Publicité

Sử liệu cổ Việt Nam ghi chép chi tiết về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa


 Trong khi chính sử Trung Quốc không có dòng nào về Hoàng Sa, Trường Sa thì nguồn sử liệu Việt Nam lại khá dồi dào.  


Những văn bản có nội dung khẳng định rõ chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam có từ nhiều góc độ từ cao nhất như Châu bản triều Nguyễn với bút tích của nhà Vua đến các sách sử…

Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi đề cập đến một số văn bản sử liệu cổ do TSKH Trần Đức Anh Sơn - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội TP Đà Nẵng cung cấp. Đây là một phần nhỏ trong số các tư liệu mà TSKH Trần Đức Anh Sơn đã cùng các đồng nghiệp ở Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Đà Nẵng có được khi triển khai đề tài “Font tư liệu về chủ quyền của VN đối với huyện đảo Hoàng Sa - thành phố Đà Nẵng” từ tháng 11-2009

Hoạt động của đội Hoàng Sa trong Phủ biên tạp lục

Trong sách Phủ biên tạp lục do Lê Quý Đôn biên soạn vào năm 1776 có viết về Hoàng Sa và hoạt động của Đội Hoàng Sa thời chúa Nguyễn, như sau:

“Xã An Vĩnh huyện Bình Sơn phủ Quảng Ngãi giáp liền với biển. Ở vùng biển xa về phía đông bắc có nhiều đảo núi, các núi lẻ tẻ kế tiếp nhau nhiều đến hơn 130 ngọn. Giữa các ngọn núi là biển, đảo núi xa cách nhau hoặc là đi một ngày đường hoặc đi hết mấy canh giờ. Trên núi có suối nước ngọt, trong các đảo có Bãi Cát Vàng dài khoảng hơn 30 dặm, rộng lớn bằng phẳng, nước trong vắt nhìn tận đáy…”

 

 
Hoàng Sa (Bãi Cát Vàng) trong bản đồ của sách Phủ biên tạp lục do Lê Quý Đônsoạn năm 1776
Lequydon_BaiCatVang.jpg 


“Trước đây, họ Nguyễn lập ra đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở xã An Vĩnh sung vào. Mỗi năm luân phiên tổ chức đi ra biển, cứ vào tháng Ba nhận lệnh chịu sai dịch, mang theo sáu tháng lương thực đủ dùng. Đội dùng năm chiếc thuyền câu nhỏ chở đi ra biển suốt ba ngày ba đêm liền thì mới bắt đầu đến được đảo này. Thuyền dừng ở đấy thả sức thu lượm, bắt lấy chim cá mà ăn…Lại thu lượm cả mai đồi mồi, mai ba ba biển, hải sâm, ốc hoa rất nhiều. Đến kỳ tháng Tám thì trở về cửa Eo rồi đi đến thành Phú Xuân để giao nộp. Cân đo định hạng đủ rồi, mới bắt đầu cho bán riêng các loại ốc hoa, ba ba biển, hải sâm, rồi đến lĩnh lấy bằng cấp mà quay về”.

Hoạt động xác lập chủ quyền trong Đại Nam thực lục

Sách Đại Nam thực lục chính biên, quyển 165, đệ nhị kỷ, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn năm 1836, viết về Hoàng Sa và hoạt động khai phá xác lập chủ quyền của vương triều Nguyễn đối với Hoàng Sa như sau:

 

 
Mộc bản triều Nguyễn trong sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 165 năm Minh Mạng thứ 17 (1836) ghi lại Bộ công tâu lên triều đình nội dung: "Cương giới mặt biển ta có xứ Hoàng Sa rất hiểm yếu".
  moc-ban-trieu-Nguyen.jpg


“Cương giới mặt biển nước ta có xứ Hoàng Sa rất là hiểm yếu. Trước kia, đã phái vẽ bản đồ mà hình thế nó xa rộng, mới chỉ được một nơi, cũng chưa rõ ràng. Hàng năm, nên phái người đi dò xét cho khắp để thuộc đường biển. Xin từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng Giêng, chọn phái biền binh thủy quân và vệ Giám thành đáp một chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng Hai thì đến Quảng Ngãi, yêu cầu hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định thuê bốn chiếc thuyền của dân, hướng dẫn ra đúng xứ Hoàng Sa”.

“Không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào, khi thuyền đi đến, cũng xét xem xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi và nước biển bốn bên xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào, phải tường tất đo đạc, vẽ thành bản đồ”.

“Vua sai Thủy quân suất đội Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đi. Chuẩn cho mang theo 10 cái bài gỗ, đến nơi đó dựng làm dấu ghi. Mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ: “Minh Mạng năm thứ 17, Bính thân, Thủy quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh đi Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ”.

Người Chăm tham gia thực thi chủ quyền với Hoàng Sa, Trường Sa

Dưới đây là hình ảnh văn bản bằng chữ Chăm, hiện được lưu giữ tại gia đình của một hậu duệ thuộc Hoàng gia Champa ở tỉnh Bình Thuận, phản ánh việc triều đình nhà Nguyễn huy động cư dân gốc Chăm ở plei Koh (tức làng Koh, nay thuộc đảo Phú Quí, tỉnh Bình Thuận) cử người ra cắm mốc giới ở Hoàng Sa và Trường Sa. Nội dung trên văn bản này ghi rõ: “Plei Koh trình tấu với quan phủ về việc cử 3 chiếc thuyền đến Trường Sa và Hoàng Sa hỗ trợ việc cắm các mốc giới theo chỉ dụ. Việc này làng Koh đã tập hợp dân đinh và ngư phủ, nhưng bây giờ biến động không thể ra khơi nên làng xin quan phủ cho dời đến tháng Mười sẽ khởi hành…”.

 

 
Tư liệu Hoàng gia Chăm có nội dung liên quan đến chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa

Hoang-gia-Cham.jpg

 

Đây là bằng chứng cho thấy không chỉ người Việt mà người Chăm cũng được triều đình Việt Nam huy động và sử dụng trong công cuộc xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

 

 

Bản đồ cổ Việt Nam – bằng chứng về chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa
Bản đồ Việt Nam thời quân chủ (thế kỷ XVI - XIX) ghi nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


Từ thế kỷ XVI các triều đại phong kiến Việt Nam đã khai phá và xác lập chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng việc cử người ra hai quần đảo này khai thác hải vật, đo đạc thủy trình, cắm mốc chủ quyền và lập bản đồ để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này và những vùng biển đảo khác trên Biển Đông.

Bản đồ sớm nhất về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa

Tài liệu vào loại sớm nhất mà đến nay chúng ta biết được nói về Hoàng Sa là bản đồ vẽ xứ Quảng Nam trong Toản tập thiên nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá, tự Công Đạo, biên soạn vào năm 1686. Trên bản đồ này chú thích khá cụ thể về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của quần đảo này, cũng như chủ quyền của Chúa Nguyễn được xác lập ở đó. Bản đồ có có đoạn văn viết bằng chữ Hán, nội dung như sau:

“Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm đứng dựng giữa biển. Từ cửa biển Đại Chiêm, đến cửa Sa Vinh mỗi lần có gió tây nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi giạt ở đây, đều cùng chết đói hết cả. Hàng hóa thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến đây lấy hàng hóa, được phần nhiều là vàng bạc tiền tệ súng đạn”.
 
Bản đồ của Đỗ Bá có 3 chữ Nôm Bãi Cát Vàng ở dưới

Do-ba.jpg

 

“Điều đặc biệt là tuy đoạn văn này được viết bằng chữ Hán nhưng riêng 3 chữ Bãi Cát Vàng thì được ghi bằng chữ Nôm, là thứ chữ của riêng người Việt. Điều này chứng tỏ từ cuối thế kỷ XVII, người Việt Nam đã làm chủ Hoàng Sa và đã đặt tên cho quần đảo này một cái tên thuần Việt là Bãi Cát Vàng” – TSKH Trần Đức Anh Sơn cho biết.

Hoàng Sa, Trường Sa có trong sách giáo khoa dưới triều Nguyễn

Tờ Bản quốc địa đồ in trong sách Khải đồng thuyết ước, được biên soạn và khắc in lần đầu vào năm 1853, dưới triều vua Tự Đức, vẽ vị trí của các tỉnh và các ngọn núi lớn từ ải Nam Quan đến vùng đất Biên Hòa - Vĩnh Long.

 

 
Tấm bản đồ trong sách Khải đồng thuyết ước có vẽ Hoàng Sa Chử (phần đảo Hoàng Sa được khoanh ô vuông đỏ).


Khai-dong.jpg 


Trên tờ bản đồ này, ở ngoài khơi vùng biển miền Trung có ghi chú ba chữ Hán: Hoàng Sa chử, tức là Bãi Hoàng Sa. Bản đồ Hoàng Sa trong Khải đồng thuyết ước có tên là "Bản quốc địa đồ" thuộc các trang 15-16 của sách.

“Sách Khải đồng thuyết ước là sách giáo khoa tiểu học dưới triều Nguyễn. Việc địa danh Hoàng Sa chử được đưa vào sách giáo khoa để dạy cho học sinh, chứng tỏ triều Nguyễn đã coi trong việc giáo dục ý thức chủ quyền quốc gia cho trẻ em đương thời”, TSKH Trần Đức Anh Sơn nhấn mạnh.

 

Ý thức về chủ quyền biển đảo đã được Nhà nước phong kiến Việt Nam rất quan tâm và đã đưa kiến thức về quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa vào sách dạy cho học trò. Khải đồng thuyết ước là sách giáo khoa dạy trẻ học vỡ lòng bằng chữ Hán thời vua Tự Đức, có vẽ về Hoàng Sa.

Bản đồ Hoàng Sa trong Khải đồng thuyết ước có tên là Bản quốc địa đồ thuộc các trang 15-16 của sách. Trên bản đồ ghi vị trí các tỉnh, ngọn núi lớn từ cửa Nam Quan đến Biên Hòa, Vĩnh Long và những ghi chú số phủ, huyện, tổng, xã, phường, ấp, giáp, thuộc từng tỉnh.

Phần ngoài biển đối diện với địa phận của Thừa Thiên và Quảng Nam trong bản đồ ghi chú về quần đảo Hoàng Sa với ba chữ Hoàng Sa Chử, có nghĩa là quần đảo Hoàng Sa. 


Sách do nhà nho Phạm Vọng (hiệu Trúc Đường), Ngô Thế Vinh (hiệu Khúc Giang) biên soạn. Sách được khắc in lần đầu vào năm Quý Sửu Tự Đức thứ 6 (1853) và được sử dụng trong tất cả trường học ngay từ đầu đời Tự Đức cũng giống như sách giáo khoa ngày nay. Vì là sách giáo khoa nên đã được khắc nhiều lần trải qua các triều vua.

 
Giáo sư Trịnh Khắc Mạnh - nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Hán Nôm đang giới thiệu Bản quốc địa đồ trong Khải đồng thuyết ước khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. 
 “Khải đồng thuyết ước là sách giáo khoa dạy các kiến thức về xã hội, địa lý… trong sách có bản đồ ghi Hoàng Sa thuộc Việt Nam. Cuốn sách được giới khoa học đánh giá là bản sách viết tay sớm nhất triều Nguyễn”, Giáo sư Nguyễn Xuân Thắng, Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam cho biết.

Một điểm thú vị trong bản vẽ bản đồ Hoàng Sa trong sách Khải đồng thuyết ước là quanh hai điểm này còn có thêm những chấm tròn nhỏ, thể hiện những đảo nhỏ xung quanh. Dưới phần ghi Hoàng Sa có ghi hai chữ là quốc nội, nghĩa là thuộc về Việt Nam.

 

 

Hoàng Sa, Trường Sa trong Đại Nam nhất thống toàn đồ

Đại Nam nhất thống toàn đồ là bản đồ được vẽ theo lệnh của vua  Minh Mạng, hoàn tất vào năm 1838. Trên bản đồ này đã thể hiện hình vẽ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong lãnh hải Việt Nam, và ghi chú là Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa.

 

 
Đại Nam nhất thống toàn đồ có vẽ gộp hai quần đảo Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa


 dai-nam-toan-do.jpg


Theo TSKH Trần Đức Anh Sơn, lúc đầu những người đi khám phá Hoàng Sa và Trường Sa đã nghĩ rằng hai quần đảo này là một. Họ gọi tên là Bãi Cát Vàng, hay Cồn Vàng, rồi gọi là Hoàng Sa. Về sau thì họ tách quần đảo này thành hai phần, gọi là Hoàng Sa và Bắc Hải. Kế đến họ gọi Bắc Hải là Vạn Lý Trường Sa như trong Đại Nam nhất thống toàn đồ. Sau cùng thì mới phân biệt rõ ràng là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa như hiện nay. Điều này cũng tương tự như cách gọi Hoàng Sa và Trường Sa của các nhà hàng hải phương Tây. Lúc đầu họ gọi chung 2 quần đảo này là Pracels hay Paracels. Về sau họ mới phân biệt Pracels hay Paracels để chỉ quần đảo Hoàng Sa và Spratlys để chỉ quần đảo Trường Sa.

Đại Nam nhất thống toàn đồ là bản đồ hành chính đầu tiên của triều Nguyễn được vẽ gần giống với các bản đồ Việt Nam sau này, tức là trên bản đồ này, vị trí núi sông, biển đảo được vẽ với tọa độ địa lý gần chính xác như hiện nay. Đáng chú ý là hai địa danh Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa được thể hiện rõ ràng. Như vậy là sau khi vua Gia Long cử người ra Hoàng Sa cắm cờ để xác lập chủ quyền theo kiểu phương Tây vào năm 1816, thì việc thể hiện hai địa danh Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa trên bản đồ hành chính triều Minh Mạng đã chứng tỏ nhà Nguyễn đã thể hiện rất rõ chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

 

 

 

  Cùng trong loạt bài:
Bài 1: Bản đồ cổ và chính sử Trung Quốc không có Hoàng Sa, Trường Sa
Bài 2: Châu bản triều Nguyễn: Minh chứng về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa
Bài 3: Bản đồ cổ Việt Nam – chứng cứ “thép” về chủ quyền Việt Nam với Hoàng Sa và Trường Sa
Bài 4: Sử liệu cổ Việt Nam khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa
Bài 5: Thế giới đã thừa nhận Hoàng Sa, Trường là của Việt Nam ra sao? 
Bài 6: Sách giáo khoa cổ Trung Quốc không có Hoàng Sa, Trường Sa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

From : VOV ,..............

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Publicité
Tag(s) : #Dư Luận Chính Trị VN
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :