Publicité

NGŨ HÀNH QUYỀN

 


1. Ngũ Hình Khởi ThứcKhởi đầu đứng thẳng người hai chân song song nhau, mặt quay về hướng Nam (N. xem đồ thị biểu diễn), mắt nhìn ngang không cao không thấp, hai tay buông xuôi

tự nhiên hai bên thân mình. Hơi thở điều hòa trong ba hơi tự nhiên, kế thần tập trung hư không, hai tay đưa lên ngang ngực (trên huyệt Cửu Vĩ), nắm tay phải ngửa,lòng nắm tay ra trước, bàn tay trái xòe nhưng các ngón khít nhau, đặt lòng bàn tay úp sau lưng nắm tay phải. Tay đưa lên từ từ thần quán theo hơi thở, lực từ Đan

điền tích phát chuyển theo hai tay tự lại trên nắm tay. Chỏ không gồng mà nắm tay như đang ôm quả cầu bằng sắt nặng 10 ký lô. Đây là động tác Bái Tổ.(Xem Hình 1)

 

2. Kim Báo Định Thân Xoay chân quay mặt về hướng Tây, đồng thời hai bàn tay đều mở ra đâu lưng vào nhau xoay từ trên xuống đến khi cả hai lòng bàn tay đều ngửa vào mặt (động tác

nầy chỉ dụng uyển chuyển ở hai cổ tay không di dịch cánh tay), xong rút hai bàn tay xuống hai bên hông. Khi hai bàn tay về đến bên hông rồi mới lật sấp xuống vàlòng chưởng ngửa tới hướng Tây, các ngón tay co lại nhưng không co cứng. Mọi cử động phải làm từ từ không mau không chậm, hơi thở lưu thông, khi tay ngửa

chưởng tới trước thì dồn khí xuống Đan điền, chưởng đầy sức lực và giữ sức nơi chưởng, thần để trống, mắt nhìn thẳng tới trước hư vô, toàn thân lập định đứng yênkhông cử động trong một phút. Người thành công có thể lập định lâu hơn.

(Xem Hình 2)


3. Ngã Hổ Tầm Dương Điều hòa hơi thở, thu lực về Đan điền, hai bàn tay nắm lại thành quyền lòng nắm tay vẫn để úp xuống đất, hai cùi chõ khép sát vào nhau dàng sau lưng. Hai chân từ

từ rùn bộ thấp xuống, chân trái bước tới trước hướng Tây chậm chậm dồn khí xuống gối chân phải (chân chịu), chân trái nhẹ, thân người gập xuống trước 45độ. Mắt nhìn về hướng trước. Kế, tiếp tục chân phải bước lên, chân trái vững chắc khí ý tập trung nơi chân nầy. Xong chân trái lại bước lên, sức chuyển sang chân

phải. Bước chân chuyển đi từ từ trầm trọng như Hổ bộ, gọi là Tam Bộ Thăng Đường.(Xem Hình 3)

 

4. Ngang Đầu Độc LậpThong thả khinh linh, thân trên thẳng đứng, chân phải bước lên khít chân trái, hai chân song song, thân thẳng đứng, hai quyền từ hai bên hông mở ra thành hai bàn tay

khít nhau và từ từ đưa tới và lên cao mũi, hai bàn tay chấp vào nhau như người đưa để lạy Phật vậy. Động tác đưa tay lên đồng thời nhịp nhàng với chân sau đưa lênkhít chân trước và khi thân người thẳng đứng thì mũi hai bàn tay đã tới chỗ đỉnh phải dừng. Cái chấp tay đưa từ dưới lên sức phải theo hơi đưa lên thật là trầm trọng.

(Xem Hình 4)

5. Hổ Lạc Bình DươngChưởng thu về bên hông thành quyền (chậm chậm), lực tích Đan điền, rùn bộ thấp, chân trái bước lùi về sau, sức dồn chân phải, kế, chân phải lùi, rồi chân trái. Tất

cả là 3 bước lùi mà phần trầm trong ở đôi chân không khác 3 bước tiến ở Ngã Hổ Tầm Dương. Thân trên cũng không khác.(Xem Hình 5)

 

6. Kim Báo Long ThânChân phải rút về sát chân trái sau, thân trên đứng thẳng dậy, song quyền mở ra thành chưởng, ngửa chưởng tới trước, khí lực từ chân chuyển về Đan điền rồi trút vào

song chưởng. Mắt nhìn tới trước mà thần để trống không. Hơi thở điều hòa, Đan điền đầy.(Xem Hình 6)

Tóm tắt ở trên là 3 bước tiến, 3 bước lùi về vị trí ban đầu. Tập dồn khí lực ra mũi bàn tay, lòng chưởng và hai bàn chân.

 

7. Lạc Địa Sinh CănXoay mặt về hướng Nam, chân trái bỏ bộ sang trái một khoảng rộng bằng hai lần vai hay 80 phân tây, hai bàn chân vẫn giữ cho song song nhau, rồi xuống bộ thấp

cho đùi (vế) ngang song song với mặt đất, hai chưởng đặt trên hai vế, cùi chỏ khuỳnh ra hai hướng Đông-Tây, mắt nhìn thẳng về hướng Nam, lưng thẳng. Khi hạ thấpbộ thì khí lực đồng thời cũng trầm xuống Đan điền và giữ khí tại nơi Đan điền trong một phút.(Xem Hình 7)

 

8. Song Long Bài Vĩ…Tiếp theo động tác 6. Hai bàn tay từ từ đưa thẳng về hướng Nam, hai lòng bàn tay chập lại nhau khi hai cánh tay thẳng rồi từ từ dang rộng hai cánh tay sang hai

bên hướng Đông – Tây mà lòng bàn tay vẫn ngửa về hướng Nam, ngón tay cái phía trên. Khi hai bàn tay cùng cánh tay thẳng hàng thì các ngón của hai bàn tay mở ra(xòe ra), lực tích nơi Đan điền dồn đầy trên các đầu ngón tay. Tưởng như các đầu ngón tay bây giờ là 10 mũi nhọn bằng sắt. Thần không động, ý tại các đầu ngón

tay. (Xem Hình 8)

 

9. Ngũ Hình Bát Quái Thủ (hữu)Mặt từ từ xoay về hướng Tây, hai bàn tay chuyển động, co các ngón lại như cầm quả banh rồi từ từ đẩy vào trước ngực, tay phải trên tay trái dưới và dừng lại một

cách nặng nề trước ngực. (Xem Hình 9)

 

10. Ngũ Hình Bát Quái Thủ (tả)Mặt từ từ xoay nhìn về bên Đông (xoay bằng cổ), trong lúc tay phải xoay thành vòng từ ngoài vào trong và xuống dưới, tay trái đồng lúc chuyển vòng lên trên chậm

chậm cùng một tốc độ. Khí trầm Đan điền chỉ đưa tới song thủ một phần tư toàn lực. Khi cổ xoay qua hết chỗ xoay thì song thủ đã thực hiện xong động tác rồi. Bâygiờ tay trái trên tay phải dưới. Song chưởng đối nhau.

giờ tay trái trên tay phải dưới. Song chưởng đối nhau. (Xem Hình 10)

 

11. Kim Long Hiến TrảoBàn tay đưa vòng lên phía trước mặt rồi qua trái, đồng thời bàn tay phải cũng đưa sang phải. Hai bàn tay biến thành trảo, các ngón bấu tới cong cong như móc

câu. Mắt nhìn sang phải tức hướng Tây Nam. Khi động tác xoay cổ dứt thì hai trảo cao quá đầu, hai cánh tay trong ngang bằng vai, phần cánh tay ngoài thẳng đứnglên trời. Động tác chuyển động song trảo bao gồm cả phân nửa lực khí trong Đan điền nên cánh tay chuyển động đều đều chầm chậm mà nặng nề. Tấn bộ không

thay đổi. (Xem Hình 11)

 

12. Nhị Hổ Tàng TungHai tay theo hơi thở vào đem từ trên cao (động tác 11) xuống trước ngực. Bàn tay vừa hạ xuống vừa xoay cho đến khi đến dưới hai bên vú thì cả hai bàn tay đều

ngửa lên. Đầu cũng đồng thời xoay về chính diện hướng Nam. Lúc tay đưa xuống, hơi khí trầm theo như mỗi tay có cầm một quả trứng nặng 10 ký lô, nếu các ngónbấu mạnh lấy sức thì trứng bể, do đó trảo phải khéo léo mà không cho trứng rơi mới là đúng cách. Cùi chỏ dang sang hai hướng Đông Tây. Chú trọng sức ở cổ tay.

(Xem Hình 12)

 

13. Bá Vương Cử ĐỉnhHai chưởng nắm chặt thành song quyền đồng chuyển đẩy lên thẳng, khí đầy Đan điền quán tới hai tay như nâng vật nặng ngàn cân. Lòng nắm tay úp về sau hướng

Bắc, hai nắm tay cao ngang đầu, cánh tay thẳng đứng và song song nhau. Khí bế, không hít vào mà cũng không thở ra trong 30 giây, do đó hai cánh tay lúc nầy cứngnhư thép.

(Xem Hình 13)

 

14. Hắc Hổ Lạc Địa Sinh Căn….Tiếp theo động tác 13, hai tay đang ở trên cao, khí dồn nơi Đan điền, lập tức bàn tay mở quyền thành chưởng rồi từ từ gặt vào phía trong đè xuống như đè đầu

một con cọp không cho ngẩng đầu lên. Hai bàn tay tiếp tục đè xuống chống (áp) trên hai vế, sức dồn vào Đan điền. Thế nầy mang tên như trên.(Xem Hình 14)

 

15. Nhị Hổ Tiềm TungBuông lơi sức, thân trên đứng thẳng dậy, chân phải rút về sát chân trái, mặt và chân đều xoay về hướng Tây, song chưởng dồn lực ấn xuống hai bên hông như động

tác số 2 Kim Báo Định Thân (Xem Hình 15)

 

16. Anh Hùng Độc LậpTay không thay đổi, chân phải co ngang lên, sức từ Đan điền dồn vào chân trái. Đứng yên 30 giây rồi tiếp tục thế kế tiếp.

(Xem Hình 16)

 

17. Hắc Hổ Thí Trảo… Đặt chân phải xuống hướng Tây, khoảng cách giữa chân phải đến chân trái rộng 80 phân tây, mũi bàn chân phải hướng về hướng Tây, tọa thấp xuống cho vế

ngang bằng, đoạn chưởng trái mũi chưởng hướng thiên đồng từ từ đẩy tới trong lúc chưởng phải theo vai phải về hướng sau (Đông). Sức chuyển từ Đan điền phânnửa ra hai chân, còn lại đều tập trung nơi chưởng trái.

(Xem Hình 17)

18. Tê Chiết Thủ Chi Nhất… Dùng chưởng phải (được mở ra từ bên hông phải) đánh thẳng lên trời, vai nghiêng tới hướng Tây, kế dùng sức nắm chưởng lại thành quyền rồi từ từ dùng lực kéo

xuống. Mắt vẫn nhìn hướng Tây. Tay phải đánh thì tay trái biến chưởng thành quyền thu về bên hông trái.(Xem Hình 18)

 

19. Tê Chiết Thủ Chi Nhị…. Thân bộ pháp không thay đổi, tay phải hướng về bên trái dùng lực gặt qua bên trái (hướng Tây Nam), trong lúc quyền trái mở ra thành chưởng đẩy ra trước

ngực. Cái gặt tay phải là tinh hoa của động tác nầy vậy. Khí lực phải lưu nhanh mà không thiếu, Đan điền trầm đầy chân vững tựa chân sâu xuống đất.(Xem Hình 19)

 

20. Tê Chiết Thủ Chi Tam… Thân trên không động, chưởng phải đẩy tới hướng Tây một cái nhanh gọn rồi thu ngón thành quyền rút trở về nhanh, nắm tay cao ngang mắt, cánh tay thẳng

đứng. Đồng thời chưởng trái cũng đẩy tới rồi nắm thành quyền thu về, cánh tay trong ngang với vai. Cả hai tay đều làm nhanh gọn.(Xem Hình 20)

21. Lực Vãn Thiên CânXoay mũi bàn chân phải cho thẳng về hướng Nam, hai bàn chân song song nhau. Song chưởng từ thế Tê Chiết Thủ nắm lại thành quyền rồi dùng sức kéo về bên eo

như đang cầm vật nặng ngàn cân vậy. Xong buông tay ra đặt lòng bàn tay trên hai đùi. Mắt nhìn về hướng Nam.(Xem Hình 21)

(Xem Hình 21)

22. Triều Thiên Hổ TrảoTừ động tác 21, hai bàn tay từ từ xoay ngửa (lòng bàn tay hướng lên trời) rồi đâm thẳng lên trời theo đường thẳng đứng (gọi là tháp chưởng), khí lực dồn lên hai bàn

tay. Đến khi hai bàn tay lên đến ngang lông mày (hai cánh tay song song nhau) thì nắm lại thành quyền, động tác nắm lại như bóp nát một quả cam…(Xem Hình 22)

23. Nhất Lạc Thiên Cân…. Hai nắm tay thọc nhanh lên cao hơn đầu rồi rút vội về hai bên hông, chân trái co lên, mắt hướng nhìn về hướng Tây, chân phải làm trụ đứng thẳng dậy. Chỗ tinh

hoa của thế nầy là các động tác làm nhanh, ngắn gọn, cốt đem khí lực lưu nhanh đến các phần chân tay…Xong đặt chân trái xuống thành mã bộ như trước rồi lại rút chân trái về cạnh chân phải co lên như hình 23.

(Xem Hình 23)


24. Kỳ Lân BộChân đang đứng co như hình 23, chân trái buông xuống cho các ngón chân chạm đất rồi lại rút lên. Xong hạ chân trái xuống song song và khít chân phải, đoạn chân

phải rút co lên như chân trái vừa làm xong, cũng để xuống cạnh chân trái để chân trái co lên. Làm nhanh gọn ba động tác co chân gọi là Kỳ Lân Bộ. Quan trọng ởchỗ chân co nhịp nhàng đầy đủ sức lực. Thân trên không lay động.

(Xem Hình 24)

25. Kỳ Lân Thí BộTiếp theo động tác 24, chân trái bước tới trước (hướng Tây) một bước bằng cách mũi bàn chân chạm đất còn gót chân vẫn nâng không cho chạm đất. Thân trên hơi

ngã tới trước. Sức ở Đan điền tập trung tới đầu các ngón chân trái và một phần tụ nơi hai cánh tay.(Xem Hình 25)

26. Kỳ Lân Độc LậpTiếp động tác 25, gót chân trái chạm đất, đồng thời xoay mũi bàn chân về hướng Nam, đoạn chân phải sau co lên ngang bằng, đầu gối hướng về hướng Tây, nắm tay

vẫn úp như động tác trước. Sức dồn nơi chân trụ (trái), một phần tụ lại nơi hai nắm tay.(Xem Hình 26)

27. Kim Báo Ngang Đầu (ngẩn đầu)… Đặt chân phải xuống trước hướng Tây thành tấn Đinh (sách xưa gọi là Tử Ngọ mã bộ, tức là thế tấn chết, không linh hoạt). Sức lực dồn xuống hai chân vững như

mọc rễ. Hai nắm tay úp xuống hai bên hông, khí lực linh hoạt không tụ đầy mà cũng không tán cạn.(Xem Hình 27)

 

28. Kim Báo Đỉnh Không (ưởn ngực)… Hạ thấp tấn bộ xuống, xoay mũi bàn chân phải sang hướng Nam, đoạn xoay hông, mặt theo chiều nghịch kim đồng hồ về hướng Đông, mũi bàn chân trái quay về

hướng Đông, đồng thời hai nắm tay cũng xoay cho ngửa lòng nắm tay lên, khí trầm nơi Đan điền.(Xem Hình 28)

29. Kim Báo Thân Yêu (vươn eo, uốn hông)… Xoay mũi bàn chân phải (sau) về hướng Đông Nam 45 độ, đồng thời chuyển thân tới bằng cách duỗi thẳng chân sau (phải) một cách từ từ cho đến khi thẳng chân

thành tấn Đinh, thân trên không xao động. Khí tức dồn xuống hai chân trầm trọng.(Xem Hình 29)

30. Hắc Báo Phiên Thân (lộn thân, quay trở lại)… Bàn chân trái (trước) khép về hướng Nam đồng thời hạ thấp tấn bộ, hai nắm tay xoay úp lòng nắm tay xuống, chuyển hông thuận chiều kim đồng hồ mặt quay về

hướng Tây, sức mạnh dồn tới hai chân thành mã bộ. Cái xoay hông phải mạnh nhanh.(Xem Hình 30)

31. Hắc Báo Thân Yêu (hữu): Bên phải… Dồn sức tới chân trước, duỗi thẳng chân sau lên thành Đinh tấn.

(Xem Hình 31)


32. Kim Báo Hồi Đầu… Bàn tay phải mở ra, lòng bàn tay úp vào phía bụng trong lúc bàn tay trái cũng mở ra nhưng ngửa lòng bàn tay ra phía ngoài, ngón cái bàn tay trái hướng xuống

đất. Cả hai cánh tay đưa lên như ôm bao cái đỉnh đồng hay cái lu… đoạn xoay ngay chỏ về hướng Đông như dùng chỏ vẽ một cung tròn vậy. Đầu xoay nhìn theođồng thời với chỏ. Động tác nầy chỉ lây động thân trên, hông làm trục. Chỏ và cánh tay phải gằn mạnh mới đúng.

(Xem Hình 32)

 

33. Hắc Hổ Bàng… Hông quay nghịch chiều kim đồng hồ, đồng thời hai tay từ chưởng biến thành quyền đấm song song tới hướng Đông, chỏ ngang bụng, nắm tay nghiêng. Động tác

nhanh xoay chân đổi tấn và xoay hông cùng một lúc. (Xem Hình 33)

34. Hắc Hổ Bàng Chi Nhị… Quyền mở ra thành chưởng, chưởng phải gạt (quét) về bên hướng Tây Nam, chưởng trái ôm theo mặt hông không thay đổi.

(Xem Hình 34)

 

35. Tử Ngọ Hắc Hổ Bàng… Hai tay giữ nguyên vị thế trên, hông xoay về hướng Đông Nam (hông làm trục), chân giữ tấn chắc như trồng. Mắt quay nhìn hướng xoay. Sự xoay qua lại nầy cốt

vận khí làm linh hoạt xương hông, chỗ tạo ra sức mạnh điều khiển toàn cơ thể. Nói cách khác, hông là chủ các động tác, do đó hông linh hoạt tức là đòn thế lưu ramới phát huy được nguồn sức mạnh vô biên được tích lũy từ vực Đan điền.

(Xem Hình 35)

36. Hắc Hổ Bàng Chi Tam… Chuyển chân thành tấn Đinh chân phải trước, hông xoay thuận chiều kim đồng hồ, chỏ đánh về hướng Tây, hai tay giữ trước bụng như hình 35. Trầm khí xuống

chân trước, hông linh hoạt, chỏ trái tụ lực. (Xem Hình 36)

 

37. Long Ngâm Hổ Tiếu… Chân không đổi tấn, chuyển hông đánh chỏ vòng về nghịch chiều kim đồng hồ, chỏ trái về hướng Đông, chỏ phải tới hướng Tây, mắt nhìn hướng Tây Nam, tay

giữ trước bụng như thế 36. Hai chỏ đi trên một cung tròn, tâm là thân, hông làm trục, cái lắc chỏ phải tụ toàn lực nhanh mạnh ngắn gọn, hông linh hoạt.(Xem Hình 37)

38. Hắc Hổ Tọa Động… Hồi thân ra sau tọa trên chân sau bằng cách hạ thấp bộ sát đất, chưởng phải đồng thời ôm vào ngực, chưởng trái đẩy lên trời. Cái trầm tọa đã nặng nề mà cái đẩy

(thắc thiên) của chưởng trái lại càng nặng nề hơn. (Xem Hình 38)

39. Hắc Hổ Hiến Trảo… Trồi thân trên lên biến thành Đinh tấn, chưởng trái từ trên đè xuống bên hông với trọng lực, chưởng sấp xuống đất; chưởng phải đồng thời gạt sang phải theo hình

cánh quạt trước mặt, chưởng dừng lại khi tới hướng chánh Tây, lòng chưởng ngửa về hướng Tây. Cả hai tay đồng uyển chuyển một lúc và đồng một trọng lực nhưnhau. Tay phải sức tụ ở cổ tay, tay trái sức ở lòng chưởng.

(Xem Hình 39)

40. Hắc Hổ Thân Yêu (vươn eo)… Từ thế 40 trồi thân lên, song cưởng thực hành giống động tác của thế 39.

(Xem Hình 40)


41. Hắc Hổ Hiến Trảo… Đang ở thế 39, tọa thân về sau bằng cách chân trái xuống tấn sức nặng 80 phần trăm trên chân nầy, 20 phần trăm trên chân trước. Đồng thời với cử động tọa tấn

thật thấp nầy, chưởng phải từ từ ôm vào trước ngực nhưng bàn tay ngửa ra hướng Nam, chưởng trái thác thiên lòng chưởng cao ngang đỉnh đầu, mũi bàn tay chỉ vềhướng đầu, gốc chưởng về hướng Đông. Mắt nhìn về hướng Tây. Thế nầy chú trọng vận khí ra song chưởng và tọa chân.

(Xem Hình 41)

42. Hắc Hổ Thí Trảo… Chuyển chân trái thành tọa mã, mũi chân trái trước hướng về hướng Đông, chưởng trái thu về bên hông trái theo đà xoay của hông trong lúc chuyển tấn, mũi

chưởng hướng lên trời, lòng chưởng hướng về hướng Đông trong lúc chưởng phải dựng đứng xô ra với tụ lực nơi lòng chưởng. Mắt nhìn theo mũi chưởng về hướngĐông.

(Xem Hình 42)

43. Thiên Đạp Thủ (còn có tên Hổ Giáng)… Khép mũi bàn chân trái về hướng Nam thành mã bộ mà thân không lay động, thân trên xoay bởi eo (hông), mặt quay về hướng Nam, tay phải co lại, lòng chưởng

cao ngang ngực rồi từ từ ép xuống (đè) chưởng tâm đối mặt đất khi cánh tay thẳng thời chưởng bằng ngang và ngay trước hạ bộ. Bụng dưới tức Đan điền trầm nặng,tay và Đan điền như dính liền.

(Xem Hình 43)


44. Hắc Hổ Bà Phong (bà: cào)… Chưởng (sau khi thu kình khí lại ở động tác trên) mới từ từ chuyển khí vào rồi thu lên quạt theo hình cánh quạt từ trước hạ bộ xéo về hướng Tây, khi cánh tay

ngang bằng và lòng chưởng hướng đúng hướng Tây thời dừng lại. Tới đây lồng ngực cũng vừa đầy khí bởi thực hiện hoàn toàn hơi hít vào. Mắt quay nhìn theo tay

ngang bằng và lòng chưởng hướng đúng hướng Tây thời dừng lại. Tới đây lồng ngực cũng vừa đầy khí bởi thực hiện hoàn toàn hơi hít vào. Mắt quay nhìn theo tayphải chuyển đi và cùng dừng lại, khi tay dừng mà thân mình không đổi. Quan trọng ở đây là chuyển khí vào cánh tay phải rồi cào tới hướng Tây nhịp nhàng với mũi

hấp khí. (Hít vào). (Xem Hình 44)

45. Hắc Hổ Ly Sơn… Từ thế trên chân phải mở mũi bàn chân về hướng Tây đồng thời tọa thấp tấn bộ thành tọa mã bộ, chưởng phải co vào, lòng chưởng úp phía trước hạ bộ, mũi

chưởng quay về hướng Đông Nam, trong lúc chưởng trái từ hông trái chuyển hơi (khí) đẩy thẳng lòng chưởng lên trời theo đường thẳng đứng, mũi chưởng hướng vềhướng Tây. Mắt nhìn về hướng Tây. Hình bộ của tư thế này giống như con cọp đang chạy xuống dốc núi, cũng có tên Long Thăng là rồng lên bởi phần chưởng đẩy

thác thiên mang nhiều trọng lực từ dưới đẩy lên như con rồng bay bổng lên. Dù là tên gì thì người luyện cũng chỉ nên biết là quan trọng nhất ở thế nầy là động tácchuyển tấn và dồn khí co vào đẩy lên của song chưởng phải nhịp nhàng và trầm trọng. Tích khí đầy dẫy trong Đan điền, nghĩa là bụng trầm nặng.

(Xem Hình 45)

 

46. Bạch Hổ Hiến Trảo… Trồi thân trên dậy, chuyển tới thành Đinh tấn chân phải trước, chưởng phải quơ hình cánh quạt từ dưới lên theo động tác trồi thân dậy, đến khi tấn vừa đúng bộ thì

chưởng cũng tới mức cao ngang mắt mà lòng chưởng mở về hướng Tây, đồng thời chưởng trái từ trên cao đè xuống bên hông, chưởng úp xuống đất và ngang thắclưng không thẳng tay. Mắt nhìn về hướng Tây, hơi chứa phân nửa trong vực Đan điền, một nửa chuyển đến hai cánh tay (song chưởng).

(Xem Hình 46)


47. Lạp Hổ Qui Sơn (Lôi cọp về núi)… Tấn bộ không đổi, chưởng phải xoay (chỉ cử động ở cổ tay) nghịch chiều kim đồng hồ cho lòng chưởng úp vào trước mặt đồng thời (cùng lúc) các ngón tay co lại

từ từ thành quyền. Chưởng trái (cổ tay không lay động) co các ngón tay lại thành quyền. Hai chưởng biến thành quyền cùng lúc rồi cũng cùng lúc quyền phải đập tớihướng Tây bằng lưng nắm tay một quyền ngắn gọn gần như chỉ lắc quyền mà thôi, quyền trái ấn xuôi theo đùi trái một cái như dùng đầu cổ tay ấn xuống vật hay nếu

hiểu theo ý thế nầy thời nắm tay đó đang nắm đầu con cọp vừa đè xuống vừa lôi nó lên núi. Mắt nìn nắm tay phải, nghĩa là hơi ngước lên.(Xem Hình 47)

48. Thanh Long Xung Thiên… Không đổi tấn, quyền trái biến thành chưởng rồi từ từ đưa (quơ) lên theo đường dốc 45 độ, khi gần tới quyền phải thì quyền phải cũng biến thành chưởng, để hai

chưởng gặp nhau, lòng chưởng đều úp vào phía trước mặt. Cái quơ của tay trái để gặp bàn tay phải nhẹ nhàng nhưng mang khí lực từ Đan điền, khi gặp nhau thì nhưhai sức mạnh đụng nhau mà khí vận xuống đầy Đan điền. Mắt nhìn vào lòng hai bàn tay.

(Xem Hình 48)

 

49. Thanh Long Cứ Địa… Tấn bộ không thay đổi, song chưởng từ từ gạt xuống hai bên lòng chưởng sấp xuống mặt đất, chưởng đi chầm chậm và giữ sức khí chuyển nhu hòa từ Đan điền

đến hai cánh tay. Chỉ dồn nặng khi hai bàn tay về đến ngang thân mình. Mắt nhìn ngang về hướng Tây.(Xem Hình 49)

 

50. Ngũ Hành Thu Thức… Rút chân sau lên khít chân trước, thở từ từ ra cho cạn hơi rồi lại hít vào trầm khí Đan điền, song chưởng ấn xuống với sức gằn mạnh gọn do khí dồn tới thật nhanh

rồi thu về cũng nhanh. Chưởng tâm vẫn sấp xuống ngang hông cử động không sâu quá thắc lưng. Xong lại thở ra từ từ rồi nhẹ nhàng buông xuôi hai tay thong thảnghỉ xả hơi một vài phút trước khi tập tiếp đoạn sau.

(Xem Hình 50)

CHÚ Ý: Người mới tập trong vòng 6 tháng chỉ nên tập tới đây ngưng xả để lấy sức tiếp túc tập đoạn kế. Người mới tập chưa thuộc thời cứ vài thế cóthể nghỉ một lần.


51. Bạch Hạc Lượng Sí (lượng sí: xòe cánh)… Chân trái bước hướng Tây Nam một bước dài tấn Đinh bộ còn có tên Kỵ Long Mã Bộ (khởi bộ bằng thế chuẩn bị như hình 50), song chưởng từ từ mở ra và hai

cánh tay xếp lên, cánh tay trong không động. Lực khí dồn quán vào hai cánh tay. Mắt nhìn hướng Tây Nam.(Xem Hình 51)

52. Bạch Hạc Lượng Sí (2)… Chân vẫn đứng Long Mã Bộ như trên hình 51, đầu gối trước hơi co lên, song chưởng bung sang hai bên cho đến khi hai cánh tay thẳng hàng, mũi chưởng thẳng

lên trời. Lúc đẩy song chưởng sang hai bên phải tận lực dồn khí lực từ Đan điền vào song chưởng.

(Xem Hình 52)

53. Bạch Hạc Lượng Sí (3)… Sau khi nới lỏng khí lực ở hai chưởng trên động tác 52, học giả co hai tay lại như hình 51 mà không lấy sức, chỉ lấy bộ dạng thôi, kế dùng sức khí tự Đan điền

đẩy song chưởng ra như hình 52, khi chưởng ra thẳng rồi dồn thêm khí lực duỗi thẳng song chưởng xuống cho bằng ngang với vai, lòng chưởng úp xuống mặtđất. Tấn bộ, mắt không thay đổi. Thực hiện động tác co chưởng lên xuống ba lần thì xả khí lực để sau đó tập tới động tác kế tiếp.

đất. Tấn bộ, mắt không thay đổi. Thực hiện động tác co chưởng lên xuống ba lần thì xả khí lực để sau đó tập tới động tác kế tiếp.(Xem Hinh 53)

54. Bạch Hạc Lượng Sí (4)… Chân phải bước tới hướng Tây thành Đinh tấn (Kỵ Long Mã Bộ) đồng thời hai cánh tay trong thế dang ngang, quay mạnh 180 độ thuận chiều kim đồng hồ, cái

quay nầy nhờ hông làm trục xoay chớ hai cánh tay tuyệt nhiên không cử động mà chỉ tụ khí cho cứng chắc như cây đòn gánh.(Xem Hình 54)

55. Cung Hình Hạc Bàng… Chuyển thân xoay hông, quay mặt về hướng Đông, hai cánh tay giăng ngang cũng theo cái chuyển thân quay thành ba phần tư vòng tròn theo chiều nghịch của kim

đồng hồ. Khi mặt đã xoay về đến chính hướng Đông thời từ từ thu hai cánh tay về hai bên hông, bàn tay song song mặt đất, lòng bàn tay úp. Mắt nhìn phía Tây màthấy cả hai bên tả hữu, chân thành tấn Đinh (Long Mã Bộ) chân trái trước. Chỗ tinh yếu của thế nầy là cái chuyển hông nhanh, hai cánh tay quay hình cung mà dồn

khí cứng như thanh sắt giăng ngang, kế đến trầm khí xuống bằng song chưởng rồi liễm thu khí về Đan điền.(Xem Hình 55)

 

56. Bạch Hạc Thí Trảo… Thân không lay động, chưởng phải từ từ ưởn lên cho mũi chưởng thẳng lên trời, lòng chưởng chiếu tới hướng Đông rồi từ từ đẩy tới, phần cánh tay ngoài giữ bằng

ngang với mặt đất và chỉ đẩy tới khi nào cùi chỏ ngang hông thì dừng (không quá xa bụng). Xong xả lực để tiếp tục thế kế tiếp.(Xem Hình 56)

57. Bạch Hạc Hồi Thân… Xoay người (hông) trởi mặt về hướng Tây Nam tấn Kỵ Long Mã Bộ chân phải trước, song chưởng từ trước bụng và bên hông theo động tác xoay hông lưu ra

trước hướng Tây Nam, lòng song chưởng chiếu về hướng trước Tây Nam, các ngón cong cong về trước. Khí lực nhu hòa tiềm tàng giữ vững từ bụng dưới đến haytay linh hoạt.

(Xem Hình 57)

58. Dã Hạc Mịch Thực (hạc đồng tìm mồi)… Song chưởng đều đồng loạt co hai ngón út và áp út, vận lực ra song chỉ (2 ngón tay không co lại) rồi song chỉ phải điểm tới hướng Tây với toàn bộ khí kình của

cánh tay. Mắt nhìn theo hai ngón tay điểm. (Xem Hình 58)

59. Hùng Hạc Triển Sí (hùng: con trống)… Chuyển thân về bên hướng Đông Bắc thành Đinh bộ chân trái trước đồng thời cánh tay trái lật ngang cho lòng chưởng ngửa ra hướng Nam và cánh tay song song

với mặt đất, chỏ theo hông dực về hướng Đông, song chỉ tay phải điểm thẳng về hướng Tây Nam mà lòng chưởng xoay về hướng Bắc, đầu nghiêng nhìn theo cánhtay cho đến chí mũi, song chỉ tay phải. Diễn động tác nầy chẳng những hạ bàn (phần chân tấn) cứng mạnh, bụng dưới tích đầy khí, mà hai tay song chỉ đều tụ khí

cương dương cứng chắc như tháp vào một thanh gỗ. Nói một cách khác, thế nầy phải chuyển khí toàn bộ ra toàn châu thân tứ chi thượng hạ.(Xem Hình 59)

 

60. Dã Hạc Qui Lâm (hạc nội về rừng)… Xoay qua bên Tây Nam tấn Đinh bộ (sách xưa bên Tàu gọi là Hạc hình) chân phải trước, chưởng trái lật vào phía bụng, chưởng phải cũng xoay vào tức úp về phí

Nam, cánh tay co 45 độ, rồi song chưởng nắm các ngón lại thành quyền. Cái xoay, cái nắm tay thật là chậm chậm và cứng chắc. Mắt nhìn hướng nắm tay phải.(Xem Hình 60)

61. Hàn Lâm Hạc Lập (hàn: lạnh, lâm: rừng, lập: đứng ngay, đứng yên ngay thẳng)… Chân trước rút về sát chân sau đứng thẳng, hai tay quyền thu về để bên hông như con hạc bị lạnh phải xếp cánh đứng yên trong rừng sâu. Mắt hướng về bên

hướng Tây. (Xem Hình 61)

62. Độc Cước Phi Hạc… Đang đứng thế Hàn Lâm Hạc Lập, chân phải co lên, gối hướng về phương tây, sức từ Đan điền chuyển tụ trên chân trái. Mọi cơ quan khác không thay đổi.

(Xem Hình 62)

63. Hùng Hạc Độc Lập… Xoay hông về hướng chánh Nam, lấy gối theo chân, đùi thẳng đứng ngay hàng cùng chân trái đồng thời hai nắm tay thọc xéo lên trước ngực, nắm tay phải ngoài

nắm tay trái trong, động tác thật nhẹ nhàng và nhanh nhẹn. Mắt nhìn về hướng Tây.(Xem Hình 63)

 

64. Độc Hạc Liểm Dực (Độc hạc xếp cánh)… Hai nắm tay cùng lúc gạt mạnh xuống hai bên thân thể, cánh tay thẳng song song hai bên đùi, trên đường đi nắm tay (quyền) biến thành song chỉ (ngón trỏ và giữa

ngay ra còn các ngón kia vẫn co) để động tác gạt xuống trở thành động tác đẩy xuống đất bằng hai đầu ngón tay, lòng bàn tay ngửa ra hướng Nam. Quan trọng cầnbiết là cử động phải nhanh và có sức tập trung nơi hai đầu ngón tay của mỗi bàn tay, cái đó gọi là tinh. Các động tác thuộc về Hạc đều chủ luyện tinh.

biết là cử động phải nhanh và có sức tập trung nơi hai đầu ngón tay của mỗi bàn tay, cái đó gọi là tinh. Các động tác thuộc về Hạc đều chủ luyện tinh.(Xem Hình 64)

65. Bạch Hạc Qua Động… Xếp hai cánh tay lên như hình 63 nhưng các ngón vẫn như hình 64 rồi đâm thẳng sang hai bên Đông Tây, bàn tay xoay úp về hướng sau lưng, mắt liếc nhìn theo

tay phải. Tấn bộ không thay đổi. Động tác làm phải nhanh mà có sức. (Xem Hình 65)

66. Hùng Hạc Triển Dực… Đứng nguyên bộ vị như hình 65, hai cánh tay co vào trước ngực thật nhanh, cánh tay ngang như hình 66.

(Xem Hình 66)

67. Hạc Trảo Ấn Sa… Chân phải bỏ xuống hướng Tây, mũi bàn chân chạm đất còn gót vẫn nhón lên, hông xoay theo chân bước, chưởng phải từ từ đẩy ra hướng Tây đến khi cánh tay

và bàn tay ngang song song với mặt đất (cùi chỏ hình thước thợ) thời thôi, đồng thời chưởng trái cũng đẩy tới nhưng dựng đứng cánh tay, chưởng ngửa tới hướngTây.

(Xem Hình 67)


68. Lãnh Hạc Tranh Mai (hạc lạnh tranh mai)… Chân trái co lên về hướng Tây (co thật cao), song chưởng đưa tréo nhau trước ngực, chưởng trái trong chưởng phải ngoài, lòng chưởng đều úp vào phía ngực

nhưng phía ngoài đầu gối. Mắt nhìn về hướng Tây. Lưng hơi cong, gối sát bụng.(Xem Hình 68)

69. Ngạ Hạc Tầm Hà (ngạ: đói, hạc đói tìm sông)… Hạ chân trái về vị trí cũ, hai tay khoát ra thành như hình 67. Mắt ngước nhìn cao.

(Xem Hình 69)

70. Dã Hạc Lộng Trảo… Di chân trước qua hướng Tây Nam thành Kỵ Long Mã bộ hay tấn Đinh, đồng thời song chưởng thu về (nhẹ nhàng) sát hai bên ngực rồi khi chân đã vững bộ mới

từ từ vận lực xô ra đến khi hai cánh tay nghiêng 45 độ thời thôi. Mắt nhìn giữa hai chưởng.(Xem Hình 70)

71. Độc Hạc Đương Đề (đương đề: đưa móng ra)… Xoay hông qua hướng Tây, chân trái bước tới hướng Tây một bước thành tấn Đinh, song chưởng banh ra tả hữu một khoảng rộng. Động tác phải nhanh.

(Xem Hình 71)

72. Độc Cước Phi Hạc… Co chân phải (sau) lên thật chí cao, đùi sát bụng, song chưởng bao vào như hình 68 vậy. Quan trọng ở chỗ chân nhấc lên phải co bàn chân tận lực, khi để chân

xuống thì sức dồn vào năm đầu ngón chân. (Xem Hình 72)

73. Dạ Hạc Thân Yêu… Chân phải bước tới hướng Tây thành Đinh tấn, song trảo từ từ đẩy tới hướng Tây, các ngón dựng đứng, hai cánh tay song song nhau.

(Xem Hình 73)


74. Du Hạc Qui Sào… Giữ nguyên bộ vị tấn Đinh, song chưởng xoay trở vào (bằng cách xoay cổ tay) rồi từ từ thu cùi chỏ vào đồng thời các ngón tay câu laị cho ngón cái đụng các đầu

ngón kia. Sức lực tụ lại ở các ngón tay. (Xem Hình 74)

75. Long Bàn Hổ Cứ (bàn: chiếm cứ, cứ: ngồi xổm)… Chuyển hông sang hướng Nam thành tấn Kỵ Mã, hai tay dang rộng sang hai bên rồi bàn tay mở các ngón ra thành chưởng đoạn từ trên áp xuống trên hai vế, cùi

chỏ khuỳnh ra. Khí lực trầm xuống hạ bàn xô cũng không ngã, đẩy không trôi, ấy là do bụng dưới đã tụ đầy khí vậy.(Xem Hình 75)

76. Song Long Ẩn Hiện… Từ động tác 75, đứng thẳng dậy, chân phải rút về sát chân trái, song chưởng đưa lên ngang hai bên nách rồi từ từ vận khí nén xuống hai bên hông và dừng lại khi

song chưởng ngang thắc lưng. (Xem Hình 76)

77. Du Long Phản Thân… Giữ nguyên bộ vị như hình 76, xoay mắt qua hướng Đông bằng cách xoay hông, đoạn chân trái co lên, đùi ngang, mũi bàn chân duỗi thẳng về hướng Tây, gối chỉ

về hướng Đông rồi từ từ hạ thấp bộ xuống bằng cách co chân tấn xuống rồi lại từ từ đứng lên. Lúc đứng lên thì dứt hơi thở tức là hô khí (thở ra).(Xem Hình 77)

 

78. Du Long Bài Vĩ (bài vĩ: vẫy đuôi)… Chân trái đặt xuống hướng Đông thành tấn Đinh, hông xoay mặt nhìn về hướng chánh Đông. Quan trọng là lúc đặt chân thì nhẹ nhàng như con du long, mà khi

chân để xuống rồi thì nặng như nghìn cân. Muốn làm được như thế thời khi hạ chân thì thố khí bụng thóp đề khí lên ngực, và khi chân hạ xuống yên vị thời hấp khítích trầm nơi Đan điền.

(Xem Hình 78)

79. Du Long Cỗn Lãng (cỗn: cuộn lại, lãng: sóng, ý: du long giỡn sóng)… Tọa lực ra chân sau tọa xuống thành tấn Bát Mã bộ (người ta quen gọi như vậy vì xem giống như chữ Bát, Đinh bộ thì giống chữ Đinh) tay trái dùng “Thiên cân

lực” (sức mạnh ngàn cân, ý nói dùng toàn lực) đồng thời với tấn bộ từ bên hông trái chuyển sang trước bụng, như ôm lấy bụng vậy trong lúc chưởng phải đâm thẳnglên trời, mắt ngước nhìn về hướng Đông. Bộ dạng thật là uy nghi.

(Xem Hình 79)

80. Kim Long Lộng Trảo (lộng: múa, quơ)… Đang đứng Bát mã bộ (ngưới miền Bắc xứ Trung Hoa gọi là Phốc Thố) chuyển trọng lực tới chân trước rồi chuyển bộ thành Đinh tấn hoặc tấn hình chữ Chi, tấn

chữ Đinh thì bàn chân trước ngang bàn chân sau thẳng tới đâm ngay giữa bàn chân trước, tấn chữ Chi thời bàn chân trước thẳng hoặc có hơi mở ra ngoài, bàn chânsau ngang mà hơi khép một góc 45 độ, chưởng trái hoành thành hình cung trước mặt và vừa cắt xéo lên viền chưởng (cạnh bàn tay) thẳng đứng cao hơn trán, đồng

thời chướng phải từ trên cao gạt xuống song song với chân sau. Mắt nhìn theo chưởng trái.(Xem Hình 80)

 

81. Song Long Qui Động… Từ thế trên, chân sau rùn xuống, gối banh ra hướng Nam thành Bát Mã bộ (tấn Chảo Mã) đồng thời chưởng trái biến thành quyền, dùng sức từ trên cao gạt

xuống trước bụng vừa xoay hông cho chánh diện quay về hướng Nam, cái gạt nầy có tánh cách đè xuống chớ không phải đánh gọn, trong lúc chưởng phải cũng thulại thành quyền rồi nhịp nhàng với tay trái thu về bên hông phải. Mắt ngước nhìn về hướng Đông.

(Xem Hình 81)

82. Kim Long Lộng Trảo… Từ Bát Mã bộ như hình 81, chuyền thân tới biến thành tấn chữ Chi, song quyền biến thành chưởng, tay phải gạt ra sau, tay trái hoành xóc tới cao hơn trán. Toàn

bộ giống như thế 80. Mắt nhìn hướng Đông. (Xem Hình 82)

83. Ô Long Bài Vĩ… Đứng nguyên bộ vị hình 82, chưởng biến thành quyền bằng cách tụ toàn khí lực vào nắm tay.

(Xem Hình 83)

84. Song Long Ẩn Hiện… Diễn xong Ô Long Bài Vĩ, chân sau bước lên khít chân trước lập tấn ngay thẳng, buông xã khí lực nơi song qyền rồi từ từ hạ hai nắm tay xuống hai bên hông, hai

… Diễn xong Ô Long Bài Vĩ, chân sau bước lên khít chân trước lập tấn ngay thẳng, buông xã khí lực nơi song qyền rồi từ từ hạ hai nắm tay xuống hai bên hông, haicùi chỏ khép lại cho cánh tay sát hai bên hông, ngực ưởn ra, khí dồn vào hai bên nách. Mắt nhìn hướng Đông.

(Xem Hình 84)

85. Du Long Phản Thân… Xoay chân chuyển hướng về bên phải tức hướng Nam xong co chân phải lên, mũi bàn chân duỗi về hướng Đông, gối hướng về phương Tây, đùi ngang bằng, dồn

khí xuống bụng dưới rồi hạ tấn bộ xuống như động tác số 77. (Xem Hình 85)

 

86. Song Long Tiềm Phục (tiềm phục: nằm chờ, phục kích)… Chân phải hạ xuống hướng Tây tấn hình chữ Chi, sức lực dồn xuống chân trước, hai nắm tay úp hai bên hông trong trạng thái linh hoạt minh mẫn kịp phát động

khi ý nghĩ xuất hiện, giống như rồng nằm chờ đối thủ hoặc mèo rình chuột vậy, hễ chuột đột tới thì lanh như điện mèo vồ ngay không bao giờ lỡ dịp. Mắt nhìn vềhướng Tây.

(Xem Hình 86)

87. Hoạt Long Thối Bộ (hoạt: sống động, ý nói thoái bộ linh hoạt như rồng)… Chân phải bước lùi về sau một bước xong xoay lại về hướng Đông, xuống tấn chữ Bát, tay phải Chiết thủ (thu lại trước bụng sau khi đã biến từ quyền sang

chưởng), chưởng trái xóc lên trời. Toàn thể giống như động tác 79, chỉ đổi hướng, và chân sau bàn chân nhón gót.(Xem Hình 87)

88. Hoạt Long Trạo Vĩ (tả)… Trồi thân trên tới trước trọng lực thân thể dồn tới thành tấn Đinh, chưởng phải xóc lên, chưởng trái chiết xuống giống hệt thế Ô Long Trạo Vĩ nhưng khác là ở đây

dùng cạnh bàn tay mà giống Hoạt Long Bài Vĩ. (Xem Hình 88)

89. Dao Long Qui Động… Đây là thế “Ô Long Trạo Vĩ”, dùng tay trái từ dưới co lên, tay phải từ trên co lại, hai nắm tay qui trước bụng. Mắt nhìn cao hướng Đông Bắc.

(Xem Hình 89)


90. Hoạt Long Trạo Vĩ… Song quyền biến thành song chưởng, chưởng phải cắt (xóc) tới hướng Đông Bắc, chưởng trái vạt xuống (chém) xuống song song với đùi sau.

(Xem Hình 90)

91. Bảo Long Thế (bảo: ôm)… Song chưởng trên thế Ô Long Trạo Vĩ hình 90, từ từ nắm lại thành quyền… mọi việc khác không hề thay đổi. Kế quyền phải chiếu theo tay trái và ngược lại, cả

hai tay cùng diễn thế “Trạo Vĩ”. (Xem Hình 91)

92. Song Long Nhập Động… Rút chân phải (trước) về sát chân sau lập thân thẳng đứng, mặt hướng về hướng Đông (ngước cao), tay thu quyền về để linh động hai bên hông.

(Xem Hình 92)

93. Xà Vương Uyển Địa… Tiếp theo hình 92, chân phải lùi ra sau hướng Tây tấn chữ Chi, thân trên rạp tới trước 45 độ cho thân và chân sau thẳng hàng, tay phải biến từ quyền thành

chưởng câu từ trước bụng sang bên hông phải. Bụng tích khí trầm vai phải. Quyền trái vẫn yên vị bên hông trái. Mắt nhìn về hướng Đông.(Xem Hình 93)

 

94. Xà Vương Lộng Nguyệt (rắn chúa giởn trăng)… Từ thế trên, xoay hông thuận theo chiều kim đồng hồ quay mặt về hướng Tây tọa bộ thành Bát Mã tấn thật thấp, chưởng phải hoành nghịch trở lên để chưởng tâm

hướng về hướng Tây Nam, cánh tay ngang bằng trước ngực, đồng thời quyền trái biến thành chưởng khinh linh đưa lên cánh tay thành hình thước thợ nơi chỏ. Mắtnhìn về hướng Tây Nam, cằm ngước cao.

(Xem Hình 94)

95. Thanh Xà Quá Sơn (rắn xanh vượt núi)… Chuyển thân đứng lên thành tấn chữ Chi, chưởng phải vẹt về bên phải, cánh tay thẳng đứng, chưởng tâm hướng về phía Tây, mắt nhìn lưng chưởng, đồng thời

chưởng trái lưu nhẹ xuống diện địa bên hông trái. Tất cả đều dùng khí mà dẫn, lanh nhẹ mà có lực bên trong.(Xem Hình 95)

96. Thanh Xà Thám Động (có sách gọi thế nầy là Hắc Hổ Ta Trảo tức cọp co vuốt)… Đang ở thế trên, chưởng phải lắt (lật, loa) nghịch chiều kim đồng hồ nửa vòng tròn rồi nắm các ngón tay thành quyền (thực hiện động tác nầy nhanh tối đa, đó là

… Đang ở thế trên, chưởng phải lắt (lật, loa) nghịch chiều kim đồng hồ nửa vòng tròn rồi nắm các ngón tay thành quyền (thực hiện động tác nầy nhanh tối đa, đó làcách dụng khí), chưởng trái cũng đồng thời nắm thành quyền kịp theo chưởng phải. Mắt nhìn quyền phải.

(Xem Hình 96)

97. Kim Xà Qui Sơn… Quyền phải nắm chặt rồi từ từ rút về cho đến khi chỏ ngang lưng quần, mắt nhìn xuống đầu quyền. bụng trầm tích khí.

(Xem Hình 97)


99. Mãng Xà Vọng Lộ (vọng lộ: trông đường, ước đoán đường đi)… Hồi thân đứng thẳng bằng cách co chân phải (trước) lên, mũi bàn chân duỗi thẳng về hướng Đông, gối đưa về hướng Tây. Bàn chân trái mở ngang về hướng

Nam, song chưởng không thay đổi, mắt nhìn xa về hướng Tây. Động tác nầy kiển chân lên cho toàn khí lực tích nơi cổ chân, bàn chân, đến đầu ngón chân, rồi kiểnchân lên cho thân được cao thêm. Giống như rắn ngóc đầu cao lên để quan sát đường đi vậy.

(Xem Hình 99)

100. Mãng Xà Truy Lão Hổ (mãng xà rượt hổ già)… Chân phải bỏ tới trước hướng Tây rất gấp, thân trên cũng chồm tới nhanh, song chưởng để lên hai vai. Làm động tác nhanh và tận lực như một lực sĩ khởi hành

chạy đua. Lực tụ nơi gối trước mà cũng đầy ở hai lòng bàn tay. (Xem Hình 100)

101. Long Xà Thôi Châu (có sách viết Thôi Sơn)... Song chưởng đồng dựng đứng đẩy nhanh tới hướng Tây, hai cánh tay song song nhau, lưng thẳng, bụng đầy khí. Đánh nhah xong thu về như thế 100.

(Xem Hình 101)

102. Long Xà Phản Thân (có sách viết Loan Thân tức cuộn tròn thân)… Thư thân, tọa tấn Bát Mã, song chưởng lưu về bên trái, thủ bộ như hình 102. Mắt nhìn cao lên hướng Tây. Động tác nầy chú trọng sự xoay hông thật nhanh, hai

tay đưa qua bên trái mau như nước cuốn liền lạc như khí trời. (Xem Hình 102)

 

103. Hoa Xà Du Tường (rắn mình có hoa tức loại rắn độc leo tường)… Tràn thân tới trước thành Đinh bộ, song chưởng vận khí đẩy tới nhanh như chớp, chưởng song song và dựng đứng, cánh tay hình thước thợ, mũi bàn tay cao hơn

đỉnh đầu. Mắt nhìn qua khoảng trống (kẻ) hai bàn tay. (Xem Hình 103)

104. Mãng Xà Quá Hải… Hai tay (song chưởng) từ trên quạt xuống thật nhanh rồi đột ngột ngừng lại khi hai bàn tay vừa tới ngang thắt lưng. Cái dừng đột ngột với toàn bộ khí lực. Đây là

phép dụng khí của Xà Bộ. (Xem Hình 104)

105. Hắc Hổ Hình… Từ từ xoay hông sang hướng Nam, chuyển chân thành Kỵ Mã bộ, song chưởng đồng thời nâng lên cao ngang ngực rồi từ từ theo nhịp hấp khí vào đầy bụng

dưới, song chưởng áp sát vào hai bên ngực (nhờ co cùi chỏ một cách tận lực). Mắt cúi nhìn thấp hướng Đông Nam.(Xem Hình 105)

106. Kim Báo Hình… Xoay chưởng úp vào phía ngực xong vận sức nắm chặt song quyền lại đồng thời tận lực vận khí vào hai nắm tay cùng dồn quán xuống Đan điền. Chịu đựng 30

giây trước khi bắt đầu tiếp thế kế. Tấn bộ không thay đổi. Như trên gọi là Báo Hình.(Xem Hình 106)

 

107. Thanh Long Hình… Sau khi hô khí, khí lực khởi dồn vào nắm tay trái bằng cách nắm chặt nắm tay nầy, đồng thời xoay ngửa lòng nắm tay ra hướng Nam, trong lúc quyền phải tận lực

mở các ngón tay ra thành chưởng rồi co lại thành trảo các ngón thành câu (móc), lật đứng mũi chưởng lên trời, lòng chưởng chiếu sang hướng Đông Nam. Lúc nầybụng dưới đầy khí hấp. Mắt liếc ngang qua hướng Đông.

(Xem Hình 107)

108. Xà Vương (chúa) Hình… Chưởng quyền đồng xoay lưng ra ngoài rồi cả hai đồng biến thành trảo, tụ khí trong hai lòng bàn tay, tận lực dồn khí xuống Đan điền, kết thúc trong động tác hấp

khí. Mắt nhìn hướng Tây Nam. (Xem Hình 108)

109. Bạch Hạc Hình… Song chưởng (trảo) xoay mở ra hướng Nam rồi xéo lên 45 độ như đang đẩy một quả cầu lớn hay chịu đựng một vật nặng đang ngã đè trước ngực vậy. Luôn luôn

… Song chưởng (trảo) xoay mở ra hướng Nam rồi xéo lên 45 độ như đang đẩy một quả cầu lớn hay chịu đựng một vật nặng đang ngã đè trước ngực vậy. Luôn luônphải tụ khí nín hơi trong diễn thế. Tấn bộ không thay đổi trong suốt Ngũ Hình Ngũ Thức sau cùng nầy.

(Xem Hình 109)

 

110. Thu Thức… Diễn xong Bạch Hạc Hình liền xã khí thân và tứ chi trống không nhẹ nhàng khinh linh, bèn rút chân phải về sát chân trái, đứng lập tấn mặt hướng về phương

Nam. Hai tay chập thức Bái Tổ, khí tụ trung bàn, thần thái tiêu diêu. Tới đây là hết bài luyện Nội Công Ngũ Hành.

 

CHÚ Ý:

Ngưới mới tập nên tập từng đoạn rồi sau dần dần tập đến khi kỳ thuộc hết bài, lúc đó mới có thể diễn tuần tự mạch lạc từ đầy cho đến cuối. Khi diễn tập thuần thụckhông có chỗ sai trật, khí vận lưu thông thời có thể gọi là thành công thần công rồi vậy.

 

 


ĐIỀU CẦN BIẾT TRƯỚC KHI KHỞI LUYỆN NỘI CÔNG

Có người mò mẫm tập luyện Nội Công cũng thành công, nhưng những người này trả giá hơi mắc vì đôi khi bản thân bị bệnh tật hoặc mất thì giờ quá nhiều.Người có sự dẫn dắt, chỉ điểm của bậc Sư phụ thời sự thành công đến bảo đảm hơn và không có gì xa vời, nguy hiểm.

Quý học giả, môn sinh muốn tham luyện Nội Công theo đường lối của Soạn giả (soạn giả đã luyện thành công thật sự biểu diễn được những công phu đích thực) thờiphải thuộc lòng các điều chỉ sau đây. Nhỡ không tiến bộ hay gặp điều bất trắc phải thông báo cho Soạn giả để kịp thời cứu vãn.

1. Trước nhất phải học thuộc Nội Công Tâm Pháp, tức cách Phu tọa dẫn nạp Khí (tức hơi thở).

2. Biết rành các huyệt đạo nằm trên đường Châu Thiên thuộc hai kinh Nhâm Đốc để dẫn khí Sơ bộ.

3. Biết 12 phép tập gồm có 210 lần tập (vận khí). Mỗi lần vận khí là 20 giây đồng hồ, cộng 3 phút nghỉ giữa các phép với 15 phút Điều Tức là hai giờ tập. Mỗingày tập một lần vào lúc bình minh.

4. Biết bài Ngũ Hành Quyền có 110 động tác, nhịp tập 16 giây mỗi động tác cộng lại là 30 phút cho toàn bài.

5. Khi thành thuộc thì mỗi khi ôn luyện:

ã 12 thế, chỉ tập 9 lần mỗi thế, thời gian nghỉ giữa mỗi phép tập là 1 phút, thời gian một lần tập là 10 giây. Cộng lại gổm 30 tròn không có lẻ.

ã Bài 110 thế, thu lại còn 3 giây mỗi động tác thành toàn bài thao luyện vừa mất 5 phút 5 giây đồng hồ.

6. Khi tập xong nghỉ 10 phút cho ráo mồ hôi rồi tắm bằng nước lạnh.Điều sau cùng là học giả nên giảm các chất kích thích trong thời gian luyện tập, cùng tránh gần nữ sắc mới thành công.

 

 

From :

Bai quyen luyen Kinh, Luc, Tinh, Khi, Than (Ngu hanh quyen phap)

TỰ LUYỆN NỘI CÔNG THIẾU LÂM TỰ

G.S. Hàng Thanh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Publicité
Tag(s) : #Thể Thao - Võ Thuật
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :