc thi công các dự án ODA hoặc các dự án trọng điểm của TP.HCM.

Liên quan đến tình hình lao động nước ngoài, UBND TP.HCM cho biết theo thống kê sơ bộ, hiện có 669 doanh nghiệp nước ngoài có sử dụng 1.806 lao động quốc tịch Trung Quốc.

UBND TP.HCM cũng cho biết trên địa bàn thành phố chỉ có 131 dự án đầu tư của doanh nghiệp Trung Quốc với tổng mức đầu tư 275,5 triệu USD. Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư Trung Quốc tại TP.HCM đạt 82,98 triệu USD, nhập khẩu đạt 39,55 triệu USD.

Trong 5 tháng đầu năm 2014, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp TP.HCM vào Trung Quốc đạt 1,594 tỉ USD (tăng 31,93% so với cùng kỳ), kim ngạch nhập khẩu 3,116 tỉ USD (tăng 7,94% so với cùng kỳ).

Trên địa bàn TP.HCM hiện có 5.029 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 34 tỉ USD

 

 

Nhà thầu Trung Quốc không khai thác bauxite

Dự án nhà máy alumin ở Bảo Lâm (Lâm Đồng) 

Ngày 29.12, Sở Thông tin - Truyền thông Lâm Đồng đã cung cấp cho báo chí báo cáo của UBND tỉnh về các vấn đề liên quan đến dự án tổ hợp bauxite nhôm Lâm Đồng.
Theo đó, hiện dự án có hơn 1.200 lao động người Trung Quốc; nhà thầu Trung Quốc không khai thác bauxite, sau khi xây dựng xong sẽ chuyển giao công nghệ và nhà máy cho chủ đầu tư theo hợp đồng dạng “chìa khóa trao tay”. Trước đó, trả lời PV Thanh Niên, ông Trần Dương Lễ - Phó giám đốc BQL dự án tổ hợp bauxite nhôm Lâm Đồng cho biết, nhà máy alumin đã thi công được 98%, mỏ tuyển thi công 60%; khoảng đầu tháng 4.2011 nhà máy alumin sẽ chạy có tải. Chính phủ đã yêu cầu chủ đầu tư (Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản VN) thuê tư vấn độc lập nước ngoài thẩm tra lại thiết kế kỹ thuật và thi công của hồ bùn đỏ.

 

 

Mua điện gấp 3 giá thường: Kẻ nào nối giáo cho Trung Quốc? /  Phạm Chí Dũng 5 Dân lam Bao ) -

http://danlambaovn.blogspot.fr/2014/06/mua-ien-gap-3-gia-thuong-ke-nao-noi.html

Khác hẳn với làn sóng “thủy triều đỏ Trung Hoa” những năm trước, con sóng cuồng bạo tàn dập mang tên HD 981 vào năm nay đã làm rách toạc đáy con thuyền chính trị Việt Nam vốn đã mục nát, khiến bục tung những khoảng tối tăm bẩn thỉu bị khuất tất lâu ngày.


Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), từng được một tờ báo Anh vinh phong là “cậm ấm hư hỏng” do người mẹ đỡ đầu của nó là Bộ Công thương, là tiếp dẫn ngoan ngoãn vô song cho chiến dịch tiếp tay cho Trung Quốc đến mức phản nghịch tình dân tộc.


Đất Việt – tờ báo của Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam và là một trong những xung kích phản biện vượt qua sợ hãi nhất trong hệ thống truyền thông nhà nước – mới đây đã cùng với GS TS Đặng Đình Đào – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội – hé lộ một “bí mật quốc gia”: từ nhiều năm qua, EVN đã mua điện từ các doanh nghiệp Trung Quốc với giá gấp đến 3 lần mức thông thường của doanh nghiệp Việt Nam.


Thậm chí, EVN mua điện của Trung Quốc với giá cao cả ở thời điểm nguồn cung cấp trong nước dồi dào, vin vào lý do vì hợp đồng mua điện với Trung Quốc được ký từ năm 2005 và chính thức mua điện từ 2009. Thái độ kinh doanh bất chấp này đã bất chấp một thực tế là trong thời gian gần đây, nguồn điện trong nước được tăng cường nhiều hơn, nhiều nhà máy điện ngoài EVN chưa huy động hết công suất, có thời điểm điện dư thừa, giá lại rẻ hơn nhiều giá điện Trung Quốc bán cho Việt Nam. Nhưng bởi lối hành xử đầy ngờ vực, EVN đã cố tâm mua điện trong nước với giá chỉ bằng 1/3 giá mua điện của Trung Quốc, kèm theo các điều kiện rất khắt khe.


Đến năm 2013, giới chuyên gia phản biện độc lập đã không còn giữ nổi bình thản: một lượng lớn điện thương phẩm mua từ Trung Quốc với giá cao và có xu hướng tăng nhanh những năm gần đây đã làm méo mó quá nhiều thị trường điện.


Cơ chế độc quyền vong bản đã phát triển đến mức trong khi nhiều doanh nghiệp sản xuất điện của Việt Nam sẵn sàng chịu lỗ để hòa lưới điện, khi suốt từ năm 2011 khi báo chí Việt Nam dồn dập phẫn nộ trực chỉ vào trách nhiệm của EVN về quan điểm “người Việt dùng hàng Trung”, doanh nghiệp thuộc loại độc trị theo cung cách thời chủ nghĩa tư bản dã man này vẫn quay mặt làm ngơ với hình ảnh tàu Bình Minh bị Trung Quốc cắt cáp và ngư dân Việt bị người “đồng chí tốt” đẩy vào vòng khốn quẫn ngay trên vùng biển quê hương.
Bởi từ một góc nhìn khác, ai cũng biết Trung Quốc sở hữu khối doanh nghiệp có biệt tài “quà cáp” hẩu nhất thế giới.


Ai phải bù lỗ và gánh nợ?
Ở Việt Nam, EVN là một trong những dẫn chứng sống động và dối trá nhất về việc người ta đã mượn lý thuyết kinh tế chỉ huy thời chiến để trục lợi như thế nào vào thời bình. Trong điều kiện nền chính trị độc đảng, thủ đoạn lợi dụng càng trở nên thâm ý hơn. Độc quyền và đặc lợi cũng vì thế đồng nghĩa với tội đồ, đối với nền kinh tế và đời sống dân sinh.


Với trường hợp EVN, đó chính là tội ác.


Năm 2011, vào lúc nền kinh tế Việt Nam dợm chân vào suy thoái, sự đổ bể của hai thị trường chứng khoán và bất động sản đã kéo theo một phát minh không tiền khoáng hậu kể từ thời mở cửa 1990: những doanh nghiệp nhà nước đặc trưng bởi chủ thuyết “giá chỉ có tăng chứ không giảm” như EVN và Petrolimex (Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam) đã tạo thành cặp song sinh có chung hậu môn. Hàng loạt chiến dịch đầu tư trái ngành của các tập đoàn này vào chứng khoán, bất động sản và bảo hiểm rốt cuộc đã tích đọng gánh nợ đến trên 40.000 tỷ đồng.


Trong suốt ba năm qua, toàn bộ số nợ nần đó đã được EVN và Petrolimex tuồn qua tuyến đại tràng để đổ lên đầu người dân đóng thuế.


Nhưng cũng trong suốt ba năm qua, bất chấp những đợt tăng giá điện vô tội vạ của EVN, đã không có bất cứ cuộc kiểm tra nào được làm tới nơi tới chốn. Tất cả những dấu hiệu khuất lấp về tài chính và số lương “nghèo khổ” ít nhất vài chục triệu đồng theo đầu người ở tập đoàn này mà dư luận bức xúc từ năm 2011, đã hầu như không bị cơ quan chủ quản của EVN là Bộ Công thương phản cảm. Không những thế, những lãnh đạo cao nhất của Bộ Công thương như ông Vũ Huy Hoàng vẫn không ngơi nghỉ một chiến dịch khác: PR cho “cậu ấm hư hỏng” của mình.


Đó là một dạng PR không mới, nhưng lại chỉ được dư luận người dân Việt đặt tên chính thức từ năm 2012: PR chính sách. Chủ thể của hoạt động này chính là cái tên “nhóm thân hữu” – một chủ đề mà chưa một ủy viên bộ chính trị nào đủ can đảm hay liêm sỉ để mổ xẻ trước bàn dân thiên hạ.


Cũng không quá khó hiểu là những động thái PR chính sách đã xuất hiện không ít lần, kể cả ở cấp Chính phủ.


Nhóm thân hữu, về bản chất, lại có mối quan hệ ruột rà và móc xích giữa các chính khách ở các cấp khác nhau, từ dưới lên và từ trên xuống. Trong từng trải của người dân Việt Nam, thực tế sinh tồn của các doanh nghiệp lệ thuộc vào chính sách từ nhiều năm qua đã chứng tỏ một nguyên tắc bất thành văn: chỉ có chính sách mới tạo ra được lợi nhuận; để đến lượt mình, lợi nhuận phải quay lại “nuôi” chính sách.


Cũng là “nuôi” các chính khách.
Công nghệ “giết sống”


Giá xăng dầu và điện lực phi mã tất yếu dẫn đến lạm phát đội mồ sống dậy. Trong thực tế, chỉ số tiêu dùng CPI bị tác động không nhỏ và lập tức kích hoạt hàng loạt đợt tăng giá của hàng tiêu dùng, thực phẩm, giá vận tải hành khách và hàng hóa, giá nhà trọ…, làm khốn khó hơn cho đời sống công nhân và dân nghèo vốn đã quá khó khăn.


Đời sống dân sinh ấy cũng liên đới quá đỗi hữu cơ với ít nhất 80% lực lượng vũ trang và gần 3 triệu công chức viên chức nhà nước. Vài năm gần đây, ngay cả cảnh sát giao thông còn bị “đói” thì giới nhân viên an ninh không than thở mới là chuyện lạ.


Thế nhưng đối mặt với tất cả những trớ trêu và nghịch lý tận cùng ấy, lãnh đạo Bộ Công Thương vẫn hầu như khóa khẩu, trong khi vài ba viên chức cấp vụ của bộ này vẫn cố gắng “an dân” bằng thuyết minh việc tăng giá xăng dầu và điện không ảnh hưởng nhiều đến CPI.


Nhưng vào năm 2013, một cuộc thanh tra của Thanh tra chính phủ đã phát hiện trong bảng giá thành của mình, EVN đã hạch toán cả các công trình xây bể bơi, sân tennis và biệt thự vào giá bán điện. Giá bán điện lại được phổ cập cho mặt bằng dân trí thấp kém trong dân chúng. Và thêm một lần nữa, người ta có được bằng chứng về cái được coi là “trận đánh đẹp” của EVN: cuộc chiến bù lỗ vào dân.


Sau khi tăng giá liên tục trong ba năm qua, nợ ngân hàng của EVN đã được rút bớt. Nhưng chỉ là bớt một ít. Với hơn 30.000 tỷ đồng thất bát từ đầu tư trái ngành, EVN luôn phải đối mặt với tương lai phá sản nếu không thanh toán được cho các chủ nợ.


Trong khi đó, một con số lần đầu tiên được công bố là EVN chính là doanh nghiệp vay nợ ngân hàng lớn nhất Việt Nam, với hơn 118.000 tỷ đồng. Đây là mức dư nợ lớn nhất mà hệ thống ngân hàng dành ưu ái cho một tập đoàn nhà nước.


Với nợ nần khổng lồ và số lỗ do đầu tư trái ngành, người ta ước tính EVN phải tăng giá điện liên tục đến năm 2017-2018 thì mới may ra “hòa vốn”.


Thế nhưng cái điểm hòa vốn ăn thịt lẫn nhau ấy lại có thể khiến những người dân nghèo nhất phải quyên sinh. Bởi theo nguyên lý từ thời tư bản dã man, nếu doanh nghiệp độc quyền có được lợi nhuận, nhân dân chắc chắn phải mất đi phần lớn thu nhập của mình; còn nếu doanh nghiệp độc quyền hòa vốn, nhân dân phải chịu lỗ hoặc phá sản.


Không chỉ mất tài sản, người dân còn phải trả giá bằng cả sinh mạng bởi lối hành xử vô lương tâm của những quan chức độc quyền nhà nước. Vụ xả lũ đồng loạt của 15 nhà máy thủy điện ở miền Trung vào cuối năm 2013 đã “giết sống” đến năm chục mạng người nghèo nơi rốn lũ.


Tất cả đều biết cấp trên trực tiếp của các nhà máy thủy điện là EVN, còn thủ trưởng trực tiếp của EVN là Bộ Công thương. Tuy nhiên sau vụ “giết sống” trên, nhiều phóng viên báo chí quốc doanh đành nuốt nhục vì bị cơ quan tuyên giáo “chặn họng”. Nhân quả là đã không có bất kỳ một quan chức vô cảm và vô trách nhiệm nào phải đối mặt với vành móng ngựa, mặc dù chính vào lúc người dân chết chìm trong nước lũ xả trắng mênh mông, Bộ trưởng công thương Vũ Huy Hoàng còn bận “công du “ ở nước ngoài.


Tán tận lương tâm chắc chắn là từ ngữ hiển thị đầy đủ nhất tâm địa của các doanh nghiệp độc quyền và những quan chức “tận Trung” trong những năm suy thoái kinh tế qua. Kinh tế càng xuống dốc, đời sống người dân càng túng quẫn, thái độ sống chết mặc bay càng lên ngôi, chủ nghĩa thực dụng, lợi nhuận và vong quốc càng “hiển thánh”.


Tận Trung: Kẻ nào nối giáo?
Hãy trở về với câu chuyện tán tận lương tâm dân tộc khi EVN mua điện Trung Quốc cao gấp 3 lần giá bình thường.


Một lần nữa, báo chí nhà nước bùng lên câu hỏi: Những ràng buộc có nghi vấn trong hợp đồng mua bán điện với Trung Quốc và sự cố Hiệp Hòa liên quan tới việc sử dụng thiết bị Trung Quốc mới đây khiến dư luận đặt nghi ngờ về sự hiện diện quá lớn của Trung Quốc trong ngành điện Việt Nam. Phải lý giải điều này như thế nào, khi mà thiết bị Trung Quốc vốn bị coi là chất lượng kém, bãi rác công nghệ của thế giới? Liệu có thể đặt nghi vấn về lợi ích nhóm trong việc này?


Ông Đặng Đình Đào – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển khẳng định: Với tình trạng độc quyền như EVN hiện nay và thiếu minh bạch trong kinh doanh trên thị trường điện ở Việt Nam, trách nhiệm trong việc này trước hết là do chính cơ chế quản lý kiểu bộ chủ quản lâu nay không được thay đổi, tiếp đó là các cơ quan quản lý nhà nước trong ngành điện mà cụ thể là Bộ Công thương và cả EVN trong tổ chức và quản lý điện Việt Nam. Mấu chốt của vấn đề phải là nhanh chóng xóa bỏ tình trạng độc quyền của EVN, chấm dứt tình trạng một tay nắm cả mua bán, phân phối, điều độ…


Nhưng xem ra, những câu hỏi trên vẫn còn quá hiền lành trong bối cảnh quyền tự do báo chí vẫn trong “bước đi đầu tiên của thời kỳ đầu tiên của giai đoạn quá độ” ở Việt Nam.


Bởi trong tận cùng của bản chất, tán tận lương tâm quan chức và hậu quả của nó không thể không liên quan đến trách nhiệm của giới lãnh đạo chính phủ, những người đã im lặng hoặc “bật đèn xanh” cho EVN gây nên các chiến dịch tăng giá quốc nội và giảm giá quốc ngoại.


Sau ba năm kể từ lúc các chiến dịch “thủ ác” được kích phát dồn dập và bất chấp oán thán dân tình, kẻ tội đồ EVN đã có đủ thời gian chứng tỏ nó có năng lực gây ra tội ác ghê gớm đến thế nào, kể cả thành tích nối giáo ngoại xâm kinh tế.


Không chỉ bị lên án dữ dội bởi dư luận trong nước, khối u độc quyền doanh nghiệp quốc doanh ở Việt Nam còn bị nhiều chính phủ xã hội dân sự trên thế giới và các tổ chức quốc tế chỉ trích kịch liệt, bởi hiện trạng bệnh hoạn đó đi ngược lại với những cam kết về “xóa độc quyền và hoàn thiện nền kinh tế thị trường” mà Chính phủ Việt Nam đã hùng dũng cam kết trước cộng đồng quốc tế.

 

 

Trao quá nhiều công trình cho nhà thầu Trung Quốc

 Cuộc hội thảo “Tự chủ kinh tế trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau”, do Phòng Thương mại - Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức hôm qua tại Hà Nội, thu hút rất đông đại biểu và kéo dài ngoài dự kiến của ban tổ chức, với nội dung xoay quanh việc chuẩn bị cho tình huống xấu nhất: Trung Quốc dừng các hoạt động giao thương với VN.

 

Theo tiến sĩ Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, trong hợp tác kinh tế Trung Quốc (TQ) đang có lợi hơn nhiều so với VN nên sẽ không “gây hấn” nghiêm trọng với VN trên mặt trận kinh tế vì nhiều lý do. Thứ nhất là quan hệ kinh tế Việt - Trung không chỉ đơn giản là quan hệ với các doanh nghiệp VN - TQ mà còn là quan hệ với các tập đoàn lớn, xuyên quốc gia của thế giới như Canon, Samsung… Thứ hai, TQ đang có nhiều lợi ích hơn trong quan hệ với VN, hàng trăm ngàn người TQ có việc làm, dù là nhỏ với dân số nước này nhưng cũng là nguồn đảm bảo ổn định xã hội. Thứ ba là VN cơ bản vẫn tham gia luật chơi đàng hoàng, bằng các cam kết pháp lý như cam kết WTO mà TQ là thành viên, thì không dễ gì xóa bỏ các cam kết ấy. Cuối cùng, nếu TQ gây hấn thì hình ảnh của TQ cũng xấu đi trên thị trường quốc tế, với nhiều đối tác.    
 Chơi với ai để có thể chuyển giao kỹ năng quản lý, công nghệ mới là cái chốt để VN vươn lên, quản trị tốt hơn. Chúng ta cần phải uyển chuyển hơn nữa trong quan hệ thị trường

 

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan phản ứng “Tôi không nghĩ là TQ không dám “chơi mạnh” với VN”, Bà Lan nói: “Có thể với các công ty đa quốc gia thì TQ ngần ngại, nhưng với doanh nghiệp VN đừng nghĩ họ có thể tha. Vì ngay với cam kết quốc tế, luật Biển quốc tế rõ ràng đến thế họ còn làm (trái) được nữa là việc vi phạm các quy định WTO, FTA”. Với nhận định này, bà Lan khuyến cáo: “Tỷ trọng thương mại, đầu tư của TQ vào VN là nhỏ, lợi ích nhỏ, họ sẵn sàng chịu, chứ ảnh hưởng với ta là đau hơn nhiều. Cho nên mình phải chuẩn bị tình huống xấu hơn”.

 

Lũng đoạn ngành cơ khí

Ông Nguyễn Văn Thụ, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí VN (VAMI) đã đưa ra một bức tranh về sự lũng đoạn của nhà thầu TQ với ngành cơ khí: “Từ năm 2003 đến nay, nhà thầu TQ làm tổng thầu 5/6 dự án hóa chất; 2/2 dự án chế biến khoáng sản; 49/62 dự án xi măng; 16/27 dự án nhiệt điện... Nhưng hầu hết các dự án đều chậm tiến độ, rất nhiều công trình chậm đến 2 - 3 năm, chất lượng thiết bị không đồng đều, một số phải thay thế. Nhà thầu TQ cũng hay thay đổi thiết bị, tiêu chuẩn vật liệu so với cam kết ban đầu... nên trúng thầu với giá thấp nhưng rồi lại đội giá lên”.

Theo ông Chủ tịch VAMI, việc lũng đoạn và hầu như nhập toàn bộ dây chuyền, thiết bị, máy móc… để thực hiện dự án của các nhà thầu TQ là nguyên nhân khiến tỷ lệ nhập siêu của VN từ nước này quá cao. Một phần nguyên nhân của tình trạng trên là luật Đấu thầu của VN hiện vẫn ưu tiên các nhà thầu bỏ giá thấp mà chưa chú trọng đến xuất xứ, chất lượng của thiết bị. Một nguyên nhân khác là chủ đầu tư, nhất là Tập đoàn điện lực VN, thiếu vốn, phải nhờ các nhà thầu TQ thu xếp tài chính từ nguồn vay tại nước này với lãi suất thấp để triển khai dự án.

Đồng quan điểm, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng: “VN đã trao quá nhiều công trình cho nhà thầu TQ. Với các dự án có các nhà đầu tư TQ tham gia, lợi ích nhóm chi phối mạnh trong khi “TQ là bậc thầy của mua chuộc, đút lót”. Việc này sẽ dẫn đến tình trạng có quá nhiều sơ hở và cuối cùng là phụ thuộc vào kinh tế TQ. Do đó, cần công khai minh bạch hơn nữa và làm rõ trách nhiệm cá nhân trong việc để nhiều nhà thầu TQ nắm quá nhiều công trình quan trọng, nhất là các dự án về năng lượng”. Ông Doanh cũng cho rằng, cần sửa đổi, bổ sung luật Đấu thầu và các luật có liên quan (như về cho thuê rừng và đất rừng) để giám sát các dự án mà nhà thầu nước ngoài, nhất là TQ, tham gia.

Bà Đặng Phương Dung, Tổng thư ký Hiệp hội Dệt may VN, cũng cho biết ngành dệt may lệ thuộc khá nhiều về nhập khẩu nguyên liệu từ TQ, như năm 2013 nhập xơ sợi từ nước này chiếm 47%, vải 46%… trong khi tỷ lệ nội địa hóa lại giảm còn 47,1% so với 48,5% năm 2012. Theo bà Dung, quan hệ kinh tế hai bên xấu đi, các doanh nghiệp ngành dệt may cũng phải tìm đối tác khác để nhập nguyên liệu, phòng tránh rủi ro thiếu nguồn cung nguyên liệu.

 

 

Là người bán, VN có thể chọn đối tác

Theo tiến sĩ Võ Trí Thành, cần phải đẩy nhanh hơn việc đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) với EU, Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)… nhằm mở rộng thị trường cho các ngành hàng xuất khẩu: dệt may, giày dép, thủy sản… “Chơi với ai để có thể chuyển giao kỹ năng quản lý, công nghệ mới là cái chốt để VN vươn lên, quản trị tốt hơn. Chúng ta cần phải uyển chuyển hơn nữa trong quan hệ thị trường”, ông Thành nói.

Tổng thư ký Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính (VAFI) Nguyễn Hồng Hải cho rằng hiện nay VN nhập siêu, nhập lậu quá nhiều hàng hóa từ TQ nên cần quyết liệt hơn trong các giải pháp chống buôn lậu, gian lận thuế và cần có giải pháp cụ thể trên từng lĩnh vực để giảm nhập siêu từ thị trường này. Ông Hải phân tích: Nền kinh tế của VN cũng có những thế mạnh, ở vị thế người bán như các mặt hàng về gạo, cà phê, cao su… nên hoàn toàn có thể lựa chọn, tự chủ về đối tác, thị trường… chứ không nhất thiết phải lệ thuộc vào TQ.

 


Sự kiện biển Đông khiến người Việt nên chuộng hàng Việt hơn .

Tại hội nghị tổng kết 5 năm triển khai cuộc vận động Người VN ưu tiên dùng hàng VN, nhiều báo cáo nhận định xu hướng người tiêu dùng VN ngày càng đánh giá cao hàng Việt. Tại nhiều địa phương, 80% người tiêu dùng ưa chuộng các mặt hàng dệt may, da giày nội địa. Hệ thống siêu thị của một số doanh nghiệp trong nước có hàng hóa sản xuất trong nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn trên 80% (hệ thống Big C gần 90%, Saigon Coop 95%, Vinatex mart 100%). Tại hệ thống các điểm bình ổn thị trường (trên 9.000 điểm) gần 90% là hàng sản xuất trong nước. Bà Lê Thị Ngọc Đào, Giám đốc Sở Công thương TP.HCM, kiến nghị Bộ Công thương có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt về thuế và phí, ngoài ra có chính sách để khống chế chiết khấu, giúp các nhà cung cấp VN vào được hệ thống siêu thị nước ngoài, bởi yêu cầu chiết khấu rất cao đang là một trong những chiêu để các hệ thống siêu thị này gạt các nhà cung cấp nhỏ khỏi cuộc chơi. Đặc biệt, theo bà Đào, sau sự kiện biển Đông, hàng hóa Trung Quốc về chợ đầu mối đã giảm hẳn, người tiêu dùng đang ưu tiên lựa chọn hàng Việt nhiều hơn
 

 

 

Xem

 

TQ dùng Ngũ môn Trận pháp hãm đánh VN : với Ngũ môn phá Trận VN mới có thể thoát khỏi tình huống xấu' với TQ ...

 

 

 

 

 

 

From : Thanh nien ,Huỳnh Tâm (Danlambao),............

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Publicité
Tag(s) : #Dư Luận Chính Trị VN
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :