Chỉ một tuần sau chuyến công du của Ngoại trưởng Henry Kissinger, thấy rõ ý định "bỏ rơi" của Mỹ cũng như các điều kiện bất lợi với Việt Nam Cộng hòa, Trung Quốc đã điều chiến hạm ra cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa.
40 năm trước, ngày 19/1/1974, một biến cố trọng đại trong lịch sử Việt Nam hiện đại đã diễn ra - hải chiến Hoàng Sa giữa Hải quân Việt Nam Cộng hòa và Hải quân Trung Quốc. Sau trận chiến, quần đảo Hoàng Sa - một bộ phận thiêng liêng và không thể tách rời của Việt Nam đã bị Trung Quốc chiếm giữ.
Thạc sĩ Nguyễn Hùng Cường (Viện Nghiên cứu Khoa học Biển và Hải đảo), đã có bài viết tái hiện những sự kiện chính diễn ra trước, trong và sau trận hải chiến:
Suốt nhiều thế kỷ, Việt Nam đã chiếm hữu thật sự, hòa bình và công khai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khi các quần đảo đó chưa thuộc chủ quyền bất cứ quốc gia nào. Từ thế kỷ XVII, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện hiệu quả chủ quyền với hai quần đảo này và luôn bảo vệ các quyền, danh nghĩa của mình trước mưu đồ và hành động xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam với hai quần đảo thiêng liêng của mình.
Đầu thế kỷ XX, nhận thấy vị trí chiến lược cũng như tầm quan trọng của biển Đông nói chung và quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa nói riêng, một số quốc gia (điển hình là Trung Quốc) đã xâm chiếm bất hợp pháp các vùng lãnh thổ này của Việt Nam.
Trung Quốc luôn coi biển Đông, đặc biệt là các quần đảo của Việt Nam là bàn đạp quan trọng để thực hiện chiến lược bành trướng xuống Đông Nam Á. Vì vậy, giới cầm quyền Trung Quốc từ Trung Hoa Dân Quốc cho đến Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã không ngừng đẩy mạnh thực hiện âm mưu độc chiếm biển Đông.
Lợi dụng tình hình rối ren khi Nhật đầu hàng đồng minh và việc giải giáp quân Nhật theo Hiệp định Postdam 1945, Trung Hoa Dân Quốc đã đem quân chiếm giữ đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) và đảo Ba Bình (quần đảo Trường Sa) vào cuối năm 1946. Sau đó Trung Hoa Dân Quốc rút quân khỏi Hoàng Sa, và Nhật rút quân khỏi quần đảo này theo Hòa ước San Fransisco 1951. Sau khi Hiệp định Geneva 1954 được ký kết, Pháp rút khỏi Đông Dương, ngày 21/1/1956 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đưa quân chiếm đóng đảo Phú Lâm và Linh Côn.
Năm 1974, nhận thấy thời cơ đã chín muồi, Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực toàn bộ nhóm đảo Trăng Khuyết phía tây nam quần đảo Hoàng Sa. Thời cơ này xuất phát từ tình hình, bối cảnh quốc tế và trong nước.
Đầu thập niên 1970, phong trào phản đối chiến tranh tại Việt Nam diễn ra sôi nổi và rộng khắp trên thế giới khiến Mỹ ngày càng xa lánh Việt Nam Cộng hòa; đặc biệt sau khi ký kết Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, Hoa Kỳ và các lực lượng đồng minh phải rút quân khỏi Việt Nam. Do không muốn tham gia vào một cuộc chiến đã bước vào hồi kết, tháng 6/1973 Lưỡng viện Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật "Case-Church" cấm cơ quan hành pháp nước này tái can thiệp quân sự vào ba nước Đông Dương trừ khi được chấp thuận của Lưỡng viện.
Ngoài ra, Mỹ được cho là có một “toan tính” sâu xa hơn khi không can dự vào trận Hải chiến 1974 vì khi đó, Việt Nam và Trung Quốc đều đi theo con đường Xã hội chủ nghĩa. Việc Washington “làm ngơ” cho Bắc Kinh ngang nhiên chiếm Hoàng Sa sẽ tạo thù địch giữa Hà Nội và Bắc Kinh, dẫn đến chia rẽ giữa các nước cộng sản. Khi người "bảo trợ" đã ra đi, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa rơi vào tình thế đơn độc và bất lợi trong cuộc chiến bảo vệ Hoàng Sa.
Cuộc đụng độ biên giới năm 1969 mang lại cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLA) niềm tin rằng họ có thể chống trả Hồng quân Liên Xô. Từ đó, Trung Quốc bắt đầu thực hiện sáng kiến đối ngoại mới bằng cách thúc đẩy quan hệ hữu nghị với Mỹ, cao trào là chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Richard Nixon tháng 2/1972. Sau chuyến công du đó, Trung Quốc trở thành "đồng minh giai đoạn" của Mỹ để kìm chân và chống lại Liên Xô. Mỹ không muốn quan hệ chiến lược này bị rạn nứt vì vụ Hoàng Sa. Việc lựa chọn giữa "đồng minh cũ" hay "người bạn mới" trong “thời kỳ trăng mật” này không phải là sự lựa chọn khó khăn đối với Mỹ.
Thực tế, trong trận Hải chiến Hoàng Sa chính quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã nhiều lần thông báo tình hình với Đại sứ quán Mỹ nhưng Washington đã không có động thái hỗ trợ nào.
Trên vùng biển Đông ngoài khơi Việt Nam gần với đảo Hải Nam (Trung Quốc) và Hoàng Sa (Việt Nam) thời điểm đó có mặt Hải đoàn 77 (Task Force 77) của Hải quân Mỹ gồm các hàng không mẫu hạm và các chiến hạm yểm trợ. Hải đoàn này đủ khả năng kiểm soát không và hải phận, cũng như hoạt động của các tàu ngầm trong vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, Mỹ đã hoàn toàn đứng ngoài cuộc.
Cũng thời điểm đó, Việt Nam Cộng hòa mới chỉ là quan sát viên mà chưa phải thành viên của Liên Hợp Quốc trong khi Trung Quốc là một trong 5 nước ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an. Vị thế quốc tế của Trung Quốc khiến nước này tự tin rằng, Việt Nam Cộng hòa không có đủ tư cách sử dụng các cơ chế để tự vệ và bảo vệ Hoàng Sa theo các điều khoản của Hiến chương Liên Hợp Quốc.
Ngày 30/1/1974, Lãnh sự quán Mỹ ở Hồng Kông đã báo cáo về Bộ Ngoại giao và Đại sứ quán Mỹ ở các nước liên quan về những tính toán của Trung Quốc trong việc thôn tính quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Cơ quan này nhận định, Trung Quốc đã có ý đồ đánh chiếm Hoàng Sa từ trước.
Theo phân tích của lãnh sự quán Mỹ, quyết định đánh chiếm Hoàng Sa phụ thuộc vào một số yếu tố như tiềm năng về dầu khí tại khu vực, lo ngại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thể đưa ra tuyên bố chủ quyền ở Hoàng Sa cũng như lợi ích chiến lược về lâu dài của quần đảo.
Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng có thể lo sợ việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ không tiếp tục giữ thái độ im lặng trước vấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa. Bằng việc sử dụng vũ lực, Trung Quốc đã tránh tình huống nguy hiểm hơn nhiều sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra tuyên bố chủ quyền về Hoàng Sa. Điều này đã được Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tiến hành sau khi đất nước thống nhất.
Theo nhận định trong các hồ sơ ngoại giao được giải mật, nỗi lo sợ ngày càng lớn của Trung Quốc trước hoạt động của hải quân Liên Xô tại biển Đông và các vùng biển khác ở châu Á có thể là yếu tố dẫn đến quyết định của Trung Quốc. Đây là thời kỳ đỉnh điểm rạn nứt quan hệ Xô - Trung liên quan đến tranh chấp lãnh thổ dọc biên giới hai nước, cũng như các vấn đề Nam Phi, Trung Đông và Đông Dương.
Trong lúc nhiều yếu tố bên ngoài nghiêng về hướng có lợi cho một cuộc chiến chớp nhoáng của Trung Quốc thì bối cảnh trong nước cũng hết sức bất lợi cho Việt Nam Cộng hòa khi Lưỡng viện Mỹ giảm dần viện trợ từ 1,4 tỷ USD năm 1972 xuống 1 tỷ USD năm 1973 và 700 triệu USD vào năm 1974. Quân đội Việt Nam Cộng hòa dần rơi vào thế thụ động vì thiếu nhiên liệu, vũ khí. Bất lợi hơn là ý định “bỏ rơi” miền Nam Việt Nam của Mỹ. Tình trạng phân chia Bắc - Nam cũng là một trở ngại cho phía Việt Nam Cộng hòa trong trận hải chiến 1974.
Lợi dụng bối cảnh đó, Trung Quốc đã không e ngại khi điều động chiến hạm đến cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa.
Trong hai ngày 18 – 19/01, tại Đà Nẵng sẽ diễn ra 4 hoạt động lớn trong chương trình “Hướng về Hoàng Sa” nhằm ghi dấu 40 năm Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Cán bộ, chiến sĩ và nhân dân TP Đà Nẵng luôn ghi nhớ ngày Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Ngày 14/01, Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa, ông Đặng Công Ngữ vừa chính thức ký ban hành kế hoạch phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan tổ chức chương trình “Hướng về Hoàng Sa” nhằm đánh dấu 40 năm ngày quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm trái phép (19/01/1974 - 19/01/2014).
Theo đó, trong khuôn khổ chương trình “Hướng về Hoàng Sa” sẽ có 4 chương trình lớn được tổ chức trong hai ngày 18 và 19/01. Vào tối 18/01, từ 17h đến 21h, tại Công viên Biển Đông sẽ diễn ra chương trình ca nhạc hát về biển, đảo quê hương và thắp nến tri ân do UBND huyện Hoàng Sa chủ trì tổ chức.
Dự kiến sẽ có khoảng 1.000 người là lãnh đạo các cấp của TP Đà Nẵng cùng một số học giả, nhà nghiên cứu, nhà khoa học liên quan và các nhân chứng lịch sử Hoàng Sa, lực vũ trang, lực lượng quần chúng... tham dự chương trình này.
Cùng với các tiết mục ca nhạc hát về về biển, đảo quê hương, trong chương trình này sẽ có diễn văn của Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa về sự kiện ngày 19/01/1974 Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, và đặc biệt là chương trình “Thắp nến tri ân vì chủ quyền biển, đảo”.
Lúc 9h sáng 19/01, tại Bảo tàng Đà Nẵng sẽ khai mạc chương trình triển lãm “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam – Những bằng chứng lịch sử” (kéo dài đến ngày 25/01) do Bộ TT-TT chủ trì tổ chức.
Trong lễ khai mạc chương trình này sẽ có phát biểu của Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa; công bố và trao giải thưởng cuộc thi phương án kiến trúc Nhà Trưng bày Hoàng Sa; triển lãm các tư liệu mới về căn cứ lịch sử - pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Lúc 13h30 chiều 19/01, tại khách sạn Hoàng Sa (quận Sơn Trà, Đà Nẵng) sẽ diễn ra chương trình lớn thứ 3 trong tổng thể chương trình “Hướng về Hoàng Sa”. Đó là cuộc hội thảo quốc gia về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa do Hội Khoa học Lịch sử TP Đà Nẵng chủ trì tổ chức.
Sẽ có khoảng 200 đại biểu là lãnh đạo TP, lãnh đạo các sở, ban, ngành Đà Nẵng; các học giả ở Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng nghiên cứu lịch sử, pháp lý về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa; các hội viên Hội Khoa học Lịch sử TP Đà Nẵng, giảng viên và sinh viên Khoa lịch sử Đại học sư phạm Đà Nẵng, giáo viên và học sinh chuyên sử Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn tham gia cuộc hội thảo này.
Chương trình lớn thứ 4 là cuộc đối thoại trực tiếp trên Đài Phát thanh - Truyền hình Đà Nẵng (DRT) lúc 20h00 tối 19/01 về sự kiện ngày 19/01/1974, do Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng chủ trì tổ chức. 5 vị khách mời tham dự cuộc đối thoại trực tiếp này là ông Đặng Công Ngữ, Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa; ông Bùi Văn Tiếng, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Đà Nẵng; Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã; Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn, Phó Viện trưởng Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng và một nhân chứng lịch sử Hoàng Sa.
Theo ông Lê Phú Nguyện, việc tổ chức chương trình “Hướng về Hoàng Sa” nhằm tạo sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân và dư luận trong nước đối với sự kiện Trung Quốc cưỡng chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào ngày 19/1/1974. Qua đó tuyên truyền nâng cao ý thức đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trong các tầng lớp nhân dân
Người lính Bắc Việt nghĩ gì về trận hải chiến 1974
Hải chiến Hòang Sa diễn ra từ ngày 17 tới 19 tháng Giêng, năm 1974, qua đó, 74 chiến sĩ hải quân VNCH tử trận khi anh dũng bảo vệ Hoàng Sa của VN. Trong khi hiện có nhiều người dân Việt nói lên cảm nghĩ của mình về diễn biến này, thì câu hỏi được nêu lên là người lính bộ đội Miền Bắc dạo nào suy nghĩ gì về người lính Miền Nam đã hy sinh bảo vệ Tổ Quốc ?
Mọi người VN hy sinh bảo vệ đất nước đều phải ghi ơn
Trong thời gian gần đây, nhất là gần tới thời điểm kỷ niệm 40 năm ngày diễn ra trận hải chiến giữa hải quân VNCH và quân TQ xâm lược Hòang Sa của VN, ngày càng có nhiếu ý kiến của người dân Việt trong và ngòai nước bày tỏ lòng cảm phục trước sự hy sinh cao cả của 74 chiến sĩ VNCH khi ra sức bảo vệ Hòang Sa hồi tháng Giêng năm 1974. Đồng thời, công luận cũng ngày càng thắc mắc về tình trạng giới cầm quyền VN, cho tới giờ, vẫn chưa thấy chính thức vinh danh những người con thân yêu ấy của đất nước, điều mà TS sử học Nguyễn Nhã từ Saigòn cảnh báo rằng “ chính phủ VN sẽ để mất thêm một cơ hội hòa giải dân tộc nếu chậm vinh danh những anh hùng tử sĩ VNCH đã bỏ mình để bảo vệ Hòang Sa trước quân xâm lược phương Bắc”.
Trong xu hướng mong đợi của người dân Việt như vậy, thì những cựu chiến binh bộ đội của Hà Nội suy nghĩ như thế nào về 74 chiến sĩ VNCH ấy đã vị quốc vong thân ? Cựu đại tá quân đội Nhân dân VN, nhà văn Phạm Đình Trọng, từ Saìgon, lên tiếng:
“ Những người VN hy sinh để bảo vệ đất đai VN đều là những người con của Tổ Quốc VN, mang dòng máu VN. Tất cả những người đã hy sinh cho đất nước VN đều cao quý và đều là những đứa con yêu của dân tộc VN. Do đó sự hy sinh ấy (của chiến sĩ VNCH) phải được ghi nhận, phải được nhớ ơn
cựu đại tá Phạm Đình Trọng
”Những người VN hy sinh để bảo vệ đất đai VN đều là những người con của Tổ Quốc VN, mang dòng máu VN. Tất cả những người đã hy sinh cho đất nước VN đều cao quý và đều là những đứa con yêu của dân tộc VN. Do đó sự hy sinh ấy (của những chiến sĩ VNCH) phải được ghi nhận, phải được nhớ ơn. Và nhà nước thì phải ghi nhận, phải ghi ơn những người như thế. Nhưng cho tới giờ, nhà nước (VN này) chưa có làm được cái gì khiến mọi người VN thấy băn khoăn, thấy chưa phải đối với sự hy sinh cao cả đó.
Một cựu bộ đội VN đang ở Phú Quốc, ông Hùng, nhận xét như sau:
Rất tiếc vì 2 thể chế chính trị khác nhau. Chứ đến bây giờ, đáng lẽ người ta phải tôn trọng họ, bởi vì họ đã ngã xuống để bảo vệ chủ quyền, lãnh hải, lãnh thổ của VN. Theo quan điểm của tôi thì tất cả những người đó đều đáng được tôn trọng hết. Tất cả những người đó, thuộc quân đội VNCH, đã hy sinh vì đất nước VN, dòng nước biển của VN thì đáng được tôn trọng, dù cho 2 thể chế chính trị khác nhau, nhận thức khác nhau.
Từ Hà Nội, cựu đặc công của bộ đội VN, ông Phan Khang, khẳng định về hành động hy sinh của những người lính hải quân VNCH ấy khiến tòan dân Việt kính nể:
“ Tất cả những người đó, thuộc quân đội VNCH, đã hy sinh vì đất nước VN, dòng nước biển của VN thì đáng được tôn trọng, dù cho 2 thể chế chính trị khác nhau, nhận thức khác nhau
một cựu bộ đội VN
”Những người hải quân đó của VNCH rất đáng khâm phục. Họ là những người đã xả thân vì đất nước, Tổ Quốc - đất nước đây là của chung – để chống xâm lược, thì mình rất kính phục, kính mến họ. Những người như Trung tá Ngụy Văn Thà…đã hy sinh trong tư thế rất dũng cảm. Hành động đó đã làm cho nhân dân, dân tộc ta kính nể.
Theo cựu bộ đội, ông Hùng, vừa nói, thì Hòang Sa và cả Trường Sa đều là lãnh thổ của VN ngày xưa cũng như VN bây giờ. Ông nhấn mạnh rằng hai nhà nước VNCH và Bắc Việt, dù thế nào đi nữa, thì đó cũng là lãnh thổ của VN. Ông Hùng cho biết tiếp:
Các cuộc biểu tình chống Trung Quốc năm 2011 đều có nhắc đến trận hải chiến bảo vệ Hoang Sa năm 1974. danlambao
Chế độ trước (Saigòn) bảo vệ lãnh thổ VN thì chế độ bây giờ cũng phải bảo vệ lãnh thổ VN. Đó là điều bất di bất dịch. Ngày xưa, do ý thức hệ của 2 bên, nhưng người VN đã bảo vệ lãnh thổ của VN, tức là Hòang Sa và Trường Sa. Bất cứ kẻ nào lấn chiếm thì hành động đó là xâm phạm chủ quyền và lãnh thổ của VN. Quân đội cũng là người con của VN để bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền quốc gia VN.
“ ông Phạm Văn Đồng hòan tòan đứng về ý thức hệ CS, ý thức hệ gọi là đấu tranh giai cấp để ủng hộ TQ. Lúc ấy, ông hòan tòan không đứng về phía dân tộc; ông ta không đứng ở tư thế của người VN để nhìn nhận và bảo vệ quyền lợi của đất nước mà ông ta đứng về phía ý thức hệ của CS để ủng hộ ý đồ của Tàu cộng
”Sự mù quáng của ý thức hệ cộng sản
Nhắc đến hành động Bắc Kinh cưỡng chiếm biển đảo của VN, cựu đặc công Phan Khang lưu ý rằng:
Tôi cho là TQ từ xưa nay, cả nghìn năm Bắc thuộc là họ đã thể hiện ý đồ và hành động xâm lược VN rồi. Nhưng mà về phía bằng chứng lịch sử thì họ không thể nào có bằng cớ bằng VN hết. Vấn đề là họ ỷ thế nước lớn để thực hiện mưu tính bá quyền. Cho nên lúc nào họ cũng phát triển mưu đồ xâm lược VN. Thời nào cũng vậy, kể cả thời ông Hồ Chí Minh, họ tìm mọi cách để xâm chiếm, bành trướng. Người Hán thì không phải riêngVN, họ có ý định làm bá chủ cả thế giới.
Theo cựu Đại tá Phạm Đình Trọng thì Phương Bắc chiếm được Hòang Sa của VN bởi vì họ đã triệt để lợi dụng chiến tranh ý thức hệ vào thời điểm diễn ra cuộc “ buôn bán ”, sự mặc cả giữa Mỹ và TQ. Nhà văn Phạm Đình Trọng nhận định rằng nếu như Mỹ không thỏa thuận cho TQ đánh chiếm Hòang Sa thì TQ không thể đánh chiếm được. Nhưng hai siêu cường đã thỏa thuận “đi đêm” với nhau để Mỹ đứng ngòai cuộc. Đại tá Phạm Đình Trọng cho biết tiếp:
TQ thực hiện được âm mưu chiếm Hòang Sa của VN. Đây chính là sự mặc cả, buôn bán nhau giữa 2 nước lớn, và họ đã hy sinh quyền lợi của nước nhỏ là VN. Nếu không có cuộc chiến tranh ý thức hệ thì TQ không khi nào có thể chiếm được Hòang Sa. Công Hàm Phạm Văn Đồng thể hiện rõ nhất cái ý thức hệ đó. Lúc đó, ông Phạm Văn Đồng hòan tòan đứng về ý thức hệ CS, ý thức hệ gọi là đấu tranh giai cấp để ủng hộ TQ. Lúc ấy, ông hòan tòan không đứng về phía dân tộc; ông ta không đứng ở tư thế của người VN để nhìn nhận và bảo vệ quyền lợi của đất nước mà ông ta đứng về phía ý thức hệ của CS để ủng hộ ý đồ của Tàu cộng.
Và, khi nhắc tới cái Công hàm Phạm Văn Đồng, nhà Văn Phạm Đình Trọng không quên nhấn mạnh rằng nó đã phản lại quê hương, dân tộc, mang lại hậu quả vô cùng tai hại cho quyền lợi của dân tộc, cho đất đai của dân tộc. Và điều này cũng thể hiện rõ nhất sự mù quáng của ý thức hệ CS.
Tôi đau buồn nhưng hãnh diện'
Hộ tống hạm HQ-10 Nhựt Tảo
Bà Huỳnh Thị Sinh, góa phụ của ông Ngụy Văn Thà, thuyền trưởng hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ-10, nói với BBC từ Thành phố Hồ Chí Minh rằng mỗi khi có ai nhắc tới trận chiến này, bà đều cảm thấy đau buồn và nhớ tới những kỷ niệm khi chồng bà còn sống.
"Mấy đứa con tôi rất vui mừng vì 40 năm rồi bây giờ người ta mới nhắc nhở đến ba Thà mà sao 40 năm trở về trước không ai nghĩ tới, không ai nhắc nhở gì tới," bà nói và cho biết các con bà 'rất hãnh diện vì ba hy sinh để bảo vệ Tổ quốc như vậy'.
Bà nói sau khi chồng bà tử trận, chính quyền của Việt Nam Cộng hòa khi đó có đến nhà làm lễ truy điệu và cho lãnh trợ cấp ba tháng một lần.
"Nhưng sau ngày 30/4 các anh ấ́y đi hết rồi nên không còn nữa."
'Không được vinh danh''Sau 40 năm chồng tôi mới được nhớ đến'
Quả phụ Ngụy Văn Thà, người tử trận trong trận hải chiến Hoàng Sa, nói chính quyền không hề vinh danh chồng bà.
Bà Sinh mô tả chính quyền hiện nay 'không có hành động gì' để tri ân hay vinh danh sự hy sinh của chồng bà.
Bà nói khoảng thời gian 40 năm cũng làm cho nỗi đau của bà 'phôi pha' phần nào.
"Nhưng trong cái đau buồn tôi cũng hãnh diện vì có một người chồng hy sinh bảo vệ Tổ quốc mà tất cả mọi người ai cũng biết đến," bà nói.
Bà Sinh mô tả chồng bà là một người 'rất hiền lành, các bạn bè đi cùng tàu và bạn bè bên ngoài ai cũng rất thương ổng'.
Bà nói nhân ngày giỗ lần thứ 40 của ông Thà, 'các anh em ở nước ngoài ai cũng tổ chức làm lễ cho chồng tôi để kỷ niệm 40 năm hải chiến Hoàng Sa'.
"Những người ở hải ngoại cũng điện thoại về hỏi thăm tôi và những trí thức ở Hà Nội cũng gọi điện đến thăm hỏi tôi," bà cho biết về kể rằ̀ng bà mới được các trí thức ở Viện nghiên cứu biển đảo Minh Triết mời ra Hà Nội dự lễ kỷ niệm trận hải chiến và được 'chăm lo tử tế lắm'.
"Khi tôi bước vô phòng họp các anh em mừng lắm ai cũng hỏi thăm, bắt tay vồn vã lắm," bà nói.
Hạm trưởng HQ-10 Nhựt Tảo, ông Ngụy Văn Thà
Bà cho biết ngày giỗ của ông Ngụy Văn Thà là ngày 27 tháng Chạp âm lịch tức rơi vào ngày 27/1 năm 2014.
Ông Ngụy Văn Thà sinh năm 1943 tại Trảng Bàng, Tây Ninh.
Ông tốt nghiệp trường Sỹ quan Hải quân Việt Nam Cộng hòa tại Nha Trang, khóa Đệ nhất Song ngư, ngành Chỉ huy vào năm 1964.
Trước khi được giao nhiệm vụ hạm trưởng hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ-10, ông từng làm thuyền phó tuần dương hạm Ngô Quyền HQ-17, thuyền trưởng tuần duyên đỉnh HQ-604 và thuyền trưởng tàu Tầm Sét HQ-331.
Ngày 18/1, hộ tống hạm Nhựt Tảo của ông nhận được lệnh hành quân trực chỉ Hoàng Sa để tăng viện cho HQ-16 Lý Thường Kiệt và HQ-4 Trần Khánh Dư.
Trước khi khởi hành, tàu của ông đã bị hỏng máy chính và radar hải hành.
Trong trận giao chiến ngày 19/1/1974 với tàu chiến của hải quân Trung Quốc, hộ tống hạm Nhựt Tảo của ông bị hai tàu 389 và 396 của Trung Quốc bắn trúng đài chỉ huy, khiến cả ông và thuyền phố Nguyễn Thành Trí bị thương nặng.
Ông Thà sau đó đã ra lệnh cho thủy thủ đoàn rút lui trên bè, riêng ông cùng một số pháo thủ khác tiếp tục ở lại chiến đấu cho đến lúc tử trận.
Sau này, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã truy tặng ông Đệ ngũ Đẳng Bảo quốc huân chương và Anh dũng Bội tinh, cùng với việc truy phong ông lên hàm trung tá hải quân.
From : VN Express, Xa luan ,Thanh Quang,( phóng viên RFA), BBC,.......