Publicité

'Sòng phẳng' khi đàm phán biên giới

Cựu Trưởng ban Biên giới Chính phủ Việt Nam nói ông muốn giải thích “khách quan và khoa học” cuộc đàm phán tranh chấp biên giới Việt – Trung, từng một thời gây tranh cãi trong dư luận.

Tiến sĩ Trần Công Trục nêu ý kiến trên với BBC Tiếng Việt sau khi có bài trả lời phỏng vấn trên báo Bấm Giáo dục Việt Nam, nhìn lại quá trình ông tham gia đàm phán với Trung Quốc về biên giới trên bộ và Vịnh Bắc Bộ.

 

Tranh chấp lãnh thổTrong bài này, tiến sĩ Công Trục thừa nhận ngay cả nhiều người làm việc cho chính phủ Việt Nam vẫn “mơ hồ, lăn tăn” về các hiệp định ký với Trung Quốc.

“Họ nghĩ Việt Nam là nước nhỏ, nước yếu…phải có sự nhượng bộ không thể tránh khi đàm phán,” ông Trục nói với báo Giáo dục Việt Nam.

Hiệp ước Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc được ký năm 1999.

10 năm sau đó, hai nước ký thêm ba văn kiện về biên giới đất liền, và tuyên bố kết thúc 35 năm đàm phán giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền.

Thế nhưng những tiếng nói chỉ trích, đặc biệt trong giới bất đồng chính kiến, vẫn nói rằng thông tin về đường biên giới Việt-Trung “rất mờ mịt”.

Luồng dư luận này cũng cáo buộc Đảng Cộng sản Việt Nam dường như tìm cách che giấu tình hình đường biên giới mới.

Trả lời BBC hôm 28/8, tiến sĩ Trần Công Trục nói ông lên tiếng với báo trong nước nhằm để dư luận “hiểu rõ”.

“Tôi là người trực tiếp đàm phán, trực tiếp nghiên cứu không chỉ tài liệu pháp lý mà còn đến các khu vực tranh chấp.”

Các thỏa thuận được ký theo tinh thần “cầu thị và khách quan”, theo ông Trục.

Biểu tượng và thực tếNói lại về Thác Bản Giốc

 

Ông Trục giải thích lại với BBC việc đàm phán quanh các khu vực mang tính biểu tượng của lãnh thổ Việt Nam, trong đó có Thác Bản Giốc và Hữu Nghị Quan (Ải Nam Quan).

Chính phủ Việt Nam nói phần thác phụ của Thác Bản Giốc hoàn toàn thuộc phía Việt Nam, còn phần thác chính đổ thẳng xuống sông Quây Sơn là sông chung biên giới.

Hai nước cũng sẽ tiến hành phát triển du lịch, kinh tế tại khu vực thác.

Những tiếng nói chỉ trích cho rằng Việt Nam hoặc bị thiệt hoặc nhượng bộ quá mức trong vấn đề này.

Theo ông Trục, “xuất phát từ tài liệu lịch sử, văn học, sách giáo khoa, đã đi vào tiềm thức người Việt Nam rằng Thác Bản Giốc là của Việt Nam, nước Việt Nam kéo dài từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau”.

“Đó là văn chương, còn về mặt pháp lý, khi hai bên đàm phán, không thể quay lại văn chương, những yếu tố mơ hồ để khẳng định.”

“Hai bên đã đi đến ký kết hết sức sòng phẳng, rõ ràng và tôn trọng lẫn nhau, vì lợi ích của cả hai bên,” ông Trục khẳng định với BBC.


"Có nhóm sử dụng vấn đề biên giới lãnh thổ, tung tin ông này ông kia nhân nhượng vô nguyên tắc với Trung Quốc, 'cắt đất', 'bán đất' cho TQ nhằm tư lợi cho mình"

Còn trên báo Giáo dục Việt Nam, ông Trục nói "những vùng đất tranh chấp phải thông qua đàm phán giữa ta và Trung Quốc thì cả hai bên...đều không đủ cơ sở pháp lý thuyết phục để khẳng định nó là của mình".

"Nếu đã có đầy đủ chứng cứ pháp lý chứng minh được chủ quyền đối với những khu vực này thì không bao giờ có thể nhân nhượng được, kể cả là ta hay Trung Quốc."

"Những 'vùng tranh chấp' là các khu vực chưa có thể nói nó là của anh hay của tôi, mà đàm phán phân chia theo luật pháp quốc tế, thì như vậy không thể nói là ta đã để mất các khu vực này vào tay Trung Quốc, hay ngược lại Trung Quốc, mất các khu vực này vào tay ta," ông Trục nói.

Trong bài trên báo Giáo Dục, ông Trần Công Trục nói rằng ông "từng bị chửi là bán đất cha ông cho Trung Quốc".

Ông cũng cho rằng có ba nhóm người với ba loại quan điểm hoài nghi về đàm phán biên giới Việt - Trung nhưng có động cơ khác nhau.

"Nhóm đối tượng thứ nhất gồm đại đa số cán bộ, nhân dân quan tâm lo lắng cho sự toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ nước nhà," theo tiến sỹ Trần Công Trục.

Ông coi nhóm thứ hai "có những đối tượng, thế lực muốn lật đổ, bôi nhọ chính thể này" thông qua câu chuyện về chủ quyền lãnh thổ.

Còn nhóm thứ ba, theo ông "nằm ngay trong nội bộ chúng ta" và họ là "những cá nhân vì tranh giành lợi ích này lợi ích khác".

Ông Trần Công Trục cho rằng họ đã "sử dụng vấn đề biên giới lãnh thổ, tung tin ông này ông kia nhân nhượng vô nguyên tắc với Trung Quốc, 'cắt đất', 'bán đất' cho TQ nhằm tư lợi cho mình."

 

 

Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam: Chủ quyền không thể tranh cãi!
Gần 150 bản đồ, tư liệu, văn bản, hiện vật và ấn phẩm được trưng bày tại triển lãm là những cứ liệu khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Sáng 16-8 tại TP HCM, Văn phòng Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông, UBND TP HCM đã phối hợp tổ chức họp báo giới thiệu chương trình triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử. Hoạt động này diễn ra từ ngày 22 đến 29-8 ở Hội trường Thống Nhất, TP HCM.


Xác lập chủ quyền từ xa xưa

Theo GS-TS Nguyễn Quang Ngọc - Phó Chủ tịch Hội Sử học Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Thẩm định nội dung triển lãm - mảng tư liệu Việt Nam bao gồm các thư tịch, bản đồ và tài liệu có tính chất chính thức của nhà nước như châu bản triều Nguyễn đã khẳng định từ thời kỳ phong kiến đến nay, nhà nước Việt Nam khai phá, xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm 1490, vua Lê Thánh Tông cho hoàn thành bộ Hồng Đức bản đồ gồm 13 xứ thừa tuyên, có vùng duyên hải chạy dài đến núi Thạch Bi (Khánh Hòa) và biển đảo tỏa ra khắp Đông Hải (biển Đông). Giữa biển Đông có một địa danh đánh dấu là Bãi Cát Vàng. Đến cuối thế kỷ XVII, chúa Nguyễn Phúc Chu chính thức xác lập quyền quản lý về mặt nhà nước đối với miền Đông Nam Bộ và tiến ra chiếm lĩnh khu vực Nam biển Đông. Năm 1711, sau khi tiếp nhận vùng đất Hà Tiên, chúa Nguyễn Phúc Chu giao Mạc Cửu tổ chức khảo sát, đo vẽ và quản lý Trường Sa hải chử (quần đảo Trường Sa ngày nay).

"Như vậy, đến đầu thế kỷ XVIII, chủ quyền Việt Nam đã mở rộng tận Hà Tiên và mũi Cà Mau, bao gồm cả các hải đảo ngoài biển Đông và vịnh Thái Lan" - GS-TS Nguyễn Quang Ngọc cho biết.

 

Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa một lần nữa được khẳng định rõ ràng là vào năm 1803, khi vua Gia Long cho tái lập các đội Hoàng Sa và Bắc Hải. Đến năm 1861, bằng các hoạt động thăm dò đường biển, thực thi chủ quyền một cách kiên quyết và đồng bộ, vua Gia Long đã cắm cột mốc lớn trong lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở 2 quần đảo này.

GS-TS Nguyễn Quang Ngọc cho biết giám mục Jean Louis Taberd cũng đồng thời xuất bản An Nam đại quốc họa đồ có tọa độ rõ ràng, đánh dấu một cách chính xác Paracel hay Bãi Cát Vàng trên bản đồ Việt Nam mà không ai có thể phủ nhận hay xuyên tạc. Đặc biệt, Châu bản Phúc tấn của Bộ Công ngày 12-2-1836 (Minh Mạng năm thứ 17) đã ghi rõ việc cử thủy quân với sự hỗ trợ của dân binh, dân phu đi cắm cột mốc chủ quyền chi tiết về độ dài, rộng và dày của cột mốc.

 

Atlas Trung Quốc không có Hoàng Sa, Trường Sa

Bên cạnh mảng tư liệu Việt Nam, triển lãm còn giới thiệu bản đồ, atlas của Trung Quốc và các nước phương Tây. "Các nguồn bản đồ, tư liệu Việt Nam, Trung Quốc và phương Tây được đặt cùng nhau sẽ giúp du khách, người dân khi tham quan triển lãm có thể dễ dàng đối chiếu và kiểm chứng; góp phần khẳng định một thực tế lịch sử khách quan là trong nhiều thế kỷ, các nhà nước quân chủ Việt Nam đã xác lập, thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa mà không hề gặp sự phản đối hay tranh chấp của bất cứ quốc gia nào" - ông Lê Văn Nghiêm, Cục trưởng Cục Thông tin đối ngoại, Bộ Thông tin và Truyền thông, Trưởng Ban Tổ chức, nhấn mạnh.

 

Ông Nghiêm cho biết 4 cuốn atlas do các nhà nước Trung Quốc xuất bản trong những năm 1908, 1917, 1919, 1933 là sản phẩm của chương trình thiết lập bản đồ bưu chính do nhà Thanh đề ra vào năm 1906 và được chính phủ Trung Hoa Dân quốc kế tục các năm sau đó. Các bản đồ được lập chi tiết ở từng tỉnh, thể hiện rõ những con đường vận chuyển thư từ, công văn trong các địa phương của Trung Quốc. Nơi nào không thuộc lãnh thổ Trung Quốc thì không được thể hiện trên các bản đồ trong atlas. Vì thế, cương giới cực Nam của Trung Quốc trong các atlas này luôn chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam mà không hề nhắc đến Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.

"Điều này chứng tỏ hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam nằm ngoài cái gọi là "chủ quyền lịch sử" phi lý của Trung Quốc" - ông Nghiêm khẳng định.

 

Bổ sung nhiều tư liệu mới

Đại diện ban tổ chức cho biết trước đó, triển lãm đã được trưng bày tại Hà Tĩnh và Hà Nội. So với 2 địa phương này, triển lãm tại TP HCM sẽ bổ sung những tư liệu mới của TS sử học Nguyễn Nhã, nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam Nguyễn Đình Đầu cùng các tư liệu của TP HCM sưu tầm nhằm cung cấp một cách hệ thống và chuẩn xác về chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; góp phần nêu cao tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm của người dân, đặc biệt là tầng lớp thanh niên trong sứ mệnh bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Ngoài ra, TP HCM cũng tham gia triển lãm bằng những hình ảnh về Đảng bộ, chính quyền và nhân dân TP với Trường Sa, Hoàng Sa.

 

 

VN có nhượng bộ TQ về biên giới không?

Hiệp ước Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc được ký năm 1999

Vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc luôn thu hút sự quan tâm và tranh cãi trong dư luận người Việt trong và ngoài Việt Nam.

Cho đến hôm nay, Hiệp ước Biên giới trên đất liền được hai nước ký năm 1999 vẫn gây ý kiến trái ngược.

Một nhà nghiên cứu về tranh chấp Biển Đông, Dương Danh Huy, mới đây gửi cho BBC bài viết về chính sách thông tin của Việt Nam liên quan biên giới lãnh thổ và ranh giới biển. Bài viết đặt ra một số câu hỏi cho Tiến sĩ Trần Công Trục, cựu trưởng ban Biên giới Chính phủ Việt Nam, sau khi ông Trục, trên báo Việt Nam, kể lại những năm đàm phán biên giới với Trung Quốc.

Khi được Lê Quỳnh của BBC liên lạc, ông Trần Công Trục đồng ý trả lời những "băn khoăn" về cuộc đàm phán biên giới trên bộ và phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Xin giới thiệu với quý vị hai bài viết muốn giải đáp thêm các câu hỏi về quá trình đàm phán giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

 

Ý kiến ông Dương Danh HuyÝ kiến ông Trần Công Trục.Cho đến nay vẫn có có nhiều ý kiến khác nhau về tính công bằng của hai hiệp định Việt-Trung về ranh giới trên bộ và về vịnh Bắc Bộ được ký vào năm 1999 và 2000.

Mới đây, trả lời phỏng vấn trên báo Giáo dục Việt Nam về hai hiệp định này, TS Trần Công Trục, nguyên trưởng ban Biên giới Chính phủ Việt Nam, nói:

“Điều đáng nói là không chỉ dư luận người dân mà ngay cả những người làm công tác nghiên cứu, các nhà khoa học lẫn những nhà quản lý, lãnh đạo vẫn còn nhiều người mơ hồ, lăn tăn về chuyện này. Thậm chí có người suy đoán “chắc là dư luận nói đúng” bởi vì họ nghĩ Việt Nam là nước nhỏ, nước yếu ở cạnh một nước mạnh, nước lớn như TQ thì phải có sự nhượng bộ không thể tránh khi đàm phán tranh chấp biên giới, lãnh thổ.”

Điều TS Trần Công Trục nói đến là do một khuyết điểm cơ bản trong chính sách của Việt Nam về thông tin liên quan đến biên giới lãnh thổ và ranh giới biển.

 

Trấn an?
Nếu Việt Nam công bố minh bạch và đầy đủ thông tin thì đã không có nhiều người làm công tác nghiên cứu, nhà khoa học, nhà quản lý, lãnh đạo “mơ hồ, lăn tăn” về các hiệp định lãnh thổ và biển, mà dư luận người dân cũng đã đỡ xôn xao. Thông tin đó không thể dựa trên việc quan chức hé ra một phần, không thể được thay thế bằng thông tin hành lang, hay những lời khẳng định, trấn an. Ngược lại, Việt Nam phải có chính sách cung cấp cho nhân dân thông tin chính thức, minh bạch và đầy đủ, theo tư duy 3C, “Công khai, Công luận, Công pháp quốc tế”.

"Cho tới nay, mặc dù tọa độ của các cột mốc đã được công bố, vẫn chưa có thông tin đầy đủ và minh bạch về cuộc đàm phán dẫn đến chúng."
Không thể bác bỏ những suy đoán mà TS Trần Công Trục đề cập đến, hay những suy đoán khác, bằng những lời phủ định “chay”. Để bác bỏ chúng, cần công bố những thông tin như: trong đàm phán Việt Nam đã đòi gì, Trung Quốc đã đòi gì, mỗi bên đã đưa ra dẫn chứng và lập luận gì cho yêu sách của mình, và cuối cùng mỗi bên được gì với lý do gì. Người quan tâm sẽ dùng những thông tin đó để đánh giá giá trị pháp lý của chứng cứ của mỗi bên và tính công bằng của thỏa hiệp.

Nếu thay thế những thông tin đó bằng những lời trấn an thì nhân dân không thể biết có bên nào đã ngang ngược hay không, và bên kia có đã đành phải chấp nhận hay không; họ chỉ có thể lựa chọn giữa có tin lời trấn an hay không. Lãnh thổ là của nhân dân cho nên họ phải được hơn như thế: họ phải được có thông tin về đàm phán lãnh thổ và biển. Các lời khẳng định, các lời trấn an, tin hành lang và tin đồn là không đáp ứng đủ quyền được biết của nhân dân.

Nhưng cho tới nay, mặc dù tọa độ của các cột mốc đã được công bố, vẫn chưa có thông tin đầy đủ và minh bạch về cuộc đàm phán dẫn đến chúng.

 

Khu vực Núi Đất

Một thí dụ là khu vực Núi Đất, mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn và đánh chiếm vào tháng 4 năm 1984. Vào tháng 7 năm 1984 Quân đội Nhân dân Việt Nam đã mở chiến dịch kéo dài nhiều năm, chiến đấu quyết liệt để giành lại những vùng bị Trung Quốc chiếm đóng. Với xương máu của rất nhiều người lính, Việt Nam đã giành lại được nhiều phần.

Trên bàn đàm phán, Việt Nam cũng đã giành lại được một số mỏm núi. Theo thông tin không chính thức từ phía Trung Quốc và phía Việt Nam thì có một mỏm có vẻ như cả hai bên không chối cãi là của Việt Nam, nhưng Trung Quốc đã xây nghĩa trang quân đội trên đó và họ chủ trương là khu vực nghĩa trang là bất khả xâm phạm.


Việt Nam có cuộc chiến biên giới với Trung Quốc tháng Hai 1979

Có việc đó hay không? Nếu có thì vì ly do nào mà Việt Nam đã chấp nhận? Vì nhân đạo và địa chính trị, hay vì không có đủ chứng cứ pháp lý, hay lý do nào khác? Tại sao thông tin không được công bố?

 

Vịnh Bắc Bộ
Một thí dụ khác là ranh giới trong vịnh Bắc Bộ. Ban đầu Việt Nam chủ trương kéo dài đường phân định trong Hiệp định Pháp-Thanh 1887 để chia cả lãnh hải 12 hải lý và vùng đặc quyền kinh tế bên ngoài 12 hải lý, nhưng Trung Quốc đã không chấp nhận. Sau đó Việt Nam chủ trương chia theo luật quốc tế về phân định biển. Theo tài liệu đã công bố của nhân viên nhà nước có chức năng thì Trung Quốc chủ trương chia đều 50:50, không cần đến lập luận pháp lý. Cuối cùng hai bên đã thỏa hiệp bằng tỷ lệ 53:47 nghiêng về Việt Nam.

"Điều quan trọng ở đây là phải có thông tin chính thức và có tranh luận khoa học, duy lý. Đó cũng là nguyên tắc chung cho việc nhận định về các hiệp đinh biên giới, ranh giới."


Theo bản đồ độ phân giải cao thì nhiều điểm trong đường phân định vùng đặc quyền kinh tế trong vịnh Bắc Bộ nằm gần lãnh thổ Việt Nam hơn lãnh thổ Trung Quốc. Nổi bật nhất là điểm 17 nằm gần bờ biển Hà Tĩnh hơn đảo Hải Nam khoảng 50 km, và điểm 14 nằm gần bờ biển Nam Định hơn đảo Hải Nam khoảng 37 km. Trong khi đó, không có điểm nào nằm gần lãnh thổ Trung Quốc hơn lãnh thổ Việt Nam. Nếu lấy một đường trung tuyến nào đó làm chuẩn (có thể có vài đường trung tuyến khác nhau đều tương đối hợp lý) thì có thể nói là Việt Nam được ít hơn đường trung tuyến ít nhất là nhiều trăm cây số vuông.

Vì vậy, mặc dù lời phê phán rằng Hiệp Định Pháp-Thanh 1887 đã chia toàn bộ vịnh Bắc Bộ là lời phê phán không hợp lý, nhưng quan điểm chính thức của Việt Nam, rằng Hiệp Định vịnh Bắc Bộ 2000 là công bằng, cũng là quan điểm chưa thuyết phục.

 

Có thể cho rằng hiệp định đó là đại khái công bằng ở một mức nào đó, nhưng mức đó có là công bằng đủ hay không thì là điều có thể tranh luận. Trong tranh luận đó, thể có người cho rằng trước một Trung Quốc vừa mạnh, vừa tham, bất chấp luật quốc tế, thì việc Việt Nam đạt được mức công bằng đó là khá rồi, và có thể có người có quan điểm ngược lại.

Cũng có thể có người cho rằng việc được ít hơn đường trung tuyến đó là giá phải chăng cho việc có một ranh giới ổn định trong vịnh Bắc Bộ, và có thể có người có quan điểm ngược lại.

Điều quan trọng ở đây là phải có thông tin chính thức và có tranh luận khoa học, duy lý. Đó cũng là nguyên tắc chung cho việc nhận định về các hiệp đinh biên giới, ranh giới.

 

 

 

From : BBC,....

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Publicité
Tag(s) : #Dư Luận Chính Trị VN
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :