Publicité

Năm qua, chủ quyền của từng quốc gia ở Biển Đông trở thành một trong những vấn đề nóng bỏng của khu vực và thế giới. Trong bối cảnh đó, hoạt động nghiên cứu khoa học về chủ quyền biển đảo đã trở nên sôi động hơn và đạt được một số thành tựu dù chưa đáp ứng được kỳ vọng của nhiều người. Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với TS Lê Vĩnh Trương và nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc về vấn đề này.

 

 

* Tiến sĩ Lê Vĩnh Trương (thành viên Quỹ nghiên cứu Biển Đông)

Xin ông cho biết một cách khái quát hoạt động nghiên cứu chủ quyền Biển Đông trong năm 2011?

_ Hoạt động nghiên cứu biển đảo trong năm 2011 đã có bước chuyển biến rất lớn trong phạm vi Quỹ nghiên cứu Biển Đông (QNCBĐ) cũng như trong cộng đồng các giới Việt Nam. Riêng QNCBĐ đã có trên 100 bài viết trên các báo trong nước và một số bài báo trên các báo Asia Times, Asia Sentinel, Diplomat, Manila Times. Cùng với sự có mặt mạnh mẽ của các trang nghiencuubiendong.vn thuộc Học viện Ngoại giao, VietNamNet, biengioilanhtho.vn,… đã mang lại nhiều thông tin bổ ích cho độc giả quan tâm trên báo mạng.

Ngoài ra những ngày cuối năm 2011, những trí thức Việt kiều như TS Lê Văn Út (Phần Lan), GS Phạm Quang Tuấn và GS Nguyễn Văn Tuấn (Australia) cũng đã có những thư phản kháng khiến các tạp chí Nature và Science (có uy tín lớn) đã bác bỏ việc ngầm phổ biến đường chữ U trên tạp chí quốc tế. Song việc này cần tiếp nối bền bỉ và vĩnh viễn, không thể ngày một ngày hai được.      

 

Có ý kiến cho rằng sự tham gia của các trí thức Việt Nam trong và ngoài nước trên các tạp chí khoa học quốc tế là khá đáng kể, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở việc phản đối các thông tin sai trái về chủ quyền của chúng ta. Ý kiến của ông về vấn đề này?

_Trong thời gian qua, vài trí thức Việt đã có những phản biện kịp thời đối với các giọng điệu tuyên truyền sai trái của Trung Quốc về Hoàng Sa và Trường Sa. Trí thức Việt trong và ngoài nước đã gửi thư phản đối những nơi có “đường lưỡi bò” xuất hiện và đã mang lại một số kết quả to lớn. Tuy nhiên, Việt Nam chưa có nhiều công bố khoa học hay bài viết về chủ quyền trên Biển Đông trên các tạp chí khoa học hay báo quốc tế. Rất mong các cơ quan khoa học cũng như các nhà khoa học trong nước lưu tâm hơn về vấn đề này.

 

 

Theo ông, hoạt động nghiên cứu về chủ quyền Biển Đông năm 2011 có điểm gì nổi bật?

_Mạnh mẽ hơn, lan tỏa hơn và nhiều người góp mặt hơn so với năm 2010, đặc biệt sau sự kiện cắt cáp tàu Bình Minh 2 (26/5/2011) và Viking II (9/6/2011). Giới nghiên cứu trong và ngoài nước từ bấy lâu nay âm thầm làm việc đã viết và đăng nhiều bài có tính khoa học cao, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức và kiến thức cho đông đảo người đọc.  Hoạt động nghiên cứu đã khởi sắc hơn với nhiều cuộc hội thảo được tổ chức bên ngoài nước, quy tụ được đông đảo các nhà nghiên cứu đến từ các quốc gia khác nhau có quan tâm đến tranh chấp Biển Đông. Tại các cuộc hội thảo này học giả Trung Quốc không còn nêu lên quan điểm “lợi ích cốt lõi” mà chuyển hướng trọng tâm sang bàn về khía cạnh cùng hợp tác khai thác tài nguyên tại khu vực như đánh bắt cá, quan điểm của Trung Quốc vẫn là song phương bẻ gãy từng chiếc đũa trong bó đũa.

Các nhà xuất bản trong nước như NXB Lao Động, NXB Trẻ đã có nhiều đầu sách hay giúp cho độc giả tìm hiểu thêm về kiến thức đặc biệt trong hoàn cảnh này. Chúng tôi cho rằng cần phải có thêm nhiều sách giấy hơn nữa, viết phổ thông hơn nữa để nhân dân Việt Nam ở các vùng sâu vùng xa đều có kiến thức và tự hào về công cuộc khai khẩn và bảo vệ biển đảo Việt Nam.   

 

Năm 2012, chúng ta cần tập trung vào nghiên cứu những vấn đề gì?

_Trong khuôn khổ QNCBĐ, chúng tôi được đề nghị tìm viết và nghiên cứu các án lệ của tòa án quốc tế về các tranh chấp biển, đảo và đất, các cách thức đấu tranh bằng biện pháp hòa bình.

Chúng tôi cũng cố gắng xuất bản một số đầu sách giấy và điện tử, gia tăng tham dự các hội thảo để tìm kiếm thông tin và nâng cao sức mạnh mềm cho Việt Nam. 

Nhóm bút chiến Trúc Nam Sơn của QNCBĐ vẫn làm công việc bền bỉ là comment (bình luận) trên các diễn đàn tiếng Anh để đưa ra cái nhìn khoa học, duy lý, bảo vệ chính nghĩa Việt Nam. 

Ngoài ra, viết bài cho báo tiếng Anh và dịch các bài có giá trị học thuật cao sang tiếng Anh cũng là một ưu tiên của chúng tôi.

Chúng tôi cũng nỗ lực kết hợp với các trí thức Việt kiều uy tín ngoài nước để có những hoạt động bảo vệ chủ quyền Việt Nam bằng các bài phản biện với các trí thức phương Tây vẫn còn đang mù mờ trước làn sóng phủ thông tin một chiều rộng rãi nhưng sai lệch của trí thức và chính giới Trung Quốc.  

Xin cảm ơn ông!

 

 

* Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc (Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á, Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh)

 

Ông đánh giá như thế nào về các cuộc hội thảo về Biển Đông được tổ chức trong và ngoài nước trong năm 2011?

_Tháng 10/2011, Hội thảo quốc tế về tranh chấp ở Biển Đông với chủ đề “Con đường tiến tới hòa bình, ổn định và phát triển” đã diễn ra tại thủ đô Kuala Lumpur của Malaysia, hay trước đó vào tháng 5/2011, Hội thảo quốc tế “Triển vọng hợp tác, những vấn đề hội tụ và động lực ở Biển Đông” tại Jakarta (Indonesia) do Trung tâm Habibie của Indonesia và Trung tâm nghiên cứu chiến lược châu Á (CASS) của Ấn Độ phối hợp tổ chức…

Nhìn chung, phần lớn trọng tâm của các cuộc hội thảo này là nhằm khẳng định việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền lãnh hải với “Đường 9 điểm” trên bản đồ (đường lưỡi bò) chiếm tới 80% diện tích Biển Đông là không phù hợp với luật pháp quốc tế và đã bị cộng đồng quốc tế chỉ trích chứ tôi chưa thấy có nhiều những phát hiện mới trong việc củng cố chứng cứ cho chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa.

Nếu nội dung thứ nhất đã được đề cập là thắng lợi của giới ngoại giao thì nội dung thứ hai theo tôi là sự giậm chân tại chỗ của giới sử học Việt Nam.  

 

Theo ông, các kết quả nghiên cứu khoa học về chủ quyền Biển Đông hiện nay đã đủ để Việt Nam bảo vệ được lập trường của mình trong các tranh chấp chưa?

_Tài liệu lịch sử về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa không thiếu nhưng nó đã được chuyển hóa thành hồ sơ pháp lý chưa thì đây mới là một vấn đề quan trọng. Vì vậy, theo tôi việc xây dựng một bộ hồ sơ pháp lý về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa không thể chậm trễ.

 

 

 

 

Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa nhìn từ công pháp quốc tế 
Trong tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mỗi nước đều đưa ra những lí lẽ và bằng cớ chủ quyền khác nhau. Sự thật lịch sử như thế nào và đâu là căn bản pháp lý của sự đòi hỏi của mỗi nước?

 

 

Bài 1: Việt Nam- Nhà nước đầu tiên xác lập chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa

Các tài liệu của Việt Nam cho thấy, Việt Nam không chỉ có sự hiểu biết lâu đời đến hai quần đảo này mà còn chiếm hữu thực sự chúng ít nhất từ thế kỷ XVIII, là Nhà nước đầu tiên xác lập chủ quyền trên các quần đảo này. Một trong những tài liệu xưa nhất để chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa là Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư có từ thể kỷ XV (1490) dưới thời vua Lê Thánh Tông.

Ông Nguyễn Đình Đầu, Ủy viên Ban chấp hành Hội Sử học Việt Nam chỉ rõ: “Các hải đảo của Việt Nam như Trường Sa, Hoàng Sa thì có bản đồ từ năm 1940. Sau này, nhà Nguyễn (1838) vẽ bản đồ trong Đại nam nhất thống toàn đồ cũng chỉ rõ, ở bên cạnh, gần miền Trung là quần đảo Hoàng Sa, phí dưới ghi là Vạn Lý Trường Sa.”

Chứng cứ kế tiếp xác lập chủ quyền Việt Nam được tìm thấy trong bộ sách Phủ Biên tạp lục do Lê Quý Đôn soạn năm 1776. Tác phẩm của nhà bách khoa với chức vụ Hiệp trấn hai tỉnh đã mô tả rõ các quần đảo và cho thấy thời đó triều đình Việt Nam đã tổ chức công việc khai thác và quản trị các đảo. Lê Quý Đôn viết:

“Tôi từng tra khảo sổ biên của cai đội Thuyền Đức hầu ngày trước như sau:

-         Năm Nhâm Ngọ (1702), đội Hoàng Sa đã nhặt được 30 thoi bạc.

-         Năm Giáp Thân (1704), nhặt được 5.100 cân thiếc.

-         Năm Ất Dậu (1705), 126 nen bạc.

-         Từ năm Kỉ Sửu (1709) đến năm Quí Tị (1713), trong vòng 5 năm, đội Hoàng Sa đã nhặt được nhiều cân đồi mồi và hải sâm. Có năm chỉ nhặt được vài cái chén sành và hai khẩu súng đồng.”

Lê Quý Đôn còn ghi lại những sự kiện lịch sử xảy ra trước đó, như vụ chiến thuyền của các Chúa Nguyễn Phúc Lan đánh nhau với các chiến thuyền Hà Lan. Điều này cho thấy, thời ấy, nước ta đã có một đội hải quân tinh nhuệ và rất chú ý tới việc kiểm soát trên biển.

Ngoài Hồng Đức bản đồ và Phủ biên tạp lục, nhiều bản đồ, tập địa đồ hay sách địa lý Việt Nam chỉ rõ các quần đảo như một bộ phận của nước ta, cụ thể là: Giáp Ngọ Bình Nam Đồ, 1774; Đại Nam Nhất Thống toàn đồ, 1838; Đại Nam Nhất Thống chí, 1882…

 

Sự quản lý thật sự các quần đảo cũng xuất hiện trong nhiều tài liệu khác của Việt Nam như Đại Nam thực lục tiền biên, thời kỳ 1600-1775 và Đại Nam thực lục chính biên; Đại Nam nhất thống chí,1865 - 1882, Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sử Lệ, 1843-1851,vv…

 

 

Một số tài liệu này mang dấu ấn của nhà vua hoặc có những lời phê bằng mực son, bút tích của nhà vua. Từ đó, có thể khẳng định rằng, các hoàng đế Việt Nam đã luôn theo đuổi việc tổ chức một đội khai thác kinh tế biển và thăm dò các quần đảo. Các biện pháp này thuộc một chính sách quốc gia chú trọng tới các lợi ích biển.

TS. Trần Công Trục, nguyên Trưởng Ban Biên giới của Chính phủ cho biết: “Trong kho lưu trữ ở Huế, chúng ta đã tìm được những bút phê của nhà vua trong việc thành lập đội Hoàng Sa, rồi cử đội này ra Hoàng Sa và Trường Sa, với thời gian cụ thể và cả các quyết định phong chức cho các đội trưởng để chỉ huy ra Hoàng Sa và Trường Sa như Phạm Quang Ảnh, Phạm Hữu Nhật,vv… mà hiện nay các tên tuổi đó được ghi nhận ở một số đảo trên quần đảo Hoàng Sa của chúng ta như đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hòa. Chúng ta cũng tìm được các gia phả của các dòng họ ở xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn các văn bản của nhà vua trong việc cử các đinh tráng xung vào đội Hoàng Sa.

Đây chính là bằng chứng pháp lý để nói rằng, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

 

 

Giữa năm 1771 và năm 1802, lịch sử nước ta được đánh dấu bằng sự đối đầu của các triều đại phong kiến. Khi nhà Nguyễn được khôi phục lại, vua Gia Long đã tiến hành thống kê tất cả đất đai của đất nước. Các đội thủy binh đóng một vai trò quan trọng trong việc thống kê các quần đảo. Đại Nam thực lục chính biên kể lại, năm 1815 và 1816, vua cử Phạm Quang Ảnh chỉ huy đơn vị hải quân Hoàng Sa ra các đảo để xem xét đo đạc thủy trình và vẽ bản đồ.

Vua Minh Mạng, người kế nghiệp ông, vào năm 1833, đã ra chỉ thị cho Bộ Công phái người tới dựng miếu, lập bia, trồng nhiều cây cối ở Hoàng Sa. Chỉ thị viết: “Ngày sau, cây cối to lớn, xanh tốt, người dễ nhận biết, có thể tránh được nhiều mắc cạn.”

 

 

Năm 1836, vua Minh Mạng tiếp tục kế hoạch của người tiền nhiệm thực hiện làm địa bạ toàn quốc. Trong sắc chỉ về Hoàng Sa và Trường Sa có đoạn viết: “Phải ghi chép mọi việc, mọi chi tiết và tường trình cho trẫm rõ. Khi thuyền đến một nơi nào, một hòn đảo hay một bãi cát, thuyền trưởng phải đo kĩ chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều sâu, chiều rộng và cả chu vi của hòn đảo hoặc của bãi cát, độ sâu của nước vùng ở xung quanh, dò tìm các bãi đá ngầm, xem đó có nguy hiểm cho tàu bè hay không, khảo sát đất đai, đo đạc và vẽ bản đồ.”

Cùng năm này, vua Minh Mạng ra lệnh cho Đô đốc Thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa một đội thuyền ra các đảo cắm các cọc lớn để đánh dấu những nơi đã kiểm tra. Trên mỗi cọc có ghi dòng chữ: “Năm Minh Mạng thập thất, thừa hành Hoàng thượng, thủy quân đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật đã ra đây, tại đảo Hoàng Sa để đo đạc địa hình và cắm cọc này để làm dấu tích.”

 

Năm 1837, Thượng thư Bộ Lại làm một bản tường trình nhà vua về các khoản chi tiêu của đội Hoàng Sa. Năm 1838, quan tuần phủ tỉnh Quảng Hà đề nghị vua cho bãi các thuế khóa đánh vào các tàu của đội Hoàng Sa và được vua chấp thuận. Cùng năm đó, Thượng thư Bộ Công làm một bản báo cáo lên nhà vua về các hoạt động của đội. Các đảo Hoàng Sa đã được ghi trong đó. Năm 1867, năm Tự Đức thứ 20, đối với các thủy binh đã tử vong trong quá trình ra các quần đảo đều được nhà vua tôn vinh là anh hùng,vv…

 

Bà Monique Chemillier Gendreau, giáo sư công pháp và khoa học chính trị ở Trường Đại học Paris VII Denis Diderot, nguyên Chủ tịch Hội luật gia dân chủ Pháp, nguyên Chủ tịch Hội luật gia châu Âu khẳng định, trong luật quốc tế, đó là những bằng chứng của chủ quyền: “Các triều đình phong kiến Việt Nam có giấy chứng thực chủ quyền từ thế kỷ XVI, đặc biệt là trong thế kỷ XVIII. Họ đã tổ chức quản lý các quần đảo này thông qua các đội tàu biển. Theo mùa, các đội tàu này đến các đảo để khai thác tài nguyên thiên nhiên và của cải từ xác các con tàu đắm trôi dạt vào. Họ còn dùng nhiều biện pháp như trồng cây để bảo đảm cho các vùng đó bớt nguy hiểm hơn cho các tàu bè qua lại. Người ta đã tìm thấy bằng chứng trong chiếu chỉ của vua Minh Mạng về việc này.

 

 

Trong luật quốc tế, đó là những bằng chứng của chủ quyền.”

Rõ ràng, Việt Nam với tư cách là một quốc gia trước thời thuộc địa đã phát triển các hành vi cai quản ở đó vào thời điểm không có một quốc gia nào có mối quan tâm tới chúng như một quốc gia có chủ quyền.

 

From : Tia sang , Vov.vn (  Lê Phúc-Lê Bình-Thùy Vân-Thu Lan ), ...

Publicité
Tag(s) : #Dư Luận Chính Trị VN
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :