Publicité

'Cơ chế' an ninh nào phù hợp cho Việt Nam?
From : Lê Ngọc Thống

Liên minh quân sự của Việt Nam với quốc gia nào đó chỉ vì tự vệ và chỉ khi tự vệ.

Trong quan hệ an ninh quốc phòng giữa hai hay nhiều quốc gia xuất hiện nhiều cách thức mà cơ chế khác nhau như, liên minh; hợp tác, trao đổi đôi bên cùng có lợi…theo hình thức công khai hay là bí mật.

 

Tùy theo sức mạnh, vị thế của các bên tham gia mà có những cơ chế an ninh phù hợp cho từng bên. Chẳng hạn "Liên minh quân sự Mỹ-Philipines", thì với vị trí chiến lược quan trọng của mình, Philipines cho phép Mỹ đặt căn cứ quân sự tại đây và đổi lại Mỹ sẽ bảo vệ Philipines trước ngoại xâm.

 
Hai tàu chấp pháp Trung Quốc chiếc thì phun vòi rồng, chiếc thì đâm húc tàu Kiểm Ngư Việt Nam trên Biển Đông. Hành động "hữu nghị" kiểu đại Hán? 

Tuy nhiên, xung đột quân sự tại khu vực tranh chấp chủ quyền biển đảo thì đến nay ngoại trừ quần đảo Senkaku của Nhật Bản tranh chấp với Trung Quốc thì Mỹ tuyên bố là nó nằm trong cơ chế liên minh quân sự Mỹ-Nhật Bản, nghĩa là Mỹ sẽ trực tiếp tham gia quân sự nếu xung đột xảy ra, còn với Philipines thì chưa nghe Mỹ tuyên bố như vậy.

 

Tất nhiên, đằng sau việc Philipines rộng cửa cho Mỹ vào các vị trí chiến lược của quốc gia gần đây không đơn thuần là chỉ để bảo vệ Philipines bởi vì nguy cơ Philipines bị Trung Quốc tấn công xâm lược là không có, Trung Quốc không cần Philipines, cái mà Trung Quốc cần là các bãi cạn, đảo mà Philipines đang kiểm soát trên quần đảo Trường Sa cơ, cho nên, những điều kiện Philipines muốn gì ở Mỹ thì thỏa thuận đó chỉ có họ biết, là bí mật.

Không chỉ với Mỹ, Philipines còn có mối quan hệ an ninh với Nhật Bản rất thân thiết, Philipines công khai ủng hộ Nhật Bản tái vũ trang, ủng hộ quyền phòng vệ tập thể của Nhật Bản…và chẳng ngạc nhiên khi Nhật Bản quyết định viện trợ cho Philipines 10 tàu tuần tra để đối phó với Trung Quốc, ủng hộ Philipines kiện Trung Quốc.

Như vậy với vai trò trung tâm của Mỹ, một cơ chế an ninh giữa Mỹ-Nhật Bản-Philipines được củng cố và phát triển phù hợp với tình hình mới khi Trung Quốc đang hung hăng trỗi dậy, tạo ra một vành đai mà nếu thêm Việt Nam hoặc Malaysia là bao trọn châu Á-Thái Bình Dương.

 

Với Việt Nam hiện nay về công khai, chúng ta chưa có một cơ chế an ninh chính trị với quốc gia nào trong khu vực. Để xây dựng một chiến lược "hòa bình chủ động" trong tình hình hiện nay thì dứt khoát phải chủ động tham gia vào các cơ chế an ninh khu vực, quốc tế mới có thêm sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Nói "các cơ chế an ninh" vì Việt Nam có nhiều đối tác, không chỉ Nga, Ấn Độ mà còn có Nhật Bản, Philipines, Mỹ…mà qua đó Việt Nam có được những cơ chế an ninh khác nhau, phù hợp với lợi ích quốc gia.

Đừng mơ tưởng khi "có được" một liên minh quân sự với Mỹ thì Mỹ sẽ đánh Trung Quốc để bảo vệ Trường Sa cho Việt Nam, không bao giờ, với lại, Việt Nam cũng không muốn như vậy nếu như có một cơ chế an ninh cho 2 bên. Đành rằng còn quá sớm để bàn đến chuyện liên minh quân sự với Mỹ khi Mỹ vẫn đang cấm vận VKST với Việt Nam nhưng khi tính đến một cơ chế an ninh mà cả 2 cùng thỏa thuận thì đã đến lúc.

 

Trong chiến lược Mỹ, Việt Nam có 2 thứ mà rất có giá trị với Mỹ, đó là, thứ nhất Việt Nam có một vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng trong chiến lược xoay trục sang châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ, đặc biệt là quân cảng Cam Ranh.

Thứ hai là Việt Nam đã, đang thể hiện một ý chí, bản lĩnh, trước sự hung hăng, ngang ngược, bất chấp đạo lý, pháp lý của Trung Quốc, xâm hại đến chủ quyền biển đảo với một tinh thần "thà hy sinh tất cả…". Như vậy, Trung Quốc muốn vượt qua Việt Nam không phải dễ dàng và Mỹ liệu có được lợi gì không khi Trung Quốc sẽ bị sa lầy khi đối đầu với Việt Nam???

Về logic lợi ích thì Trung Quốc chỉ thay vai Mỹ cách đây mấy chục năm về trước mà thôi, có điều, Việt Nam thay vì như ngày xưa chỉ có quyền lựa chọn theo sự áp đặt của Trung Quốc thì ngày nay có rất nhiều sự lựa chọn. Chắc chắn Việt Nam sẽ, đã chọn một cơ chế an ninh nào đó với Mỹ có lợi cho cả hai.

 

Với Nga. Có thể nói hợp tác quốc phòng và dầu khí của Việt Nam-Nga đã rất sâu cho nên một cơ chế an ninh Việt-Nga đã, đang có là bắt buộc, là nhu cầu tất yếu.

Bằng cách nào Nga bảo vệ được lợi ích quốc gia trực tiếp là các dàn dầu khí của mình trên Biển Đông? Bằng cách nào Nga bảo vệ được các hợp tác quốc phòng của mình với Việt Nam tại căn cứ Hải quân Cam Ranh? Nói cách khác, bằng cách nào Nga duy trì được chiến lược ngắn hạn và dài hạn ở châu Á-TBD...?

Trước hết chúng ta hãy để ý một chút về Cam Ranh. Khi nói về vị trí quân sự chiến lược của Việt Nam trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương người ta nghĩ ngay đến Cam Ranh, một vị trí còn độc đắc hơn cà Subic của Philipines. Người Trung Quốc rất sợ điều tồi tệ nhất xảy ra là khi Cam Ranh trở thành căn cứ quân sự của nước ngoài (Nga, Mỹ, Nhật Bản), vì thế họ luôn chỉ trích, lu loa rằng Việt Nam "dùng Cam Ranh làm vũ khí" để chống Trung Quốc…(Cũng không sai, vì ở Việt Nam, "cỏ sẽ biến

thành chông, sông sẽ biến thành sông lửa" để tấn công quân xâm lược thì có lẽ nào một Cam Ranh lại không…gì?).

Cơ chế an ninh nào cho Việt-Nga? Trước hết tại Cam Ranh, Nga được ưu tiên, Việt Nam coi Nga như "người nhà". Và, dĩ nhiên, chắc rằng Việt Nam cần mua loại vũ khí nào của Nga để phục vụ cho chiến thuật, chiến lược…thì Nga cũng không ngần ngại khi bán nó cho "người nhà".

Nếu như ngoài quân đội Nga ra chỉ Việt Nam là có hệ thống tên lửa phòng thủ biển Bastion-P thì chẳng có gì là không thể xảy ra để Việt Nam có một sức mạnh đủ để răn đe những cái đầu hiếu chiến. Vũ khí người Nga tại Việt Nam làm cho Trung Quốc lo ngại nhiều ( chứ vũ khí người Nga tại Trung Quốc người Việt không mấy lo lắng  ? ). 

Việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 sâu trong thềm lục địa Việt Nam tại thời điểm khi Nga bắt tay với Trung Quốc để phá thế bao vây của Mỹ và phương Tây là thử phản ứng của Nga và gây chia rẻ mối quan hệ Nga-Việt, một trong những mục tiêu chính mà Trung Quốc nhắm đến.

Chúng ta để ý, cứ mỗi lần Trung Quốc gây áp lực mạnh với Việt Nam là Hạm đội Nga thăm Việt Nam đến Cam Ranh. Phải chăng đó là biểu hiện của cơ chế an ninh Việt-Nga?

 

Tuy nhiên, vũ khí và ý chí, bản lĩnh, trí tuệ mới chỉ là lực, là chưa đủ mà phải tạo ra thế mới có sức mạnh bền vững, cho nên, dứt khoát chủ động tham gia vào cơ chế an ninh với Nhật Bản, Philipines, Ấn Độ…để tạo thế, trong đó Nhật Bản, Philipines là then chốt.

 
Nếu như một liên minh quân sự Việt Nam-Nhật Bản hình thành thì đó cũng là điều tự nhiên mang tính tất yếu.

Có thể nói tình thế an ninh giữa 3 quốc gia Việt Nam, Nhật Bản và Philipines đã tạo ra những điều kiện cần và đủ để rất dễ xảy ra liên minh quân sự nhất so với khả năng Việt Nam liên minh quân sự với Nga, Mỹ, Ấn.

Điều kiện cần là Trung Quốc đã, đang hung hăng, cậy mạnh, đe dọa sử dụng vũ lực để xâm hại chủ quyền biển đảo cả 3 nước ngày càng leo thang đến nấc thang nguy hiểm.

Điều kiện đủ là cả 3 quốc gia có cùng kẻ thù trực tiếp; Việt Nam không có bất kỳ mâu thuẫn nào về lợi ích với Nhật Bản, với Philipines tuy có tranh chấp nhưng 2 nước đã thống nhất giải quyết bằng biện pháp hòa bình; Việt Nam, Philipines đều án ngữ tuyến hàng hải sống còn của Trung Quốc và Nhật Bản, đồng thời có địa quân sự quan trọng thách thức rất lớn đến tham vọng chiếm trọn Biển Đông của Trung Quốc. Và khi 3 quốc gia này liên thủ thì có tính khả thi cao, có nghĩa là tham vọng của

Trung Quốc sẽ sụp đổ là rất lớn.

Đến đây nhiều người sẽ đặt câu hỏi, vậy thì tại sao không liên minh ngay đi…Đúng vậy, liên minh quân sự Mỹ-Nhật Bản và Mỹ-Philipines đã có trước khi Trung Quốc trỗi dậy và hiện nay trên Biển Đông, Hoa Đông đang rất căng thẳng bởi sự hung hăng ngang ngược của Trung Quốc mà nếu xuất hiện liên minh quân sự Nhật Bản-Việt Nam-Philipines thì liên minh đó được hiểu là để chống Trung Quốc, đối đầu với Trung Quốc.

Trong khi đó, tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Quốc không phản ánh toàn bộ mối quan hệ với Trung Quốc. Bởi vậy sự ra đời một liên minh quân sự là phải cân nhắc đúng thời điểm, nhưng trước đó cần thiết phải có những cơ chế an ninh song phương, đa phương.

 

Trong chơi cờ chỉ có quân xe, quân mã là chiếu tướng trực diện, nghĩa là nó đối diện trực tiếp với tướng mà không có quân cản, còn lối tấn công của quân pháo thì không như vậy. Quân pháo chiếu tướng phải có một quân làm ngòi và điều đặc biệt là quân làm ngòi đó đó bất kể là quân của ai.

Có thể nói trên bàn cờ chiến lược Tây Thái Bình Dương, để đối phó với sự hung hăng thôn tính Biển Đông của Trung Quốc, Việt Nam đang sử dụng lối tấn công của quân pháo để chủ động tham gia vào cơ chế an ninh khu vực nhằm tạo ra một sức mạnh răn đe ngăn ngừa chiến tranh trong chiến lược hòa bình chủ động.

Việt Nam không muốn đối đầu quân sự với Trung Quốc, một cường quốc láng giềng trừ phi phải tự vệ. Vì thế liên minh quân sự của Việt Nam với ai đó cũng chỉ vì tự vệ và chỉ khi tự vệ. Chắc chắn trong chiến lược bảo vệ chủ quyền biển đảo, Việt Nam đủ khả năng để lựa chọn và đủ khôn ngoan để đi những nước cờ có lợi cho quốc gia.

 

 

Các địch thủ làm suy mòn TQ từ trong : dân Tân cương , dân Tây tạng ...

 

  RP_Chine_administrative.png

 

 

 

 

"TQ-Mỹ không thể tránh chiến tranh

Bài viết chỉ ra 10 nhân tố lớn trở thành nguyên nhân Trung-Mỹ có thể bùng phát xung

đột thực sự.
Báo quân đội Trung Quốc dọa nạt khi Nhật-Phi xích lại gần nhau Đâu là lý do thực sự khiến TQ ngang ngược, hung hăng ở Biển Đông?

Trung Quốc hung hăng đối đầu với Nhật Bản trên vùng biển đảo Senkaku .Nhật Bản tăng cường khả năng phòng vệ ở hướng tây nam, ứng phó với mối đe dọa từ Trung Quốc

Đài truyền hình "Nước Nga ngày nay" ngày 26 tháng 6 đưa tin, tình hình địa-chính trị phức tạp trên sân khấu quốc tế làm cho xung đột to lớn giữa phương Đông và phương Tây ngày càng trầm trọng hơn.

Giáo sư Michael Vlachos tin rằng, chiến tranh giữa Mỹ với Trung Quốc, nước có kinh tế và chính trị đang phát triển nhanh chóng, hầu như không thể tránh khỏi.

 

Bài viết phân tích "Lịch sử báo hiệu: khả năng đáng sợ của chiến tranh Mỹ-Trung" của Michael Vlachos đã tiến hành so sánh chính trị, lịch sử giữa hai nước Trung Quốc và Mỹ. Ông cho rằng, quan hệ Trung-Mỹ hiện đại tương tự tình hình Mỹ-Anh vào năm 1861. Khi đó, trong thời gian nội chiến của Mỹ, do sự kiện ngoại giao chặn tàu bắt cóc Đại sứ Anh, đã làm cho hai nước Mỹ-Anh rơi vào bờ vực của xung đột quân sự.

Giáo sư Michael Vlachos cho rằng, khi đó lực lượng của hai bên Mỹ và Anh ở hai bờ Đại Tây Dương đều đã sẵn sàng cho một chiến tranh, nhưng, cuối cùng không khai chiến do vai trò của 10 nhân tố lớn, trong khi đó 10 nhân tố lớn này hiện nay lại trở thành nguyên nhân Trung-Mỹ có thể bùng phát xung đột thực sự. Tình hình cụ thể như sau:

1. Tuyên truyền chiến tranh trên truyền thông. Sự cổ vũ quân sự hiện đại hoàn toàn khác với tình hình truyền thông thế kỷ 19. Hoàn toàn khác với sự trông đợi tập thể đối với chiến tranh của Anh năm 1861, lập trường hiện nay của truyền thông căn bản không đem lại bất cứ khoảng trống lựa chọn nào cho xã hội, truyền thông cũng đã sử dụng các loại "phẩm màu" để mô tả chiến tranh, trong đó có một tiêu chí rõ ràng chắc chắn chính là quân đội Trung Quốc và hạm đội hải quân của họ. 
2. Thiếu nguồn lực. Giống như Anh thế kỷ 19 bị suy yếu bởi chiến tranh Crimea và nổi dậy của thuộc địa Ấn Độ, nguồn lực kinh tế và quân sự của Mỹ hiện nay đã suy kiệt sau các hành động quân sự tại Afghanistan và Iraq. Nếu nói trước đây Anh chỉ phản ứng với mối đe dọa hải quân mang tính giai đoạn, thì hiện nay cơ quan lãnh đạo quân sự Mỹ có thể sẽ căn cứ vào quy mô chiến dịch phòng thủ, đưa ra một kế hoạch thương mại rất đáng khích lệ.

3. Nguyên nhân kinh tế. Giáo sư Vlachos cho rằng, năm 1861 Anh lo ngại mất đi cơ hội xuất khẩu bông vải, trong khi đó thu nhập xuất khẩu bông vải khi đó chiếm tỷ lệ khá lớn trong ngân sách Anh, vì vậy không thể phát động chiến tranh. Còn hiện nay, trong bối cảnh của phát triển kinh tế Mỹ và toàn cầu hóa, sự lo ngại tương tự không còn là “cái phanh” để ngăn chặn nổ ra xung đột quân sự.

4. Hình tượng của kẻ thù chủ yếu. Anh thế kỷ 19 không cần sử dụng vũ lực, hơn nữa không nhất thiết phải sử dụng tất cả thủ đoạn có thể để ứng phó mối đe dọa. Bất kể là Sa Hoàng (Nga) hay sự bất đồng nội bộ của bản thân, trong đó có sự bất đồng tương tự với nguyên nhân nổ ra chiến tranh nam bắc Mỹ, đều không thích hợp với vai trò làm biểu tượng kẻ thù.

Nhưng sau khi Liên xô giải thể, nước Mỹ hiện đại đã mất đi “giấc mơ” chính của mình, đó là chiến thắng kẻ thù nguy hiểm nhất trên thế giới. Loại kẻ thù này lần lượt đại diện là chủ nghĩa phát xít Đức và Liên Xô. Từ thập niên 50 trở đi, bất kể là người Nhật Bản, các phần tử cấp tiến Hồi giáo hay “con gấu Nga” đều đi ngược lại “mong đợi” tiến hành một cuộc chiến tranh quy mô lớn thực sự giữa Mỹ với họ.

 
Trung Quốc hung hăng thể hiện cơ bắp trên Biển Đông

Trung Quốc hiện nay hoàn toàn thích hợp với tất cả tiêu chuẩn “con ác quỷ chính” của Mỹ. Những hình ảnh về binh sĩ Nhật Bản tàn ác, đẫm máu trên đài truyền hình Trung Quốc sẽ chỉ đốt lên ngọn lửa của tuyên truyền quân sự Mỹ.

5. Vũ khí chủ yếu. Nếu nói năm 1861 Hải quân Mỹ đã trang bị chiếc tàu chiến huyền thoại đầu tiên, toàn bộ chế tạo bằng sắt, trang bị 2 pháo nòng trơn cỡ 11 tấc Anh, đánh đâu thắng đó, không có đối thủ, thì các tướng lĩnh Mỹ hiện nay không còn thư thái như vậy, bắt đầu cảm thấy lo ngại về tên lửa đạn đạo tầm trung nhiên liệu rắn Đông Phong-21 của Trung Quốc, loại tên lửa này có uy lực mạnh, hầu như có thể tiêu diệt tàu chiến Mỹ.

Tên lửa Trung Quốc gây ra mối đe dọa cho Mỹ như vậy, buộc quân đội và giới tình báo Mỹ phải tìm cách tránh loại mối đe dọa này, chắc chắn phải tiêu diệt tất cả bộ tư lệnh, cơ quan tình báo, thông tin, thậm chí máy tính của Quân đội Trung Quốc.

Mỹ hiện nay giống Anh trước đây, đầu tư rất nhiều tiền bạc để chế tạo tàu chiến cỡ lớn, tính chất mỏng manh không ngừng gia tăng cùng với sự phát triển của công nghệ. Trong tình hình này, giáo sư Vlachos cho rằng vẫn có ẩn số khi cho rằng Mỹ có khả năng chiến thắng một khi khai chiến với Trung Quốc.

 
Bất chấp luật pháp quốc tế, Trung Quốc xâm lược vùng biển chủ quyền của Việt Nam, khủng bố đâm chìm tàu cá Việt Nam

Trung Quốc hiện nay đã có ưu thế hải quân, hơn nữa còn đang tăng cường nhanh chóng thực lực quân sự. Đồng thời, khả năng chống lại Trung Quốc của Mỹ cũng có xu hướng tăng mạnh.

Trung Quốc tiếp tục khởi động bộ máy truyền thông tuyên truyền, (che đậy những hành động phi pháp - PV) làm cho công chúng cảm thấy tiềm lực của Hải quân Trung Quốc vượt vài lần Mỹ, từ đó làm cho nhiều người dân hơn tự nhiên bị mê hoặc, bắt đầu ủng hộ hành động tăng cường sức mạnh quân sự tự thân của chính phủ.

7. Mỹ suy yếu trong nội chiến có được cơ hội “tạm nghỉ” về địa-chính trị trong thế kỷ 19, không còn tiến hành cạnh tranh kinh tế với Anh, trở thành các khu vực đầu tư mà Anh có thể được lợi. Anh khi đó vẫn duy trì lợi ích địa-chính trị của mình ở các khu vực như Canada, Bermuda, Cuba, Mexico.

Hiện nay Mỹ chỉ trích Trung Quốc đang đánh cắp bí mật quân sự, tham vọng bành trướng biển, dùng tốc độ kinh ngạc để phát triển công nghệ quân sự, chủ động kích thích làm không ngừng leo thang xung đột vũ trang.

8. Sau nội chiến của Mỹ, Anh chuyển sang châu Âu, gây ra xung đột Nga-Thổ Nhĩ Kỳ, chiến tranh Pháp-Đức và phong trào phục hưng Italia. Mỹ hiện nay rời khỏi khu vực Trung Đông, nơi mà họ đã kiểm soát 30 năm, bắt đầu chuyển mình sang hướng châu Á-Thái Bình Dương, nơi có kẻ thù chủ yếu mới là Trung Quốc.

 
9. Mãi đến trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Canada luôn là “sợi dây” uy tín của đế quốc Anh. Năm 1861, Anh kỳ vọng bảo vệ thành công biên giới Mỹ-Canada.

Nhiệm vụ chính khi đó là giảm rủi ro ở Canada, không muốn khai chiến với Mỹ.

Trái lại, các quốc gia châu Á hiện nay là những con hổ giận dữ thực sự, sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào. Trong khi đó, rủi ro thực sự của Mỹ hiện nay không phải là đề phòng những nước này, mà là bản thân có thể buộc phải bị kéo vào xung đột địa-chính trị của những nước này.

10. Anh năm 1861 nếu xâm lược Mỹ có thể sẽ cắt đứt tất cả con đường thống nhất quốc gia của Lincoln. Ngoại trưởng Mỹ khi đó cảnh báo cho rằng, Anh nếu can thiệp sẽ gây ra đại chiến thế giới Mỹ dân tộc Anh và chi nhánh châu Âu. Đối đầu giữa Trung-Mỹ hiện nay quy mô lớn hơn, nguy hiểm hơn, đặc biệt là trong bối cảnh đấu tranh giữa Đông-Tây kéo dài, toàn cầu hóa, chủ nghĩa nhân đạo và trật tự thế giới sụp đổ hoàn toàn.

Năm 1861, Anh và Mỹ nhanh chóng hiểu ra, trong điều kiện khủng hoảng khi đó, chiến tranh nếu có sẽ nhanh chóng khiến hai nước bị hủy diệt hoàn toàn, còn giới tinh hoa Trung-Mỹ hiện nay lại cần cuộc xung đột này, hơn nữa mỗi bên có lý do của họ.

Vì vậy, giáo sư Vlachos đưa ra kết luận gây thất vọng, cho rằng, chiến tranh Trung-Mỹ chỉ là một vấn đề thời gian, bởi vì hiện nay bất kể là Mỹ hay Trung Quốc đều có tương đối nhiều người say mê với quan điểm phát động và thực hiện chiến tranh thực sự .  

 

Chuyên gia Mỹ: Mỹ không nên “trung lập vô tư” ở biển Đông

 Theo các chuyên gia an ninh hàng đầu Mỹ, Mỹ nên đóng vai trò tích cực hơn trong việc bảo trợ cho các đồng minh và ngăn chặn Trung Quốc.
Trung tâm Lợi ích Quốc gia National Interest vừa tổ chức một cuộc tọa đàm thảo luận về những căng thẳng gia tăng gần đây ở biển Đông. Buổi gặp có các chuyên gia:

Ông Abraham Denmark, Phó Chủ tịch Nghiên cứu châu Á Cục Quốc gia của Mỹ, và ông Dan Blumenthal, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu châu Á tại Học viện kinh doanh Mỹ.

 

Theo ý kiến của hai ông, trong vòng một thập kỷ rưỡi qua, Trung Quốc về cơ bản đã thay đổi cách nhận định về chính họ và quyền lực của họ trong khu vực. Ông Blumenthal diễn giải trong cuốn sách gần đây của ông, rằng những việc Trung Quốc đang làm hoàn toàn có thể hiểu được và tương tự như khi Mỹ tìm quyền lãnh thổ ở biển Caribe vào thế kỷ 19 và 20.

Theo ông Denmark, Trung Quốc thừa nhận họ đã không còn yếu kém, và là một sức mạnh đang lên, tăng cường thống trị các nước láng giềng trong khu vực. Có nghĩa là các lãnh đạo Trung Quốc tin rằng họ có thể vượt trội trong mọi cấp độ của một cuộc leo thang xung đột. Vì vậy, Trung Quốc muốn tăng sức mạnh cho những tuyên bố lãnh thổ của họ ở biển Đông, tăng khả năng bảo vệ những tuyên bố đó, và mong giành được những nguồn tài nguyên được cho là đang tiềm tàng trữ lượng khổng lồ

dưới đáy đại dương, thậm chí dù không thể khai thác chúng làm giàu cho kinh tế.

Ông Denmark cho rằng, quân đội Trung Quốc có quyền lực đặc biệt, khiến Trung Quốc tưởng rằng họ mạnh hơn nhiều thực lực. Theo ông, nếu một nước nghĩ rằng họ mạnh hơn thực tế, họ có thể tự sa vào một cuộc xung đột.

Những diễn biến chính ở Trung Quốc, trong chính phủ và xã hội có liên quan mật thiết đến những hành động ngày càng hiếu chiến của Trung Quốc ở biển Đông và ở các nơi khác.

Ông Denmark giải thích rằng những lãnh đạo đảng Cộng sản nhận ra rằng nếu nền kinh tế phát triển vượt bậc của Trung Quốc lụi tàn sẽ gây áp lực lên quyền lực họ nắm giữ. Bởi vậy, họ tìm cách đẩy mạnh tìm cách khơi dậy tinh thần dân tộc do lường trước về một nền kinh tế suy thoái dần.

 

Bàn về cách giải quyết, ngăn chặn xung đột trong khu vực, ông Blumenthal khẳng định rằng, biển Đông là giá trị quốc gia cốt lõi của Mỹ. Ông nhấn mạnh, Mỹ phải bỏ “thái độ trung lập vô tư của mình” về những tranh chấp lãnh thổ và khẳng định truyền thống theo chủ nghĩa dân chủ là phải giải quyết các vấn đề. Ông Denmark đồng ý, tòa án quốc tế là biện pháp hợp pháp duy nhất để giải quyết những vấn đề này. Ông bày tỏ: “Mỗi khi Trung Quốc Trung Quốc lớn tiếng tuyên bố đó là bất hợp pháp, họ càng mất vị thế cạnh tranh (bằng ngoại giao với Mỹ).”

Ông Blumenthal nói rằng Mỹ nên chọn chính sách là bình ổn khu vực biển Đông. Trong khi Trung Quốc muốn bảo vệ hiện trạng khu vực theo ý họ, nếu không, sẽ cố ý tiếp tục nhũng nhiễu ở biển Đông. Và thực tế, họ đang đi ngược lại với các nước khác.

Ông Blumenthal cho hay, Mỹ nên nắm cơ hội thiết lập hệ thống đồng minh ở châu Á ngay bây giờ. Ông đã nghiên cứu cán cân quyền lực không phải là việc đơn phương-hành động. Mỹ nên tận dụng những đồng minh, cũng như khả năng trinh sát, do thám, tình báo của Mỹ với các đồng minh ở châu Á đang có mâu thuẫn với Trung Quốc.

Cả hai chuyên gia đều nhất trí một điểm quan trọng trong những vấn đề bất ổn gây lo ngại: đó là biện pháp ngăn chặn. Ông Denmark nhấn mạnh, Mỹ nên tìm các phương pháp mới để ngăn chặn những hành vi của Trung Quốc bằng sức mạnh phi quân sự và bán quân sự. Ông đề xuất tăng cường dưạ vào các lực lượng vệ binh bờ biển để “đẩy lùi” tình thế một cách cân bằng, nhưng hiện Mỹ vẫn chưa bỏ một cái giá xứng đáng để chống lại Trung Quốc, ông nói thêm.

Tương tự, ông Blumenthal chỉ trích sự thất bại trong việc ngăn chặn căng thẳng ở biển Đông.

Ông Paul Saunders, GĐ điều hành Trung tâm Nghiên cứu châu Á dẫn về hàng loạt cuộc khủng hoảng nổ ra trong cuộc Chiến tranh Lạnh đã không ngăn chặn được cho đến khi đặt ra mục đích thực sự của răn đe trong bối cảnh phải đề phòng một cuộc chiến tranh hạt nhân và cuộc xâm lược của Tây Âu. Ông nói cần phải xem xét kỹ lưỡng hơn về các biện pháp đối với vấn đề căng thẳng hiện tại.

Ông Sauders quan sát tình hình ở biển Đông, và cho biết, rất khó để “đánh” vào những tuyên bố quyết đoán của Trung Quốc về lãnh thổ. Ông cũng cho hay không hề hy vọng sự tiến triển của mối quan hệ cũng như những vấn đề liên quan đến Mỹ-Trung sẽ được cải thiện cho đến khi Mỹ có thể nói với Trung quốc về mục đích của họ ở Hàn Quốc, vũ khí hạt nhân, siêu không gian và những vấn đề quan trọng khác.

 

 

Chiến lược 'Chuỗi ngọc trai' của TQ khiến Ấn Độ bất an ,TQ-Pakistan cực kỳ thân mật cũng làm Ấn Độ hết sức lo lắng.

 

 

Lính Nhật được tham chiến: Mỹ ủng hộ, Trung nổi đóa

 Mỹ đã hoan nghênh sự thay đổi mang tính lịch sử của Nhật Bản nhằm mở rộng vai trò của quân đội, cho phép quân đội tham chiến để bảo vệ các đồng minh.  
“Chúng tôi đã theo dõi và quan tâm tới cuộc thảo luận sâu rộng tại Nhật Bản về vấn đề thực thi quyền phòng vệ của nước này theo Hiến chương Liên hợp quốc”, phó phát ngôn viên Bộ ngoại giao Mỹ Marie Harf cho biết trong cuộc họp báo thường ngày hôm qua.
“Chúng tôi hoan nghênh chính sách mới của chính phủ Nhật liên quan tới quyền phòng vệ tập thể và các vấn đề an ninh có liên quan”.

Sau nhiều tháng tranh cãi và vấp phải sự phản đối của những người chỉ trích, Thủ tướng Nhật Shinzo Abe ngày 1/7 cho biết nội các của ông đã chính thức ủng hộ việc diễn giải lại hiến pháp hòa bình của Nhật, vốn cấm sử dụng vũ lực, ngoại trừ các tình huống rất hạn chế.

Theo việc diễn giải các quy định của hiến pháp, các binh sĩ Nhật giờ đây có thể trợ giúp các đồng minh trong trường hợp bị tấn công.

Bà Harf nói thêm rằng liên minh Mỹ-Nhật là “một trong những mối quan hệ an ninh quan trọng nhất của chúng tôi”.

“Chúng tôi đánh giá cao các nỗ lực của Nhật nhằm tăng cường hợp tác an ninh và duy trì sự minh bạch và cởi mở thông qua quá trình quyết định vốn dẫn tới chính sách mới”, phát ngôn viên Bộ ngoại giao Mỹ nói.

Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Chuck Hagel cũng hoan nghênh quyết định của chính phủ Nhật nhằm cho phép nước này thực thi quyền phòng vệ tập thể.

Trong một tuyên bố đưa ra hôm qua, ông Hagel cho hay chính sách an ninh mới của Nhật sẽ cho phép lực lượng phòng vệ nước này tham gia vào nhiều hoạt động hơn và giúp liên minh Mỹ-Nhật hiệu quả hơn.

Theo ông Hagel, quyết định của Tokyo là một bước quan trọng để Nhật Bản đóng góp nhiều hơn cho hòa bình và an ninh khu vực cũng như toàn cầu.

Bộ trưởng Hagel cho biết thêm, ông mong chờ thảo luận về chính sách mới của Nhật khi người đồng cấp Nhật Itsunori Onodera tới thăm Washington vào tuần tới.

 

Trung Quôc nổi giận

Sự thay đổi quan trọng trên của Tokyo diễn ra trong bối cảnh các căng thẳng khu vực với Trung Quốc đang leo thang vì các tranh chấp biển đảo ở Hoa Đông và Biển Đông.

Tuy nhiên, chính sách mới của Tokyo đã khiến Trung Quốc nổi giận sau khi mối quan hệ giữa hai nước bị tổn hại bởi tranh chấp lãnh thổ, sự nghi kỵ và di sản quá khứ hiếu chiến của Nhật.

“Trung Quốc phản đối Nhật Bản bịa đặt mối đe dọa từ Trung Quốc để thúc đẩy chương trình nghị sự chính trị trong nước”, phát ngôn viên Bộ ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi phát biểu tại một cuộc họp báo ở Bắc Kinh ngày 1/7.

 

Thư ký báo chí của Bộ quốc phòng Mỹ John Kirby ngày 1/7 bác bỏ những chỉ trích từ một số láng giềng của Nhật rằng quyết định mới của Tokyo có thể làm gia tăng căng thẳng trong khu vực.

Ông Kirby cho hay không có lý do gì để tin hoặc lo ngại rằng chính sách mới của Nhật sẽ khiến các căng thẳng xấu đi. Ông này nói thêm, Mỹ cho rằng chính sách mới sẽ giúp củng cố an ninh và sự ổn định trong khu vực

 

 

 

Xem :

 

Sách lược giữ Nước của VN ( nếu Khổng minh Gia cát tái thế ) : ngoài dựa lưng Mỹ, Nhật, Ấn ,... trong Dân chủ Pháp quyền Dân là gốc rễ hậu thuẫn.

 

Trung Quốc dùng chính sách ngoại giao pháo hạm ,nhưng luôn sợ hãi phải đối đầu với nhiều nước ...

 

TQ vs Mỹ : Mỹ không đủ mạnh để kiềm chế phong toả TQ ? Lợi ích quan trọng của Mỹ ở Biển Đông/Hoa Đông đang bị đe dọa’

 

Mỹ tìm cách ngăn ác mộng bá chủ của TQ ... mở rộng lãnh thổ một cách trái phép !?

 

 

Hoa Kỳ cần liên minh quân sự ngăn chặn sự hung hăng của Trung Quốc ... tàu hải quân Mỹ phun vòi vào tàu TQ khiến thủy thủ TQ bị nước xối chỉ còn xà lỏn.

 

 

Tranh chấp trên biển VN-TQ:Chính VN không tự mình kiện thưa ra LHQ, lại đàn áp công dân biểu tình...Quốc tế nào dám ra thế gánh vác lên tiếng để phản đối TQ

 

TQ lo sợ VN và các nước láng giềng kiện ra Tòa án quốc tế , ra Liên Hiệp Quốc ?!

 

Giàn khoan TQ : Trước Thế giới và Pháp lý Quốc tế ,VN lẵng lặng cúi đầu tức là chấp nhận chủ quyền của TQ tại các vùng họ đặt giàn khoan ...

 

 

Không phải chỉ một Tàu kiểm ngư bị đâm tơi tả thôi đâu !Còn dài dài nhiều hơn nữa,cố gắng kềm chế vì "Đai Cục"...cho tới lúc khó tiêu thì xã nó ra !

 

 

From : CityNews , Giao duc ,Tin moi , Dân tri ,..............

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Publicité
Tag(s) : #Dư Luận Chính Trị Thế Giới
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :