Publicité

Vì sao Trung Quốc không thể lập ADIZ trên Biển Đông?
Phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc Dương Vũ Quân đã nói: "Sau khi hoàn thành các công việc chuẩn bị có liên quan, Trung Quốc sẽ thành lập kịp thời các khu vực nhận dạng phòng không (ADIZ) khác”. Và, không có gì là quá bí mật, đó chính là khu vực tranh chấp trên Biển Đông.

 

Rõ ràng là không ai có thể nghi ngờ ý định tham vọng của Trung Quốc, nhưng không phải lúc nào muốn cũng được, cho nên phải chờ sau khi hoàn thành các công việc chuẩn bị có liên quan. Vậy, những công việc chuẩn bị có liên quan đó là gì, liệu điều kiện khách quan, chủ quan có cho phép Trung Quốc thực hiện tham vọng đó hay không?...

 

Tại sao Trung Quốc lại lập ADIZ trên biển Hoa Đông trước Biển Đông?

Sự trỗi dậy của Trung Quốc và sự xoay trục của Mỹ sang châu Á-TBD đã tạo ra trên khu vực này một cuộc chiến địa chính trị khốc liệt, căng thẳng. Đồng thời tranh chấp vùng biển giàu tài nguyên, đường hàng hải quan trọng đã khiến cho các nước trong khu vực với Trung Quốc có nguy cơ xảy ra xung đột cao trước hành động đơn phương, đề cao sức mạnh của Trung Quốc…

Có thể nói khu vực châu Á-TBD đã như là một chiến trường của cuộc chiến tranh lạnh kiểu mới rất căng thẳng. Trung Quốc đang rất bức bối khi đang cố thoát ra khỏi sự bao vây của Mỹ và đồng minh trong chuỗi đảo thứ nhất.

Trong tình thế đó, Trung Quốc tuyên bố ADIZ trên biển Hoa Đông. Đây là lần đầu tiên Trung  Quốc lập quy tắc chơi trong khu vực không tiếp giáp trực tiếp với lãnh thổ quốc gia của mình và được coi như một thách thức rất nghiêm trọng với Mỹ bởi lẽ 70 năm nay, chỉ có Mỹ, Nhật Bản nêu quy tắc ở đây.

 
Tất nhiên Trung Quốc đã tính rất kỹ khi chọn khu vực này. 

Trước hết về vị trí địa lý, đây là khu vực gần trước cửa nhà nên Trung Quốc có điều kiện (lợi thế) để có thể dùng lực lượng không quân và các phương tiện khác trấn áp buộc đối phương thực thi những điều kiện do mình áp đặt, xuất phát từ đất liền mà không cần tàu sân bay hay máy bay tiếp dầu…khi thực thi nhiệm vụ, trong khi Nhật Bản cách xa Senkaku Điếu Ngư hơn Trung Quốc khoảng 200km. Nếu Nhật Bản không khuất phục, đụng độ có xảy ra thì Trung Quốc có đủ tự tin chiến thắng.

Thứ hai là, đối tượng mà Trung Quốc nhắm tới trực tiếp là Nhật Bản, một quốc gia có năng lực quân sự, kinh tế tương đương, đồng minh của Mỹ, một liều thuốc thử cực mạnh.

 

Nếu sau khi triển khai thành công (nghĩa là Nhật Bản phải xin phép, cúi đầu khuất phục, còn Mỹ làm ngơ…), thì chiến lược chống tiếp cận của Trung Quốc không đánh mà thắng, lúc đó Trung Quốc tự nhiên có 2 thông điệp hoành tráng cho các nước ASEAN:

Thông điệp thứ nhất, Nhật Bản mạnh như thế, đồng minh quan trọng, lâu đời với Mỹ như thế mà Trung Quốc ra tay là được, Mỹ cũng phải thúc thủ.

Và, thông điệp thứ hai, nếu quốc gia nào còn phản đối ADIZ của Trung Quốc, còn nghe theo Nhật, Mỹ thì… hãy coi lại thông điệp thứ nhất.

Phải công nhận rằng Trung Quốc tuyên bố ADIZ trên biển Hoa Đông là đã chọn đúng tử huyệt để ra đòn phản công. Nói là tử huyệt bởi lẽ khi bị điểm sẽ gây ra sự rung động toàn cục, toàn chuỗi đảo được coi như là để bao vây Trung Quốc bị mất sự khống chế vùng trời. Khi Trung Quốc làm chủ vùng trời thì có nghĩa là làm chủ tất cả, là quy luật của chiến tranh hiện đại.

 
Vùng nhận diện phòng không (ADIZ) do Trung Quốc đơn phương thiết lập trên biển Hoa Đông

Tuy nhiên, tìm ra hay nhìn thấy được tử huyệt là quan trọng nhưng năng lực tổ chức thực hiện để ra đòn dứt điểm mới quyết định vấn đề. Nếu ra đòn vào tử huyệt, là đòn hiểm mà không dứt điểm được có nghĩa là người ra đòn đã chơi với tử thần.

Trung Quốc tuyên bố lập ADIZ trên biển Hoa Đông là đòn hiểm nhằm vào tử huyệt, nhưng tiếc thay chưa đủ lực để làm cho đối phương tê liệt.

Điều bất ngờ xảy ra là trong khi Nhật Bản tỏ ra hết sức kiềm chế thì Mỹ, có vẻ như ngoài cuộc mà Trung Quốc không nhắm tới, lại lao vào chơi rất rắn, không ngại va chạm mà thế giới theo dõi đã biết.

Hành động của Mỹ một mặt là cảnh cáo Trung Quốc, sẵn sàng tham gia trực tiếp để bảo vệ lợi ích quốc gia. Mặt khác, Mỹ muốn chứng tỏ cho đồng minh biết Mỹ có thừa khả năng nói “không” với Trung Quốc, đồng thời, ngăn ngừa Nhật Bản tái vũ trang quá đà, khó kiểm soát.

 

ADIZ trên Biển Đông, lúc nào và nơi đâu?

Trước tình thế này, giả sử Trung Quốc lập ADIZ trên Biển Đông chẳng hạn như trên không phận của cái gọi là thành phố Tam Sa…thì sao?

Trên khu vực đó thì không quân Trung Quốc chưa đủ khả năng để phòng thủ khẩn cấp khi cần thiết, họ còn đang chờ có tàu sân bay.

Khu vực nhận dạng phòng không này nếu lập ra sẽ đụng tới nhiều bên tranh chấp rất quyết liệt và hầu như nằm ngay trước cửa nhà của họ mà máy bay, các phương tiện phòng không khác đều đủ sức thực thi chủ quyền của mình. Chưa hết, khu vực này còn liên quan đến lợi ích quốc gia của nhiều cường quốc khác nữa như Nga, Ấn Độ... mà Trung Quốc phải suy nghĩ nhiều lần.

Nhật Bản đang chờ Trung Quốc tuyên bố thành lập ADIZ trên Biển Đông để ra đòn. Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cho biết nước này “sẽ xử lý vấn đề ADIZ của Trung Quốc một cách bình tĩnh và kiên quyết, bằng cách phối hợp chặt chẽ với cộng đồng quốc tế”. Đó là gì nếu như không phải là thành lập khối các nước phản đối ADIZ phi pháp của Trung Quốc?

 

Đây là điều mà Trung Quốc chẳng bao giờ muốn, bởi vì có nghĩa là Trung Quốc đã đẩy ASEAN vào vòng tay Nhật Bản trong khi thực chất cái gọi là ADIZ cũng chẳng có ý nghĩa gì với các nước này, nó cũng như các vùng cấm đánh bắt trên biển mà Trung Quốc đơn phương đặt ra thôi nhưng mà cái mất thì quá lớn.

Khi nước cờ trước bị lộ, bị phá thì nước cờ sau sẽ khó lòng tồn tại, và nếu cứ cố tình đi tiếp nước cờ sau thì vô nghĩa. Cho nên, tuyên bố ADIZ trên biển Đông chỉ có thể là sản phẩm của những viên tướng diều hâu nhưng “không tỉnh táo” mà thôi.

 

Với diễn biến ngày càng bất lợi, ngày càng núng thế, không lường trước khi tuyên bố ADIZ trên biển Hoa Đông của Trung Quốc, chúng ta nhận thấy có 2 khả năng có thể xảy ra:

Trong tương lai gần, Trung Quốc chưa tuyên bố ADIZ của họ trên Biển Đông, bởi lẽ cuộc chiến địa chính trị giữa Mỹ và Nhật Bản với Trung Quốc xảy ra trên khu vực ĐNA này cũng mang tính chiến lược sống còn của Trung Quốc và chiến lược xoay trục sang châu Á-TBD của Mỹ. Mất khu vực này Trung Quốc không có hy vọng gì khi đối đầu với Mỹ, Nhật Bản.

Tuy thế, khi Trung Quốc tuyên bố ADIZ dù ở đâu thì cũng đều là nguy hiểm không trước mắt thì lâu dài cho khu vực. Khu vực đó trước mắt không thực thi được thì khi mạnh lên Trung Quốc sẽ thực thi. Có ai nghĩ rằng cái đường lưỡi bò mà chính quyền Tưởng vạch ra năm 1946 mà bây giờ Trung Quốc cũng lấy đó để đòi biến Biển đông thành ao nhà?

Vì thế, các quốc gia phải cảnh giác, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn những đòi hỏi, áp đặt phi lí, phi pháp ngay từ trứng nước.

 

 

From :  Lê Ngọc Thống

 

 

Nhật Bản và ASEAN sẽ có một hội thảo về an ninh hàng không vào giữa tháng 12/2013, khi mà vấn đề vùng nhận diện phòng không của Trung Quốc ngày càng phức tạp.
 
Theo nguồn tin được tờ Japan Times tiết lộ, Nhật Bản và Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) sẽ thể hiện thái độ của mình trong một tuyên bố chung khẳng định rằng: Bất cứ sự lạm dụng sức mạnh nào trong ngành hàng không dân dụng quốc tế có thể gây ra một “mối đe dọa an ninh”. Điều này ám chỉ đến “vùng nhận diện phòng không” mới mà Trung Quốc tuyên bố hôm 23/11.
 
Theo thông tin được đưa ra, bản dự thảo được thiết lập nhằm tái khẳng định vị trí quan trọng của Nhật Bản và các nước ASEAN trong những thách thức khu vực và toàn cầu, bao gồm an ninh hàng không, hàng hải. Bản dự thảo này sẽ được công bố tại một hội nghị thượng đỉnh Nhật Bản – ASEAN đặc biệt diễn ra tại Tokyo vào tuần tới (giữa tháng 12/2013).
 
Mặc dù dự thảo không nêu rõ tên Trung Quốc, tuy nhiên, cách diễn đạt cho thấy Bắc Kinh chính là trung tâm của vấn đề. 
 
"Vùng nhận dạng phòng không" trên biển Hoa Đông do Trung Quốc tuyên bố (màu hồng) chồng lấn trên vùng lãnh thổ mà Nhật Bản tuyên bố (xanh)

 

phong khong

 
Việc Bắc Kinh đơn phương lập vùng nhận diện phòng không trên vùng biển mà Nhật Bản đã tuyên bố chủ quyền làm châm ngòi cho một loạt các quan ngại với nguy cơ xung đột trong khu vực dâng cao. Không dừng ở đó, Trung Quốc cũng không giấu tham vọng khi ám chỉ Hoa Đông chỉ là một bước thử, và sẽ có nhiều vùng nhận dạng phòng không như thế. Không quá khó để hiểu, Biển Đông và các nước ASEAN sẽ phải đối diện với vấn đề mà Nhật đang phải đối diện trong tương lai gần.
 
Xuyên suốt những căng thẳng giữa hai quốc gia Nhật Bản và Trung Quốc trong thời gian gần đây, đồng thời với sự hiện diện quân sự ngày càng gia tăng của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương đã khiến những quốc gia Đông Bắc Á này bước vào một cuộc đua tranh giành ảnh hưởng tới Đông Nam Á.
 
Nếu như Trung Quốc muốn tạo ảnh hưởng đến ASEAN để chia rẽ sự đoàn kết của khối này, dẫn đến sự bất thành của đàm phán Quy tắc ứng xử Biển Đông (COC) thì Nhật Bản và Mỹ cùng đang tranh thủ ghi điểm trước nhóm nước này để bằng mọi cách ngăn chặn, phong tỏa dã tâm Trung Quốc.
 
Tuy nhiên, chỉ một bước đi thiếu khôn ngoan lập “vùng phòng không”, Trung Quốc đã khiến ASEAN nâng cao sự cảnh giác với mình. Có thể nói, đây là thời điểm để Nhật Bản dễ dàng ghi điểm trước nhóm nước Đông Nam Á.
 
 
Trung Quốc đã tự khiến mình bị cô lập tứ phía 
Quay trở lại vấn đề khu nhận diện phòng không mà Trung Quốc tự lập hôm 23/11/2013, đây được đánh giá là động thái táo bạo nhất mà quốc gia này sử dụng trong suốt quá trình tranh chấp chủ quyền với Nhật Bản. Nhưng động thái này lợi bất cập hại.
 
Mục tiêu Trung Quốc muốn thể hiện qua hành động này, đó là đưa Senkaku/Điếu Ngư từ vùng biển chủ quyền của Nhật Bản, trở thành một khu vực đang tranh chấp, không thuộc chủ quyền của bất kỳ quốc gia nào. Tuy nhiên, Thủ tướng Nhật Bản đã quyết “không nhượng bộ” trong vấn đề “vùng phòng không.”
 
Một hệ quả thứ hai, Mỹ được đà tạo ấn tượng với các đồng minh của mình tại khu vực. Việc phản ứng mạnh mẽ và quyết liệt của Mỹ như không cộng nhận vùng phòng không, đưa máy bay chiến đấu vào vùng này của Trung Quốc như một sự minh chứng cho lời nói của người Mỹ: “Kiên quyết bảo vệ đồng minh”.
 Không dừng ở đó, Mỹ cũng tạo được ấn tượng rất mạnh với các quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là đồng minh Philippines, quốc gia sẽ phải chịu trận đầu tiên nếu có một vùng nhận diện phòng không tại Biển Đông. 
 
Ngoài ra, Trung Quốc tiếp tục mất đi những ảnh hưởng và lợi ích ở vùng biển xa Thái Bình Dương, khi Australia kiên quyết không rút lại tuyên bố của mình với vùng phòng không tự lập trên.
 
Trong cuộc gặp song phương với Ngoại trưởng Australia, Julie Bishop hôm 6/12 ở Bắc Kinh, Bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị cho rằng những tuyên bố gần đây của Úc xoay quanh vấn đề khu nhận diện phòng không đã làm xói mòn lòng tin lẫn nhau và phủ bóng đen lên mối quan hê song phương của hai nước. Ông Vương kêu gọi Úc ủng hộ Trung Quốc và giải quyết các vấn đề nhạy cảm trong khu vực bằng quan điểm chiến lược của mình.
 
Tuy nhiên, bà Julie Bishop, Ngoại trưởng Australia kiên quyết không rút lại ý kiến không công nhận vùng phòng không trên, và khẳng định: “Đó là chính kiến của Australia, phản đối bất kỳ hành động đơn phương và ép buộc của bất kỳ quốc gia nào có thể tạo thêm căng thẳng cho biển Hoa Đông”. Trước đó, chính phủ nước này đã có cuộc triệu tập Đại sứ Trung Quốc để phản đối.
 
Có thể nói, vùng nhận diện phòng không của Trung Quốc đã đẩy quốc gia này vào thế tiến thoái lưỡng nan. Nếu hủy khu vực này, Trung Quốc sẽ ê chề trước các đối thủ, đặc biệt là Nhật Bản. Nhưng nếu tiếp diễn, Trung Quốc sẽ phải đối mặt với một sự thật, cường quốc có sức tăng trưởng phi mã này sẽ trở thành con ngựa bị tách đàn, hoàn toàn cô lập với cộng đồng quốc tế.  

 

From : ???

 

 

 

"Hợp tung liên hoành"

 

Vào thời Chiến quốc, trên lãnh thổ của Trung Hoa tồn tại nhiều quốc gia nhỏ. Trong một thời gian dài, những tiểu quốc này thường xuyên gây chiến tranh để thôn tính lẫn nhau. Chính bởi lẽ đó mà không khí chính trị trở nên vô cùng sôi động, và đó chính là vùng đất màu mỡ cho những thuyết khách, những nhà ngoại giao, những nhà cố vấn quân sự lão luyện thể hiện tài năng. Theo đó mà nghệ thuật chiến tranh, ngoại giao, và chính trị của người Trung Hoa thời đó đã đạt đến trình độ thuần thục và tinh vi.


Thời trung kỳ trong giai đoạn này, nước Tần nổi lên vượt trội với ưu thế về kinh tế và quân sự. Điều đó đã phá vỡ trật tự chính trị đã được xác lập từ trước của tất cả các nước. Để thực hiện thành công mục tiêu thống nhất Trung Hoa, nhà Tần ứng dụng và theo đuổi chiến lược “liên hoành” do du thuyết gia Trương Nghi đề xướng. Trương Nghi đề ra chính sách xách động các nước chiến tranh gây chia rẽ, thiết lập bang giao với các nước ở xa, tấn công quân sự các nước láng giềng để uy hiếp khiến phải thần phục sức mạnh nhà Tần. Một khi các nước nhỏ không thể hình thành một liên minh quân sự đủ mạnh để tự vệ thì nhà Tần có thể lần lược thôn tính từng nước một cách dễ dàng.


Nhận thức được dã tâm to lớn của nhà Tần, các nước nhỏ cùng ngồi lại để thành lập một liên minh quân sự chống Tần được định hình bởi chiến lược “hợp tung” do du thuyết gia Công Tôn Diễn, và Tô Tần chủ xướng. Hai học thuyết chính trị “hợp tung” và “liên hoành” đối nghịch nhau làm cho quan hệ ngoại giao và quân sự của các nước trở nên phức tạp và biến hóa dưới nhiều hình thái, có lúc liên minh có lúc đối đầu. Thế cân bằng quyền lực được duy trì trong một thời gian khá dài. Về sau, khi các nước nhỏ không còn có đủ sự khôn ngoan và dũng khí duy trì liên minh “hợp tung”, để cho kế sách “liên hoành” phát huy hết hiệu lực thì kết quả là các nước bị nhà Tần đánh bại trong tủi nhục. Đó là một bài học lịch sử mà chúng ta không thể không biết và không quan tâm.


Sân khấu chính trị quốc tế ngày hôm nay với sự mở rộng về không gian nhưng tính chất vẫn không thay đổi. Sự lớn mạnh của Trung Quốc đã phá vỡ trật tự thế giới được hình thành từ sau Chiến tranh Lạnh. Những nhà lãnh đạo Trung Cộng, hậu duệ của Trương Nghi, Tần Thủy Hoàng đang thực hiện chiến lược bành trướng sức mạnh quân sự, ngoại giao trên khắp thế giới để thâu tóm, tranh giành ảnh hưởng, từng bước thực hiện giấc mộng Bá chủ. Học thuyết “liên hoành” đang được họ khai dụng một cách thành thạo.


Tại Châu Á Thái Bình Dương, khu vực Đông Bắc Á, Trung Quốc tung lực lượng tàu chiến và hải giám, tranh chấp lãnh hải với Nhật Bản. Tại khu vực Biển Đông, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền và xem đây là “quyền lợi cốt lõi”. Các giới chức quân sự Trung Quốc nhiều lần đe dọa chiến tranh tại eo biển Đài Loan, đối đầu quân sự trong tranh chấp biển đảo với Việt Nam, gây bế tắc ngoại giao trong tranh chấp lãnh hải với Philippines và một loạt những hành động gây hấn khác đối với các quốc gia trong khu vực. Tất cả những hành động ấy nhằm minh xác cho các nước trong khu vực thấy rằng, Trung Hoa đang lớn mạnh, và các quốc gia nhược tiểu phải thần phục họ nếu không muốn bị đè bẹp bằng sức mạnh quân sự.


Bên cạnh những hành động đe dọa, trên mặt trận ngoại giao, Trung Quốc dùng những nước đàn em của mình: Việt Nam, Lào, Campuchia là một thứ công cụ gây chia rẽ mối liên kết giữa các nước trong khối ASEAN. Bằng cách phủ quyết những bộ quy tắc ứng xử chung, những cam kết hợp tác hay đàm phán đa phương... ba quốc gia đàn em này đã và đang là cánh tay đắc lực của đàn anh Trung Quốc gây bế tắc cho nhiều vấn đề của khối nhằm khiến cho khối này không thể đi đến một quyết định chung trong việc đối phó với Bắc Kinh. Không chỉ có thế, mới đây, Campuchia còn công khai kêu gọi các nước nên “hợp tác chặt chẽ” với Trung cộng. Ba nước hoặc độc tài, hoặc dân chủ nửa mùa này đã gây ra không ít khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi chung của khối trước sức ép của Bắc Kinh. Đối với các nước không phải đồng minh như Indonesia, Malaysia, Singapore, Bắc Kinh dùng những hợp đồng kinh tế béo bở để chiêu dụ nhằm thuyết phục các nước ủng hộ mình trong các văn kiện quốc tế quan trọng, hoặc ít ra, những nước này sẽ vì lợi ích của đất nước mình mà bỏ qua an ninh chung của cả khu vực.


Chính sách ngoại giao “nước lớn” của Trung Quốc trong hiện tại đã tạo ra mối đe dọa về an ninh đối với các quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ trong khu vực châu Á Thái Bình Dương. Tham vọng bá quyền của Trung Cộng tạo ra hiểm họa cho sự thịnh vượng của Hoa Kỳ trong tương lai. Đối mặt với thách thức lớn, buộc các nhà làm chính sách tại Washington phải “xoay trục” quay trở lại khu vực châu Á Thái Bình Dương. Hoa Kỳ tuyên bố khu vực này là “quyền lợi quốc gia”, một động thái có thể đánh giá là công khai đối đầu với Trung Quốc. Sự thực là Hoa Kỳ không quay trở lại khu vực này vì lợi ích kinh tế như nhiều người đã nghĩ. Washington đang thực hiện chiến lược “hợp tung” bằng cách liên minh quân sự với các quốc gia đồng minh, chuyển trọng tâm quân sự từ Tây sang Đông là để hình thành một “vành đai quân sự” bao vây cửa ngõ tiến ra Thái Bình Dương của hải quân Trung Quốc.


Một khi khu vực Đông Bắc Á và khu vực Đông Nam Á nằm dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ, điều này đồng nghĩa với việc Hải quân Trung Quốc bị cô lập với thế giới bên ngoài, lực lượng hải quân Trung Quốc nằm trong tầm do thám của hải quân Hoa Kỳ và có thể bị vô hiệu hóa ngay lập tức nếu xảy ra xung đột. Các khu căn cứ quân sự của hải quân Hoa Kỳ đang đồn trú tại Phillippines, Indonesia, Singapore có thể theo dõi sát sao mọi hoạt động của hải quân Trung Quốc (tàu ngầm, tàu chiến, máy bay). Hoạt động liên hợp hải quân Mỹ - Nhật tại Okinawa giúp Hoa Kỳ kiểm soát toàn bộ khu vực biển Đông Bắc Á. Quân đội Nhân dân Trung Quốc đã bắt đầu cảm thấy bất an trước mật độ do thám ở tầng suất quá cao của Hoa Kỳ. Hơn ai hết, Bắc Kinh biết mình bị Hoa Kỳ bao vây.


Trong chiến lược “hợp tung – liên hoành” của Mỹ - Trung, Cộng sản Việt Nam phải sinh tồn như thế nào? Lâu nay, Hà Nội luôn được Bắc Kinh sử dụng như một tên “nội gián” trong khối ASEAN nếu không muốn nói rằng Cộng sản Việt Nam là một lá bài quan trong trong chiến lược “liên hoành” của Trung cộng. Ngày nào Đảng Cộng sản Việt Nam còn tồn tại thì ngày đó, chiến lược “hợp tung” của Hoa Kỳ còn bị phá hoại. Ngoài những bất lợi khi để Cộng sản Việt Nam tồn tại, Hoa Kỳ có thể cân nhắc những ưu thế vô cùng to lớn khi Việt Nam được dân chủ hóa. Hải quân Hoa Kỳ có thể hoạt động thường xuyên tại khu vực vịnh Bắc bộ và nắm rõ lịch trình hoạt động tàu ngầm tại đảo Hải Nam, một căn cứ tàu ngầm đầu não được xây dựng kiên cố của hải quân Trung Quốc. Các cảng quân sự nước sâu sẽ là nơi lý tưởng để tàu chiến Hoa Kỳ neo đậu và bảo trì. Sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam sẽ là điều vô cùng bất lợi đối với quân đội Trung Quốc (nhưng cũng là điều vô cùng thuận lợi cho Việt Nam).


Trong chiến lược bao vây Trung cộng của Hoa Kỳ, việc đảng Cộng sản Việt Nam duy trì quyền lực chính trị chẳng khác nào loài cá hồi đang lội ngược dòng nước. Chính sách của Mỹ như dòng thác mạnh từ trên cao đổ xuống, CSVN như chú cá hồi lội ngược dòng trong mệt mỏi. Bây giờ là thời điểm chú cá hồi cộng sản mặc “áo cưới” lần cuối cùng và vĩnh viễn ra đi. Một loạt những nhượng bộ về Nhân quyền vừa qua là chỉ dấu cho thấy đảng Cộng sản đang cân nhắc lại hành động của mình trước nhiều chuyển biến quốc tế. Và đảng cộng sản Việt Nam phải chấm dứt số phận của mình vì đã ngán chân Hoa Kỳ trong chiến lược toàn cầu.


Cuộc cạnh tranh vị trí lãnh đạo vô hình trung biến thành cuộc đối đầu về ý thức hệ. Cả thế giới sẽ chứng kiến cuộc đối đầu toàn diện về ý thức hệ lần cuối cùng trước khi bước qua kỷ nguyên mới. Đây không còn là cuộc đối đầu giữa hai hệ thống tư bản và cộng sản nữa, mà là một cuộc chạm trán nảy lửa giữa hai khối dân chủ tự do và độc tài. Và đây cũng sẽ là bước ngoặt lớn, một cú chuyển mình vĩ đại của quốc gia Việt Nam trong lịch sử hiện đại.


From :Huỳnh Trọng Hiếu (Danlambao)
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Publicité
Tag(s) : #Dư Luận Chính Trị Thế Giới
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :