Một số tập đoàn, tổng công ty kinh doanh thua lỗ, hiệu quả sử dụng vốn, tài sản nhà nước, đất đai còn thấp. Một số lãnh đạo tập đoàn, tổng công ty có hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật, gây lãng phí. Chính phủ đã và đang tập trung chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến những hạn chế, yếu kém trong tổ chức, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cùng những hành vi vi phạm pháp luật gây lãng phí, thất thoát lớn vốn, tài sản của nhà nước, để xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật”, Chính phủ nhận định.
Đáng chú ý, trong phần phụ lục Báo cáo về lãnh đạo tập đoàn, tổng công ty có hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật, gây lãng phí, Chính phủ dẫn chứng “điển hình như vụ việc tại Tập đoàn CN tàu thủy (Vinashin), Tổng công ty Hàng hải Việt Nam...
Ngoài ra, trong số các tập đoàn, tổng công ty thua lỗ lớn theo báo cáo của Kiểm toán Nhà nước ngày 5.9.2012 được Chính phủ dẫn ra trong báo cáo, có Tập đoàn xăng dầu Việt Nam, Công ty TNHH một thành viên xăng dầu Quân đội, hoặc có lãi nhưng hiệu quả chưa cao như Tổng công ty cổ phần xây lắp dầu khí. Một số doanh nghiệp sử dụng đất kém hiệu quả là Tổng công ty công nghiệp Sài Gòn, Tổng công ty văn hóa Sài Gòn, Tổng công ty xăng dầu Quân đội, Tập đoàn xăng dầu Việt Nam...
Chính phủ đồng thời cho hay, trong năm 2012, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đăng ký tổng số tiền tiết kiệm do tiết giảm chi phí là 12.548,7 tỉ đồng. Trong 6 tháng đầu năm, tổng chi phí đã thực hiện tiết giảm được theo báo cáo từ 12 tập đoàn, 11 tổng công ty 91 và 19 tổng công ty nhà nước khác ước tính là 4.433 tỉ đồng.
Những doanh nghiệp này được giới phân tích đánh giá là xuất nguồn từ ý tưởng 'Chaebol' của Nam Hàn, mô hình đã đưa nước này lên vị trí cường quốc thế giới, nổi tiếng với các mặt hàng sản xuất công nghiệp nặng.
Chaebol là tên gọi chung của các tập đoàn hùng mạnh từ thập niên 1960 mà chính quyền của cố Tổng thống Nam Hàn Park-Chung-Hee đã chọn để làm những 'quả đấm thép' trong các chiến lược 5 năm phát triển kinh tế của nước này.
Dưới sự hỗ trợ, hợp tác của chính phủ trong đó có cung cấp vốn vay ưu đãi thông qua ngân hàng, ưu đãi thuế, bảo lãnh chi trả nợ, các Chaebol đã phát triển nhanh chóng và ra sức chiếm lĩnh thị trường thế giới.
Các Chaebol hàng đầu của Nam Hàn được biết đến rộng rãi cho đến ngày nay gồm có LG, Samsung, Hyundai.
Sự quay cóp tai hại
Những sự khác biệt cơ bản đã khiến mô hình Tập đoàn Nhà nước VN trở nên thất bại, gây hậu quả nghiêm trọng khi lấy ý tưởng từ Chaebol.Bản thân các Chaebol như Samsung, LG đã là những tập đoàn tư nhân hùng mạnh trước khi được hỗ trợ qua hệ thống ngân hàng, được ban cơ chế độc quyền.
Khác với các Chaebol của Nam Hàn, tập đoàn Nhà nước của Việt Nam trực thuộc Nhà nước, không ra đời qua quá trình tích tụ vốn mà từ những quyết định hành chính với 'hy vọng' sẽ thành công.
Các tập đoàn lớn của Nhà nước lũng đoạn những lĩnh vực chính trong đó có dầu khí (PetroVN), điện (EVN), đóng tàu (Vinashin), xăng dầu (Petrolimex) và các tập đoàn khác. Ngoài ra còn có 96 tổng công ty Nhà nước với hàng ngàn các công ty con.
Những lãnh đạo được bổ nhiệm cho các doanh nghiệp này là công chức Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ tuân theo chỉ đạo của Chính phủ về việc phát triển ngành, khác với Chaebol, chủ yếu được điều hành bởi thành viên trong gia đình.
Điều đảm bảo cho thành công giai đoạn đầu của mỗi Chaebol trong quá khứ, đó là sự vắng mặt của yếu tố cạnh tranh từ các đối thủ quốc tế. Điều này không còn hợp lý với bối cảnh tân thời khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Trong khối WTO, doanh nghiệp nào cũng phải tồn tại trong môi trường cạnh tranh gay gắt, dù đó là tập đoàn Nhà nước, tư doanh hay FDI và doanh nghiệp nào yếu kém sẽ phải chịu thất bại.
Tuy nhiên ngay cả sau khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp Nhà nước lại được xem như là những mô hình 'quá lớn để sụp đổ' (too big to fail) giống như các Chaebol từ những năm 90 và vì vậy, Việt Nam đã phải trả những cái giá đắt để giữ các doanh nghiệp này không bị phá sản.
Mục tiêu hàng đầu của các Chaebol, đó là tập trung vào xuất khẩu nhằm chiếm lĩnh các thị trường mới, đưa trọng tâm nền kinh tế từ công nghiệp nhẹ sang công nghiệp nặng, đồng thời thay thế nhập khẩu.
Bằng chứng là đến cuối thời điểm 1980, các Chaebol của Hàn Quốc đã nổi tiếng trên thị trường thế giới về lĩnh vực sản xuất, thương mại cũng như công nghiệp nặng. Đến những năm 90, chỉ riêng 5 Chaebol lớn nhất (Samsung, Hyundai, LG, Daewoo, SK) đã đóng góp đến 50% GDP Nam Hàn.
Trái với Chaebol, các tập đoàn Nhà nước VN luôn tỏ ra hết sức yếu kém trong việc học cách xuất khẩu để cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Không những thế, việc các doanh nghiệp Nhà nước nhập khẩu quá nhiều, trong đó chủ yếu là sắt và các vật liệu xây dựng khác còn đẩy cán cân thương mại sang hướng nhập siêu.
Các yếu tố trên kết hợp đưa đến thực trạng của nền kinh tế Việt Nam hiện tại: Những doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh yếu kém nhưng lại lũng đoạn, chi phối nền kinh tế nội địa.
Sai lầm của Chaebol"Việc thực hiện sẽ rất khó khăn gian khổ vì hiện nay đã hình thành một tầng lớp đặc quyền, đặc lợi, cản trở mọi cải cách cần thiết nhân danh ổn định chính trị - xã hội"
Bản thân chính phủ Nam Hàn cũng đã thừa nhận những bất cập trong mô hình Chaebol của mình, nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 mà mô hình này gây ra.
Mối quan hệ gần gũi giữa các lãnh đạo Chaebol với chính phủ đã khiến hệ thống giám sát ngày càng trở nên lỏng lẻo, dẫn đến sự cho vay tràn lan, bao gồm cả khoản vay cho các dự án lợi nhuận kém.
Các Chaebol cũng liên tiếp bành trướng sang nhiều lĩnh vực thay vì tập trung vào những lĩnh vực chính, khiến nhân lực, vốn và cả sự quản lý bị dàn trải, dẫn đến thiệt hại lớn ở những ngành thiếu kinh nghiệm.
Tỷ lệ dư nợ của 30 Chaebol lớn nhất Nam Hàn lên đến 400% tổng giá trị vốn sở hữu trong những năm 90 đã biến các tập đoàn này thành gánh nặng của kinh tế Nam Hàn.
Sự tập trung vốn vào các Chaebol cũng đã cho các tập đoàn này đủ quyền lực để gây sức ép với nhà cầm quyền, đặt tầm ảnh hưởng lên các chính sách kinh tế, xã hội nhằm phục vụ cho các nhóm lợi ích.
Sau năm 1997, Nam Hàn đã phải tiến hành những cải cách triệt để đối với các Chaebol, trong đó để các Chaebol yếu kém phá sản, xác định tỷ lệ vay nợ trên vốn sở hữu, cấm sở hữu công ty tài chính phi ngân hàng, minh bạch hóa quản lý, tập trung vào ngành nghề chính, quy trách nhiệm cá nhân cho các lãnh đạo Chaebol trong việc lãnh đạo tập đoàn, khống chế đầu tư vào công ty thành viên và trừng phạt các hình thức hối lộ.
Lặp lại vết xe đổ
Việt Nam vẫn phạm phải hầu hết những sai lầm lớn của Chaebol mặc dù đã có một thời gian dài chứng kiến những bất cập của mô hình này trước khi đưa ra mô hình Tập đoàn Nhà nước từ năm 2005.
Các doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam vẫn được hỗ trợ vô tội vạ, dù hầu hết đều kinh doanh kém hiệu quả.
Báo cáo lãnh sự quán Anh tại Hà Nội hồi tháng Sáu năm nay cho thấy khoảng cách năng suất lao động của các doanh nghiệp Nhà nước so với cả khu vực doanh nghiệp nói chung tăng ngày càng lớn qua thời gian, từ 1:4 năm 2000 đến 1:8 năm 2008.
Trong năm 2011, 80% lợi nhuận của các doanh nghiệp Nhà nước chỉ tập trung vào vỏn vẹn bốn tập đoàn kinh doanh các lĩnh vực dầu khí, viễn thông, khoáng sản và cao su, chỉ một số ít trong số 1300 doanh nghiệp còn lại thực sự có lời.
Trong khi đó, hỗ trợ của Chính phủ cho các doanh nghiệp Nhà nước trong những năm qua không những giảm đi, mà còn có xu hướng tăng lên.
Báo cáo của Sứ quán Anh tại Hà Nội cho thấy Chính phủ Việt Nam dồn 68% vốn, 55% tài sản cố định, 45% tín dụng ngân hàng vào các doanh nghiệp Nhà nước cũng như ban cơ chế độc quyền trong hoạt động, chỉ báo cáo trực tiếp lên Thủ tướng.
Rõ ràng có sự đầu tư không dựa theo hiệu quả kinh doanh khi thống kê của IMF trong năm 2012 cho thấy các doanh nghiệp Nhà nước chỉ đóng góp khoảng 26% cho GDP trong khoảng thời gian 2006-2010, so với 43% đóng góp từ doanh nghiệp tư doanh.
"Chính các Doanh nghiệp Nhà nước gây nên tình trạng nhập siêu"
Việc Chính phủ cho phép các tập đoàn Nhà nước đầu tư đa ngành trong phương hướng phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010, kèm theo việc bơm tín dụng rẻ tràn lan vào các Doanh nghiệp nhà nước khiến các doanh nghiệp này bành trướng, mở rộng sang cách ngành vốn thiếu kinh nghiệm.
Điều này không những làm thất thoát vốn, phát sinh những khoản nợ, nợ xấu khổng lồ mà còn ảnh hưởng đến độ tín nhiệm chung của doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời gây e ngại cho giới đầu tư nước ngoài.
Trong lúc đó, sự ưu ái mà Nhà nước dành cho các doanh nghiệp Nhà nước đã tạo ra các nhóm lợi ích đủ mạnh để chống lại cải cách, bản báo cáo của Sứ quán Anh nhận xét.
Kinh tế gia Lê Đăng Doanh từ Hà Nội cũng có chung một ý kiến khi nhận xét về cải cách trong Bản báo cáo kinh tế Vĩ mô 2012: "Việc thực hiện sẽ rất khó khăn gian khổ vì hiện nay đã hình thành một tầng lớp đặc quyền, đặc lợi, cản trở mọi cải cách cần thiết nhân danh ổn định chính trị - xã hội".
Gánh nặng kinh tế
Habubank là một trong những ngân hàng thương mại phải gánh chịu hậu quả vì cho Doanh nghiệp Nhà nước vay
Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tổng dư nợ cho vay doanh nghiệp Nhà nước trong năm 2011 là khoảng 416.000 tỷ đồng, tương đương 17% tổng dư nợ tín dụng.
Báo cáo của Sứ quán Anh nhận xét, các doanh nghiệp Nhà nước tạo nên sự thiếu cân bằng trên thị trường tín dụng; các ngân hàng thương mại thường cho doanh nghiệp Nhà nước vay nhiều hơn các công ty tư doanh vừa và nhỏ có hoạt động kinh doanh tốt, dưới sự ảnh hưởng chính trị cũng như bảo lãnh của Nhà nước.
Ông Deepak Mishra, kinh tế trưởng Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho rằng hiện các doanh nghiệp Nhà nước chiếm 60% tín dụng từ các tổ chức tín dụng cũng như các ngân hàng, đồng thời mức nợ của các doanh nghiệp này chiếm tới 70% nợ xấu của các ngân hàng.
Chính các ngân hàng cho doanh nghiệp Nhà nước vay đã phải hứng chịu hậu quả nặng nề nhất. Trường hợp Ngân hàng Habubank đã phải chịu đóng cửa, sát nhập với Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn-Hà Nội vì không gánh nổi khối nợ xấu vì cho Vinashin vay là một ví dụ.
Hiện tại, Chính phủ Việt Nam đã tuyên bố sẽ tiến hành những cải cách mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp Nhà nước trong khuôn khổ 2013-2015.
Tuy nhiên, các chính sách này vẫn bị cho là quá 'chung chung' vì chỉ tập trung vào sự tư hữu hóa một phần, đồng thời cũng không có kế hoạch cụ thể làm sao để giảm số doanh nghiệp Nhà nước xuống còn 650 cho đến năm 2015, đặc biệt các ngành chính như dầu khí, gas và khoáng sản được đánh giá là khó có khả năng được tư hữu hóa.
Các thông số của doanh nghiệp Nhà nước trình lên Quốc Hội cũng mang tính tổng thể, không giúp ích gì trong việc nghiên cứu cụ thể, theo đánh giá của báo cáo từ Sứ quán Anh.
Bản báo cáo này cũng đánh giá chỉ tiêu giảm chi phí của các doanh nghiệp Nhà nước xuống 5-10% trong năm 2012 là 'hời hợt' vì không có hệ thống quản lý tập đoàn tiên tiến cũng như không có quy định giám sát và đánh giá hiệu quả của các doanh nghiệp này.
Sai lầm trong tư duy khiến Việt Nam sẽ còn phải gánh chịu hậu quả nhiều năm nữa.
Giáo sư Kenichi Ohno, Viện nghiên cứu kinh tế Nhật Bản nhận xét nếu được đẩy mạnh, cần có thời gian ít nhất là 20-30 năm để doanh nghiệp tư doanh cũng như FDI đủ lớn, đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
Điều này sẽ đưa các doanh nghiệp quốc doanh về chiếm một vai trò nhỏ trong nền kinh tế (5-10%), tránh xáo động, không chỉ với các khu vực khác vốn chưa sẵn sàng để thế chỗ doanh nghiệp Nhà nước mà còn với lực lượng lao động đông đảo trong nước vẫn đang làm việc cho các doanh nghiệp này.
“Hướng tới giảm các tập đoàn kinh tế nhà nước, sẽ chỉ còn 5 đến 7 tập đoàn đặc biệt quan trọng”, đó là tuyên bố của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam hôm 5-9.
Trả lời câu hỏi của báo giới xung quanh đề xuất mới đây của Bộ Xây dựng gửi Chính phủ mong muốn xóa bỏ mô hình tập đoàn ở tập đoàn công nghiệp xây dựng (gọi tắt là tập đoàn Sông Đà) và tập đoàn phát triển nhà và đô thị (gọi tắt là tập đoàn HUD) do hoạt động kém hiệu quả và mô hình không phù hợp, Bộ trưởng Vũ Đức Đam nói: “Chắc chắn từ 11 tập đoàn hiện nay sẽ còn lại 5 đến 7 tập đoàn”. Ông cũng bổ sung là phương án tổ chức lại HUD và tập đoàn Sông Đà đang được xem xét.
Lý do của nó là việc này nằm trong lộ trình tái cơ cấu tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã được Chính phủ phê duyệt.
Theo đó, sẽ tăng cường trách nhiệm quản lý của Thủ tướng đối với các tập đoàn nhà nước cần nắm giữ độc quyền chi phối như tập đoàn điện lưc, tập đoàn dầu khí, tập đoàn bưu chính viễn thông.
Số tập đoàn còn lại sẽ tổ chức theo hướng giải tán bớt, tăng cường, giao về cho các bộ, ngành, ủy ban nhân dân địa phương trực tiếp quản lý (theo như tinh thần dự thảo Nghị định 132 về quyền chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước đang được sửa đổi).
Từ đầu năm đến nay, trong khi thu NSNN trầy trật mới được hơn 1% thì chi đã tới 14 – 45%. Vì thế, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan đề nghị, muốn nền kinh tế vĩ mô thực sự ổn định, việc cần làm trước mắt vẫn là cần giải quyết tốt những điểm tắc về nợ xấu trong tái cấu trúc ngành ngân hàng cũng như thực hiện tốt mục tiêu tiết kiệm trong đầu tư công, chứ không phải chỉ là hô hào.
Còn TS Lê Xuân Nghĩa– Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia lại cho rằng, phải tăng cường đầu tư công để tập trung giải quyết việc làm và phát triển kinh tế.
Ông Khoan nhấn mạnh, bức tranh kinh tế còn quá nhiều điều ngổn ngang, cả trước mắt lẫn lâu dài. Nếu giải quyết những vấn đề này mà không lồng vào nhau thì khó khăn còn nghiêm trọng hơn. Trong đó, vấn đề dài hạn là "tái cấu trúc nền kinh tế”. 3 trọng tâm tái cơ cấu mà Chính phủ đang yêu cầu thực hiện dù đang được làm rốt ráo nhưng vẫn còn một số điểm “tắc” cần phải “thông” ngay như, nợ xấu ngân hàng (NH) đang là khối nặng chèn ép lên cả nền kinh tế, nếu không xử lý đúng đắn sẽ dẫn đến đổ vỡ.
Lâu nay ít ai để ý xem phần kinh tế ảo là bao nhiêu? Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, tất cả những đổ vỡ của nền kinh tế các nước đều bắt đầu từ NH và bất động sản. NH chính là một “đại diện” của kinh tế ảo. Ông Khoan nói: Kinh tế khó khăn là thế nhưng NH vẫn lãi khủng, đó chính là lãi ảo. Trong cái gọi là kinh tế ảo ấy, những hoạt động ngầm diễn ra rất khủng khiếp. Tái cơ cấu phải nhìn thấy điều đó để tập trung xử lý, nếu không xử lý dứt điểm thì khó có thể tái cơ cấu được ngành NH theo đúng nghĩa.
Giải quyết nợ xấu
Căn bệnh” đóng băng tín dụng đã từng bóp nghẹt nền kinh tế Nhật Bản, khiến cho đất nước này 16 năm trời luôn ở tình trạng tăng trưởng "zero” (0%). Châu Mỹ- La tinh cũng vậy. Nhiều nước lớn như Brazil, Argentina… loay hoay trì trệ vì nợ xấu quá lớn trong suốt hơn một thập kỷ, TS. Lê Xuân Nghĩa cảnh báo. Và ông bày tỏ sự lo ngại: “Nợ xấu đe dọa nền kinh tế như vậy, dư luận ráo riết mong vấn đề này được xử lý ngay, xử lý dứt điểm nhưng Chính phủ lại cho rằng, nợ xấu chưa thật ghê gớm, cứ từ từ xử lý”.
Từ từ nghĩa là chết! Nợ xấu quá lớn, DN cũng không sống được, bản thân NH sẽ không tung tiền cứu DN. NH không làm nổi vai trò của nó thì sẽ "bóp chết” tất cả các thị trường: Chứng khoán, bất động sản, tín dụng, bóp chết doanh nghiệp… và như vậy thì còn gì để tái cấu trúc nữa. Vì thế, tái cấu trúc quan trọng nhất là hệ thống NH để làm nền tảng cho tái cấu trúc DNNN và tái cấu trúc đầu tư công
Xem thêm:
Tình trạng nợ lương của người lao động có lẽ giờ không chỉ diễn ra ở một vài doanh nghiệp mà nó đang là tình trạng phổ biến với phần nhiều doanh nghiệp lớn nhỏ. Hoạt động kinh doanh khó khăn, lợi nhuận không thu được nên phần lớn các doanh nghiệp đang hoạt động cầm chừng. Thực tế là nhiều doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc nợ lương mà phải tính đến phương án đóng cửa, cho nhân viên nghỉ việc không lương. Với tình hình hiện nay, thì có lẽ nhiều người lao động lại phải đối mặt với nguy cơ thất nghiệp dài hạn.
http://danlambaovn.blogspot.fr/2012/10/dn-cung-uong-cat-com-nhan-vien.html
From : BBC ,baoDatviet, .....