Publicité

Việt Nam cần làm gì?
Nguyễn Hưng Quốc VOA -
Trung Quốc đã rút giàn khoan HD-981 trước kỳ hạn (vốn dự trù vào giữa tháng 8). Có nhiều giả thuyết khác nhau được đưa ra để giải thích quyết định của họ: Một, công tác thăm dò của họ đã hoàn tất; hai, sợ bão; ba, để tránh bị đả kích trong cuộc hội nghị Ngoại trưởng thường niên của Điễn đàn An ninh Khu vực ASEAN sắp tới; bốn, để tránh bị chính quyền Việt Nam kiện trước Liên Hiệp Quốc; và, năm, tránh sức ép từ dư luận quốc tế, đặc biệt, tránh việc thúc đẩy Mỹ, Nhật và Úc hình thành một liên minh quân sự vừa để giúp Việt Nam vừa để ngăn chận Trung Quốc bành trướng ở Biển Đông.

Bất kể vì lý do gì, việc Trung Quốc cho rút giàn khoan về nước cũng là việc rất đáng mừng đối với giới lãnh đạo Việt Nam: Họ trút được một gánh nặng rất lớn, không chừng là lớn nhất kể từ sau cuộc chiến tranh ở biên giới Việt Hoa năm 1979. Bởi họ bị áp lực từ nhiều phía:

Với Trung Quốc, chỉ cần một phản ứng hơi quá tay, họ có thể làm bùng nổ chiến tranh, một cuộc chiến tranh chắc chắn họ sẽ thua đậm. Với dân chúng Việt Nam, sự nhượng bộ quá lâu của họ trước sự gây hấn ngang ngược của Trung Quốc sẽ được diễn dịch là một sự đầu hàng, hơn nữa, phản bội. Đó là chưa kể sức ép từ các nước khác, đặc biệt Mỹ và một số quốc gia tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc: Với những nước ấy, sự nhượng bộ hoặc đầu hàng của Việt Nam đều là tai họa đối với quyền lợi của nước họ.

Tránh được gánh nặng ấy, nhưng điều đó không có nghĩa là Việt Nam có thể ung dung hưởng thái bình. Hầu như chắc chắn là Trung Quốc, một lúc nào đó, sẽ mang giàn khoan sang để tiếp tục thăm dò dầu khí trên Biển Đông, ngay trên thềm lục địa Việt Nam. Một phần, đó là mục tiêu chiến lược của họ. Chắc chắn họ sẽ không từ bỏ mục tiêu ấy. Phần khác, quan trọng hơn, họ biết họ sẽ hoàn toàn an toàn khi làm như thế. Họ có thể an tâm một điều: Dù thế giới có phẫn nộ đến mấy, cũng sẽ không có ai động thủ nếu Việt Nam vẫn giữ thái độ im lặng và bất động như vừa rồi. Trong lịch sử chính trị thế giới, không ai đánh giùm không công cho người khác cả. Thời hiện đại lại càng không. Khi Barack Obama vẫn làm tổng thống Mỹ, với chính sách “lãnh đạo từ phía sau” nổi tiếng của ông, chính phủ Mỹ lại càng không có lý do gì để động binh với Trung Quốc giùm cho Việt Nam cả.

Nếu Trung Quốc vẫn tiếp tục mang giàn khoan sang thềm lục địa Việt Nam, họ có lợi gì? Họ có một cái lợi lớn: dần dần hợp pháp hóa chủ quyền của họ trên Biển Đông. Ở Việt Nam, người ta hay nói, trong cuộc tranh giành Biển Đông với Trung Quốc, có hai yếu tố quan trọng: lịch sử và pháp lý. Thật ra, cả hai là một: các bằng chứng lịch sử sẽ trở thành những bằng chứng về pháp lý. Người ta tin là nếu Việt Nam đưa ra nhiều tài liệu cổ, bản đồ cổ trong đó khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam sẽ được xem là có lý hơn. Tuy nhiên, đó chỉ là một ảo tưởng.

Ngoài công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958 thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa, còn một vấn đề khác nữa: cái lý bao giờ cũng thuộc về kẻ mạnh. Hầu như ai cũng biết, mọi phán quyết của tòa án quốc tế đều vô hiệu đối với các nước lớn, cỡ như Trung Quốc. Không có một thế lực quốc tế nào có thể bắt buộc Trung Quốc phải tuân theo một án lệnh kiểu như vậy cả.

Trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ, ngoài yếu tố lịch sử và pháp lý, còn có một yếu tố khác: thói quen. Ngay cả khi tất cả các tài liệu lịch sử đều chứng minh Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam nhưng tàu bè và giàn khoan của Trung Quốc cứ đi lại nhiều lần và Việt Nam không phản đối gì cả, dần dần người ta cũng chấp nhận, dù một cách mặc nhiên, đảo và biển ấy là của Trung Quốc.

Bởi vậy, điều nhà cầm quyền cần làm, và làm thật gấp hiện nay, là chuẩn bị một chiến lược để bảo vệ Trường Sa và Biển Đông. Để có hiệu quả, điều kiện đầu tiên là giới lãnh đạo phải thống nhất với nhau. Trong mấy tháng vừa qua, hầu như tất cả giới quan sát quốc tế đều đồng ý với nhau là ngay cả Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam cũng còn bị phân hoá nặng nề. Thành ra người ta không có một tiếng nói chung nào cả. Người nói thế này người nói thế kia, cuối cùng, thế giới, và cả dân chúng Việt Nam nữa, cũng không biết là họ thực sự muốn gì.

Điều kiện thứ hai là phải gấp rút tạo thế liên minh với bên ngoài. Một mình Việt Nam chắc chắn không phải là đối thủ của Trung Quốc. Nhiều người, để bênh vực cho chính quyền Việt Nam, thường nêu lên trận chiến biên giới Việt Hoa vào năm 1979, lúc Trung Quốc bị thảm bại. Nhưng đó chỉ là nguỵ biện. Trung Quốc bây giờ không phải là Trung Quốc vào năm 1979 và Việt Nam bây giờ cũng không phải là Việt Nam thuở ấy, lúc tinh thần dân quân đều rất cao và kinh nghiệm chiến đấu của bộ đội Việt Nam còn rất dày dạn, hơn hẳn Trung Quốc. Nhiều nhà bình luận quân sự cho vào năm 1979, cả tướng lẫn quân của Trung Quốc đều không quen trận mạc: cuộc chiến tranh cuối cùng, với họ, đã chấm dứt 30 năm trước, lúc Mao Trạch Đông đánh đuổi được Tưởng Giới Thạch ra Đài Loan vào năm 1949. Với quân đội Việt Nam hiện nay, cũng vậy, chiến tranh đã chấm dứt từ 35 năm trước; chỉ có một số tướng lãnh là có chút kinh nghiệm chiến trường, nhưng lúc ấy, họ lại còn quá trẻ, không biết gì về việc chỉ huy các trận đánh lớn. Ngoài ra, trận đánh trên biển khác với các trận đánh trên đất liền. Trên biển, không ai có thể đánh du kích và cũng không ai có thể sử dụng biện pháp dùng biển người để đánh bại đối thủ. Trên biển, chỉ có một yếu tố chính quyết định thắng thua: kỹ thuật. Mà kỹ thuật trên biển của Trung Quốc hiện nay đã bỏ xa Việt Nam cũng như vô số các nước khác.

Cái gọi là liên minh với bên ngoài ấy có hai khả năng:

Một, liên minh với các nước cùng tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc (và có khi, tranh chấp với cả Việt Nam), bao gồm ba nước chính: Malaysia, Philippines và Brunei. Có điều, hầu như ai cũng nhận thấy một liên minh như thế chỉ có thể được dùng để tiến hành đấu tranh với Trung Quốc trên mặt trận pháp lý chứ không phải là bằng quân sự. Về quân sự, cả ba nước hợp lại vẫn không phải là đối thủ của Trung Quốc.

Hai, liên minh với các cường quốc của châu Á - Thái Bình Dương, từ Nhật Bản đến Hàn Quốc và Úc, và sau đó, là Mỹ. Một liên minh như vậy, nếu thành hiện thực, mới thực sự mạnh mẽ và hiệu quả. Tuy nhiên, vấn đề là: Liệu một liên minh lý tưởng như vậy có thể thực hiện được hay không? Nhiều người ở Việt Nam có vẻ tin chắc là được. Thật ra, để có một liên minh quốc tế, người ta cần nhiều điều kiện nhưng quan trọng nhất là phải tìm ra được những điểm chung. Có hai loại điểm chung: quyền lợi và giá trị.

Giữa Việt Nam và Mỹ cũng như các cường quốc trong khu vực và Tây phương có một điểm chung về quyền lợi rất rõ: đó là Biển Đông, một trong những con đường hàng hải tấp nập và quan trọng nhất trên thế giới. Tuy nhiên, các điểm chung về quyền lợi hiếm khi tạo và giữ được liên minh lâu dài. Yếu tố chung quan trọng hơn, nếu không muốn nói là quan trọng nhất, để tạo và duy trì liên minh giữa hai hoặc nhiều quốc gia với nhau chính là những điểm chung trong hệ thống giá trị của các nước.

Việt Nam hiện nay có thể chia sẻ một số quyền lợi với các nước khác, nhưng lại hoàn toàn không chia sẻ các bảng giá trị với Tây phương. Đó chính là trở ngại lớn nhất của Việt Nam trong việc bắt tay với Mỹ hay bất cứ quốc gia tự do nào trên thế giới. Không sẵn sàng vượt qua trở ngại này, đến lần sau, khi Trung Quốc mang giàn khoan trở lại thềm lục địa Việt Nam, Việt Nam cũng chỉ làm được cái điều họ làm vừa rồi: xúi dân mang tàu đánh cá ra chạy lờn vờn và phun nước vào các tàu hải quân và hải giám của Trung Quốc. Không có gì khác.

**************

Cuộc Chiến Phe Cánh Hậu Giàn Khoan

Nguyễn An Dân VNTB

Giữa tháng 7 năm /2014 Trung Quốc chính thức rút giàn khoan HY-981 khỏi khu vực quần đảo Hoàng Sa, chấm dứt một cuộc “dàn quân” và khẩu chiến leo thang có nguy cơ châm ngòi xung đột vũ trang giữa các bên có lợi ích liên quan.

Tuy nhiên, dư chấn của giàn khoan này để lại là không nhỏ. Một cuộc “động đất chính trị” lan tỏa mạnh trong Việt Nam, bắt đầu từ lời tuyên bố được coi là “mạnh mẽ hơn trước đây” của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi nói về ‘tình hữu nghị mơ hồ lệ thuộc” giữa Việt Nam-Trung Quốc và đáp lại là bài viết của báo đảng Trung Quốc khi kêu gọi ‘đứa con hoang đàng Việt Nam hãy trở về”

Theo nhiều luồng dư luận nhận định rằng giàn khoan HY-981 chỉ là mở đầu cho cuộc chiến Mỹ-Trung về ảnh hưởng tại châu Á nói chung và lợi ích địa chính trị tại Biển Đông cùng kênh đào Kra nói riêng của các quốc gia có liên quan. Trước âm mưu đó, quốc gia trực tiếp chịu ảnh hưởng nhất là Việt Nam sẽ thế nào? Phải chăng giàn khoan đã được rút đi nhưng cơn chấn động vẫn còn ở lại, một cơn chấn động chính trị cho nội bộ ban lãnh đạo đảng Cộng Sản VN, tuy ngấm ngầm nhưng ngày càng gay go hơn, từ nay đến Đại Hội đảng 2016. Ai sẽ nắm được quyền chủ động? TBT Nguyễn Phú Trọng hay TT Nguyễn Tấn Dũng?

“Nhóm thân Trung Quốc” ?

Lâu nay giới quan sát chính trị Việt Nam cho rằng có sự ảnh hưởng của Trung Quốc vào chính trị Việt Nam qua hội nghị Thành Đô 1990, trong đó có một số thỏa thuận nay đã được hé ra cho quần chúng biết, như “các vấn đề có thể gây ảnh hưởng cho nhau giữa hai đảng- hai nước mà cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Trung Quốc không đăng thì cơ quan ngôn luận đảng cộng sản Việt Nam không đăng” (1)

Cũng trong thời gian có giàn khoan, website tự công bố là “chính thức của thủ tướng”, trang www.nguyentandung.org, đã đăng tải nhiều thông tin lâu nay là “cấm kỵ”, mang tính công kích đảng, như ‘nếu đảng không dẫn dắt nhân dân khởi kiện Trung Quốc thì còn cần đảng lãnh đạo làm gì nữa”, “ngăn cản khởi kiện là phản bội dân tộc”. (2)

Các quan chức của đảng hiện nay vẫn còn nói rằng đang cân nhắc thời điểm hợp lý để có lợi ích lớn nhất khi kiện. Nhân dân thì không hiểu thế nào hợp lý khi mà Trung Quốc đã nổ súng chiếm Hoàng Sa năm 1974, Gạc Ma ở Trường Sa năm 1988, nhất là trong thời gian diễn ra sự việc giàn khoan, đã có 2 ngư dân chết. Đã 40 năm qua rồi (tính từ 1974) vẫn chưa có thời điểm hợp lý hay sao, dù Trung Quốc đã bắn chết hàng trăm binh sĩ và người dân, cùng xây nhà, sân bay, trường học ở hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa?

Sự nhân nhượng lâu nay của “lực lượng duy nhất có đủ uy tín và sáng suốt để lãnh đạo đất nước“ là Đảng Cộng Sản Việt Nam trước Trung Quốc sau một loạt những diễn biến kể trên khiến người ta có thể tin rằng thông tin nói “một bộ phận trong đảng là thân Trung Quốc và bị Trung quốc chi phối” là có cơ sở ?

Nhóm thân Mỹ ?

Một luồng dư luận khác cũng nhận định rằng các đời Thủ tướng Việt Nam, khởi đi từ thời kì đổi mới năm 1986 đến nay, có xu hướng ngả về Phương Tây và Mỹ, để qua đó kêu gọi sự ủng hộ tài chánh, kỹ thuật, nhằm phát triển đất nước.

Đến thời điểm trước 1986, do theo ý thức hệ cộng sản-XHCN, nên quyền lực của chức danh Tổng Bí Thư là lớn nhất, nên khi đó ở chức danh này có thể huy động sự ủng hộ của các quốc gia XHCN khác như Trung Quốc, Liên Xô và các nước Đông Âu. Khi mà Việt Nam không liên hệ với thế giới tư bản, chức Thủ tướng được đảng dựng ra để quản lý đất nước trong đối nội, chỉ có vai trò khiêm tốn trong thiết chế quyền lực cộng sản thời kỳ bấy giờ.

Sau khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu tan rã, đảng buộc phải thực hiện “đổi mới” , mở cửa bang giao với thế giới tư bản. Theo đó, vai trò của chức danh Thủ tướng dần dần trở nên quan trọng, vì vốn dĩ các quốc gia Châu Âu và Bắc Mỹ giàu có chỉ làm việc với chính phủ, theo đúng truyền thống ngoại giao quốc tế, không làm việc với đảng cầm quyền.

Chức danh thủ tướng Việt Nam từ vai trò “hình nhân thế mạng” ở quá khứ đã dần dần có ưu thế hơn qua việc kiêm lo đối nội lẫn đối ngoại theo quốc tế đòi hỏi. Kết quả là chính phủ có vai trò quan trọng trong việc ban hành chính sách, thương thảo quốc tế, có quyền lực độc lập hơn qua việc huy động được các nguồn hỗ trợ tài chánh bên ngoài từ Mỹ và phương Tây.

Chính vì thế nên sau 1975 đến nay các đời Thủ tướng Việt Nam đều “không yên thân”. Phạm Hùng thì bị chết trong một tai nạn giao thông khi đương chức, Võ Văn Kiệt suýt bị thay thế năm 1990 (vụ Hà Phan), khi về hưu thì bị quản chế, theo dõi, và theo tin đồn, bị “mưu hại” khi muốn lập lại đảng Lao Động. Phan Văn Khải thì than thở với những người thân tín đại ý “chúng nó nắm hết, mình có quyết được gì nhiều đâu”, về hưu khi chưa hết nhiệm kỳ rồi sống tiếp trong im lặng. Mới đây là Nguyễn Tấn Dũng suýt bị kỷ luật vì “điều hành kinh tế yếu kém, phai nhạt lý tưởng và đạo đức cách mạng” theo diễn văn tổng kết tại Hội Nghị Trung Ương 6 của đảng năm 2012 (3). Phải chăng hệ lụy kéo theo do mâu thuẫn này là cái chết của vài ông tướng thứ trưởng an ninh-tình báo của công an Việt Nam trong mấy năm qua nhằm giấu kín các âm mưu thanh trừng này khỏi vỡ lỡ ?

Các sự kiện đã xảy ra như thế đã làm dư luận sinh ra nghi ngờ, không thiếu cơ sở, rằng lâu nay luôn có tranh chấp mạnh mẽ trong đảng về đường lối đối ngoại “theo Trung hay theo Mỹ” giữa 2 nhóm Tổng Bí Thư và nhóm Thủ Tướng, và cao trào nhất là mấy tháng qua. Và phải chăng đại hội 12 của đảng vào năm 2016 sẽ là hiệp đấu quyết định, do đó Trung Quốc thấy cần rút giàn khoan để tạo lại uy thế cho nhóm thân Trung Quốc trong đảng hiện nay?

Trận chiến hai bên

Từ năm 2012 đến nay, người đứng đầu chính phủ nhiều lần phát ngôn “mang tính chống đối bành trướng Trung Quốc”, nhất là từ khi có giàn khoan, còn người đứng đầu đảng là Tổng Bí Thư thì tập trung vào việc chống tham nhũng. Thậm chí ngay khi giàn khoan còn hiện diện, ông Nguyễn Phú Trọng im lặng khá lâu và khi phát ngôn lại thì dù phải chống việc Trng quốc đặt giàn khoan nhưng vẫn luôn cảnh giác phải thận trọng “sai một ly đi một dậm”, vẫn đặt nặng việc bảo vệ đảng, bảo vệ chế độ, cảnh giác âm mưu “diễn biến hòa bình” của “các thế lực thù địch”….

Trong thiết chế một đảng độc quyền lãnh đạo, việc chống tham nhũng trong thực chất thường chỉ là một hình thức thanh trừng nội bộ để củng cố quyền lực hơn là chống tham nhũng thực sự. Việc Tập Cận Bình đang làm với nhóm Chu Vĩnh Khang- Bạc Hy Lai phải chăng sẽ là hình ảnh cuộc chống tham nhũng của Việt Nam trong tương lai gần đến do tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng dẫn dắt để thanh trừng nhóm chống đối phía Thủ tướng?

Và phía Thủ tướng cũng chống tham nhũng để phản công lại. Nếu đảng đem “người được coi là nhóm thủ tướng” là Phạm Thanh Bình ở Vinashin ra xử thì Thủ tướng cũng đem Dương Chí Dũng ở Vinalines ra xử, mà cao trào vụ án này là cái chết của một tướng an ninh lâu nay trung thành với đảng là thượng tướng Phạm Quý Ngọ.

Truyền thông nhà nước nói rằng tướng Ngọ “chết vì bệnh” và sau đó các cơ quan tư pháp Việt Nam tuyên bố khép lại vụ án Vinalines và các lời khai của Dương Chí Dũng về các nhân vật “cao cấp hơn tướng Ngọ”. Tưởng hết chuyện, không ngờ tháng 6 vừa qua, vụ việc lại mở ra lần nữa, qua quyết định kiểm toán lại Vinalines do Đinh La Thăng ký, và tuyên bố của Nguyễn Bá Thanh, trưởng ban nội chính trung ương “các lời khai của Dương Chí Dũng đang được tiếp tục điều tra”, vào tháng 6/2014 vừa qua

Có lẽ ông Nguyễn Bá Thanh, người được coi là cánh tay chống tham nhũng của Tổng bí thư, với tính cách thắng thẳn cùng khát vọng cải cách của mình, đã bất mãn với nhóm thân Trung Quốc đang bị nhân dân coi là “nhu nhược”, nên chuyển qua ủng hộ nhóm Thủ tướng bằng cách mở rộng tiếp điều tra vụ Dương Chí Dũng bỏ trốn. Dương Chí Dũng khai rằng có đưa 500.000 USD cho tướng Ngọ, nhưng nhân dân nghĩ rằng nếu có việc tướng Ngọ thả Dũng, thì không thể vì 500,000 USD đó. Với một Thượng tướng an ninh cao cấp đang ở thế ngôi sao sáng, không thể và không dại gì vì “tham vặt 10 tỷ đồng” mà hủy tiền đồ chính trị đang lên của mình.

Và phải chăng nhóm Thủ tướng lại có cú phản đòn thứ hai và thứ ba vào lúc này khi mà liên tiếp trong hai ngày 21 và 22 tháng 7/2014, Tổng thanh tra chính phủ và Tổng cục cảnh sát tuyên bố vào cuộc điều tra hai vụ đại án. Một vụ lem nhem giải tỏa đền bù ở quận Đống Đa từ năm 2004 (thời kỳ ông Nguyễn Phú Trọng còn là Bí thư thành ủy Hà Nội) và vụ vỡ ống nước 9 lần của Vinaconex, một doanh nghiệp lớn có vốn nhà nước và có nhiều “quan hệ sâu xa” với 2 ủy viên Bộ Chính Trị “được coi là trong nhóm Tổng bí thư”. Đó là Tô Huy Rứa, Trưởng ban tổ chức trung ương, và Phạm Quang Nghị, Bí thư thành ủy Hà Nội đương nhiệm.

Rất đáng chú ý trong cách nhóm chính phủ vào cuộc hai vụ án này, một là phát biểu của ông Nguyễn Hồng Điệp (Trưởng ban tiếp dân Trung ương) “trong hai cuộc thanh tra thì một lần Bộ Xây Dựng phải thu hồi quyết định thanh tra mà không nói rõ lý do. Đặc biệt, hồ sơ vụ việc cho biết, tại lần thanh tra lần thứ nhất từ tháng 7/2007 đến tháng 7/2008, có 4 trong 9 nội dung Thanh tra Bộ Xây dựng không thể tiến hành để đưa ra kết luận vì “thái độ chống đối, thiếu hợp tác của công ty Bảo Long” và “thái độ bao che dung túng của chính quyền các cấp tại địa phương”, và “trong năm nay dù đầu năm không có kế hoạch làm nhưng phải kiên quyết làm ngay”(4).

Cả hai vụ đều có chung một sự lạ nữa, trái với thông lệ, là các ‘đại án ngàn tỷ” thì an ninh có thẩm quyền điều tra, nhưng lần này theo tuyên bố của Thanh tra chính phủ thì là Tổng cục cảnh sát đang điều tra. Phải chăng các vụ này có dính đến các ủy viên Bộ Chính Trị trong nhóm đối lập với Thủ tướng, nên lực lượng an ninh, vốn lâu nay được coi như “thanh kiếm của đảng”, đã bị Thủ tướng cho đứng ngoài cuộc, thay bằng lực lượng cảnh sát?

Tương lai của đảng ?

Trong bối cảnh Việt Nam đang cần cải cách thể chế để vào TPP, một lối thoát quan trọng cho sự trì trệ của nền kinh tế hiện nay, và cần một thỏa thuận liên minh với Mỹ và khối đồng minh lâu đời của Mỹ ở Đông Á nhằm đương cự được với bành trướng Trung Quốc, thì có thể “trận nội chiến” của hai nhóm trong đảng sẽ có kết quả vào hội nghị Trung Ương 10 cuối năm nay. Các đòn thế của hai bên --một đằng là “bỏ phiếu tín nhiệm nếu không đạt là cho nghỉ ngay” mà Tổng bí thư đã tuyên bố, và một đằng là sự vào cuộc ngoài kế hoạch cua nhóm Thủ tướng để tiếp tục làm sáng tỏ 3 vụ án nói trên—phải chăng là những đòn tiến công đưa ra trước khi có Hội Nghị TW 10 là để làm mất uy tín nhau ?

Trong các diễn biến như thế, có một luồng dư luận nhận định rằng có thể Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang lên kế hoạch chuẩn bị nắm chức Tổng bí thư đảng tại đại hội 12 để thực hiện tuyên bố đầu năm “Đảng nắm chắc ngọn cờ dân chủ”. Chỉ có nắm được đảng, với sự hỗ trợ của Mỹ và phương Tây, mới có thể “nắm chắc ngọn cờ dân chủ”và mới có đủ sức đương cự lại bành trướng Bắc Kinh.

Và phải chăng, để vô hiệu hóa kế hoạch này, nên phiá Tổng bí thư đã đi một bước trước. Ngày 23/07/2014 vừa qua, Bí thư thành ủy Hà Nội, người ‘đang được coi là’ ‘tổng bí thư dự bị” vào đại hội 12 năm 2016, đã đi Mỹ và “vận động Mỹ ủng hộ Việt Nam”. Trong khi đó thì Ngoại trưởng Phạm Bình Minh vẫn chưa được đi Mỹ dù đã được Ngoại Trưởng John Kerry của Mỹ mời từ lâu.

Theo truyền thông đưa tin thì ông Phạm Quang Nghị đi theo lời mời của Bộ Ngoại Giao Mỹ. Dường như chuyến đi này không có gì quan trọng cho quan hệ Việt-Mỹ theo các tin tức loan ra. Như vậy phải chăng nhóm thân Trung Quốc trong đảng vận động cho chuyến đi này để thực hiện kế hoạch “một ná hai chim”. Một là chứng tỏ cho dư luận thấy nhóm Tổng bí thư không vì e ngại đánh mất quan hệ với Trung Quốc mà bỏ qua việc vận động Mỹ ủng hộ Việt Nam giữ chủ quyền, hai là “vua kế vị” Phạm Quang Nghị muốn giành bớt ảnh hưởng của “người toan tính tiếm quyền” Nguyễn Tấn Dũng trong thời gian từ đây đến khi đại hội đảng 12 diễn ra ?

Phía Thủ Tướng chẳng thể ngồi yên. Ngoại trưởng Phạm Bình Minh đang đi một vòng các nước Âu châu, và chắc sẽ qua Mỹ trước HNTW 10, khi mà Thủ tướng Dũng đã nắm chắc được đa số phiếu trong Bộ CT.

Trong một diễn biến khác, cũng xảy ra một việc thú vị. Trên tờ Người Đô Thị, tờ báo, theo dư luận, đang được coi là “cơ quan phát ngôn của một xu hướng cải cách chính trị bên trong thành ủy TpHCM”, đã cho đăng một trang truyện tranh sáng tác ngắn, trong đó có lời phát ngôn muốn ‘bỏ búa liềm” và dùng “công cụ” của một nước Viễn Đông xa xôi mang tính trung lập (5). Phải chăng đó là tín hiệu báo ra bên ngoài về một chiến lược cải cách chính trị của Việt Nam trong tương lai khi nhóm thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thắng thế. Mô thức sẽ là “bỏ búa liềm” trong ngắn hạn, trung hạn là mô hình Nga năm 1991 và dài hạn là mô hình một nhà nước dân chủ trong thế trung lập (và chuyên lo kiếm tiền để giàu mạnh) như thông điệp lồng trong nội dung truyện tranh? Một câu truyện bằng tranh thật “táo bạo” trên một tờ báo “lề phải” và trong khuôn khổ của chế độ độc đảng Mác xít-Lêninit hiện nay. Nó có báo hiệu tương lai “bỏ búa liềm”, tự lột xác, của đảng CS hiện nay hay không? Nó có báo hiệu một mùa xuân dân chủ phi Mác xít tại Việt Nam hay không? Những câu hỏi đó chỉ có lời giải đáp khi cuộc “nội chiến” trong đảng chấm dứt, và cần được theo dõi trong những tháng năm tới.

Người ta nói cái đập cánh của một con bướm cũng có khả năng gây ra cơn bão. Chính trường Việt Nam đang có hàng loạt dấu hiệu và hoạt động sóng gió như vậy, e rằng cơn bão tư tưởng, chính trị sẽ còn lớn hơn bão Thần Sấm vừa qua, chỉ là không biết nó thổi về hướng nào, Mỹ hay Trung Quốc?

**************

Giàn khoan HD-981: Diễn biến chính trường VN

Blog Kami (RFA)

Giàn khoan HD-981 rút khỏi lãnh hải Việt nam được phía Trung quốc cho biết là do đã hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng có lẽ việc Trung quốc đưa giàn khoan HD-981 vào vùng biển của Việt nam là một hành động mang tính chiến thuật, với mục đích nhằm ngăn chặn Việt Nam đang có biểu hiện thoát khỏi quỹ đạo của Trung Quốc là điều ít ai nghĩ tới.


Diễn biến chính trường VN
Từ đầu năm 2014, chính trường Việt nam có nhiều dấu hiệu cho thấy phe của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang ở thế thượng phong và có khả năng có thể khuynh loát hệ thống chính trị Việt nam. Một số nguồn tin đáng tin cậy cho biết phe cải cách của ông Nguyễn Tấn Dũng đang được sự ủng hộ của quá bán (9/16) các nhân vật trong Bộ Chính trị, đó là Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng, Lê Hồng Anh, Phùng Quang Thanh, Lê Thanh Hải, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Thị Kim Ngân và Tòng Thị Phóng. Trong khi phe bảo thủ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tỏ ra yếu thế hơn gồm có: Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa, Ngô Văn Dụ, Đinh Thế Huynh, Phạm Quang Nghị, Trần Đại Quang. Riêng ông Trương Tấn Sang vẫn giữ vai trò trung lập, tuy hơi nghiêng về phe cải cách, song ông này chỉ ủng hộ những cải cách về kinh tế. Điều quan trọng hơn cả là phe cải cách của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang nắm đa số các ủy viên trong Ban Chấp hành TW, với bằng chứng là sự thắng lợi của phe này đạt được khi bầu bổ xung hai thành viên Bộ Chính trị trước đó. Đó là ông Nguyễn Thiện Nhân và bà Nguyễn Thị Kim Ngân đã trúng cử thay vì hai ứng viên được coi là nặng ký hơn là ông Nguyễn Bá Thanh - trưởng Ban Nội chính TW và ông Vương Đình Huệ, trưởng Ban Kinh tế TW là những người được cho là thuộc về phe Đảng.


Chính vì thế nên trong thông điệp đầu năm mới 2014 của mình, Thủ tướng Nguyễn Tán Dũng đã không ngại ngần đề cập tới vấn đề cải cách thể chế chính trị, đúng vào ngày Bản Hiến pháp 1992 Sửa đổi năm 2013 chính thức có hiệu lực. Điều đó xảy ra vào lúc chỉ còn chưa đầy 2 năm Đại hội Đảng khóa XII sẽ khai mạc vào đầu năm 2016, đây là lúc các phe phái trong Đảng sẽ thỏa thuận làm cơ sở để chia chác quyền lực. Việc Thủ tướng Dũng sinh năm 1949 đã giữ chức Thủ tướng 2 nhiệm, kỳ theo quy định nếu muốn tại vị thì ông Dũng phải đảm nhận chức vụ mới như Chủ tịch Nước, Chủ tịch Quốc hội hoặc chức vụ Tổng Bí thư. Theo nhận định chung của dư luận, thì một người có tham vọng và có bề dày chính trị như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì việc ông ta đảm nhiệm chức vụ Tổng Bí thư Đảng CSVN khóa 12 sẽ là lựa chọn duy nhất thích hợp để có thể thực hiện việc tiến hành cải cách thể chế chính trị để đưa chính trị Việt nam theo mô hình của Putin ở nước Nga hiện nay.


Tuy nhiên trước đó, sau Đại hội lần thứ XI, khi ấy phe của ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đang mạnh, đó là thời gian sóng gió nhất của Thủ tướng Dũng. Vào thời điểm Hội nghị TW 4, khi trong các đơn vị quân đội có luồng tin đồn cho rằng ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ tiến hành cải cách thể chế chính trị, thay đổi Hiến pháp để biến mình thành một vị Tổng thống. Đây là lý do chính đã khiến Thủ tướng Dũng bị đưa ra kiểm điểm tại HN TW 6 - khóa XI diễn ra vào tháng 10.2012. Khi ấy người ta tưởng ông Thủ tướng sẽ "ngã ngựa", vậy mà như nhờ một phép thần, Thủ tướng Dũng đã vượt qua và đã giành thắng lợi một cách ngoạn mục trong cuộc bỏ phiếu tín nhiệm trong Ban chấp hành TW. Và trái lại người ta đã được chứng kiến sự thất bại của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, khi không dấu được nước mắt trước ống kính truyền hình trong phiên bế mạc. Cũng qua cuộc thử sức này đã cho thấy uy tín trong đảng của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn rất cao và rất khó có thế lực nào có thể hạ bệ được đồng chí trong thời điểm đó và kể cả trong hiện tại.


Đến đầu năm 2014, việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ là người sẽ nắm giữ chức vụ Tổng Bí thư Đảng CSVN đã trở thành việc gàn như không phải bàn cãi. Người ta hy vọng ông Dũng với vai trò Tổng Bí thư Đảng CSVN sẽ là người tiến hành cải cách thể chế chính trị hiện tại để tiến tới chức vụ Tổng thống mới của Việt nam. Như thông điệp đầu năm mới là xây dựng một nhà nước Dân chủ và Nhà nước pháp quyền thượng tôn pháp luật. Rồi những tháng trước Hội nghị TW 9 (tháng 5.2014), một lần nữa tin đồn này lại nóng trở lại, khi ấy ở Việt nam người ta hồ hởi xầm xì cho rằng sắp tới Việt nam sẽ có sự thay đổi thể chế chính trị dưới sự lãnh đạo của ông Nguyễn Tấn Dũng. Lúc đó người ta tin rằng ông Nguyễn Tấn Dũng hoàn toàn có năng lực dùng quân đội, công an để điều khiển, khống chế Trung ương và Bộ Chính trị. Điều đó cho thấy thế mạnh của phe ông Nguyễn Tấn Dũng vào thời điểm trước Hội nghị TW 9 đã đến mức nào?


Nên nhớ, trong trường hợp để Việt nam thoát vòng cương tỏa của Trung quốc và trở thành một mắt xích quan trọng trong vòng vây Trung quốc của Hoa kỳ ở phía Thái Bình dương, đó là trục Nhật bản, Đài loan, Philippines... là điều Bắc kinh sợ nhất. Đây không chỉ là mối đe dọa cho các đối thủ chính trị của Thủ tướng Dũng trong nội bộ ban lãnh đạo của Việt nam, mà còn là mối lo sợ của nước láng giềng Trung quốc trong việc kiểm tỏa chính trị Việt nam. Và tất nhiên ban lãnh đạo Trung quốc hết sức bực tức và nghĩ rằng họ cần phải ra tay để đảo ngược tình thế này, để ngăn chặn không để Việt Nam thoát khỏi quỹ đạo của Trung Quốc.


Lá bài giàn khoan HD-981
Cần phải thừa nhận giấc mộng độc chiếm Biển Đông của chính quyền Trung quốc đã và đang là hiện thực, chỉ trong vài chục năm với chính sách bành trướng lãnh hải theo chiến lược gặm nhấm dân dần đã biến Trung quốc từ một quốc gia hầu như không có chỗ đứng trong Biển Đông, đến nay Trung quốc đã có không ít các đảo, bãi đá ngầm trong khu vực Biển Đông. Điều này dần dần đã giúp Trung quốc không ngừng tăng vị thế trong khu vực có tranh chấp. Cho đến nay, với việc đóng hàng loạt các giàn khoan di động kiểu như HD-981, Trung quốc đã chứng tỏ họ có toàn quyền mang đến hoặc rút đi các giàn khoan này, với mục đich neo đậu và tiến hành công tác thăm dò dầu khí mà hầu như không gặp phải bất kỳ trở ngại nào đáng kể.


Việc Trung Quốc bất ngờ rút giàn khoan trước thời hạn vì giàn khoan đã hoàn tất công việc cần thiết và rất thành công. Theo phía Trng quốc, việc di chuyển giàn khoan là một động thái hoàn toàn mang tính thương mại, được thực hiện trên vùng biển thuộc chủ quyền của nước họ, mà không hề ảnh hưởng đến các quốc gia khác. Điều này khác so với tuyên bố ban đầu của họ là giàn khoan sẽ hoạt động tới ngày 15.8.2014. Trước đó nhiều chuyên gia đánh giá cho rằng việc đưa giàn khoan HD-981 vào Biển Đông là bước khởi đầu trong việc khẳng định chủ quyền của Trung quốc thông qua đường Lưỡi Bò chín đoạn và sở dĩ họ chọn vùng lãnh hải của Việt nam vì Trung quốc đã nắm được tử huyệt của ban lãnh đạo Đảng CSVN thông qua mối bang giao hợp tác chiến lược và toàn diện trong khuôn khổ 4 tốt và 16 chữ vàng. Do vậy việc đưa giàn khoan HD-981 vào vùng lãnh hải của Việt nam chắc chắc sẽ không gặp bất kỳ trở ngại nào đáng kể.


Trong bài viết "Tại sao Trung Quốc rút giàn khoan HD 981 sớm hơn dự kiến" trên tờ The Diplomat mới đây, GS.Carl Thayer chuyên gia phân tích của Học viện quốc phòng Australia cho biết 1 trong 4 lý khiến Trung quốc rút giàn khoan là nhằm "Ngăn chặn Việt Nam thoát khỏi quỹ đạo của Trung Quốc" là một điều đáng quan tâm nhất. Nói cho đúng, cũng theo bài báo trên cho biết: "Vào tháng Năm vừa qua, các nhà ngoại giao tại Bắc Kinh cho biết rằng rằng các quan chức của Công ty Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc lặng lẽ tâm sự rằng ban đầu khi được yêu cầu từ chính quyền để triển khai dàn khoan HD 981 họ đã từ chối, vì cho rằng khu vực thăm dò không phải là một ưu tiên cao vì không có trữ lượng dầu khí đáng kể". Điều đó cộng với tin "Trước khi các hoạt động khoan dò được thực hiện bởi HD 981, Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ đã đưa ra một báo cáo vào năm 2013, kết luận rằng khu vực xung quanh quần đảo Hoàng Sa không có tiềm năng hydrocacbon thông thường đáng kể.". Và "... theo các nhà phân tích an ninh hàng hải có thẩm quyền truy cập vào hình ảnh vệ tinh cho biết những dấu hiệu vào cuối tháng 5.2014 từ HD-981 có thể quan sát được, cho thấy rằng giàn khoan đã phát hiện ra một số hydrocarbon. Các nhà phân tích cũng lưu ý rằng chỉ có khoảng mười phần trăm trữ lượng dầu khí sẽ được phục hồi để sử dụng trong thương mại."


Điều đó cho thấy việc đưa giàn khoan HD-981 vào khu vực Biển Đông của chính quyền Trung quốc là một giải pháp tình thế mang tính "đột xuất" mà hoàn toàn không được chuẩn bị trước và hành động này đơn thuần mang tính chất chính trị chứ hoàn toàn không phục vụ cho mục đích thương mại như phía Trung quốc tuyên bố. Phải chăng các diễn biến chính trị trong nội bộ ban lãnh đạo Đảng CSVN như phân tích ở trên, là lý do quan trọng khiến phía Trung quốc phải ra tay, thông qua việc đưa giàn khoan HD-981 để đảo ngược tình thế vốn đang có những triệu chứng rất bất lợi cho họ?


Sự ứng cứu từ Trung quốc
Trung quốc biết rất rõ rằng rất nhiều người trong Bộ Chính trị Đảng CSVN, kể các các nhân vật đang thuộc về phe "cải cách" của Thủ tướng Dũng cũng rất lo ngại phản ứng của Trung Quốc trước việc nếu Việt nam thúc đẩy quan hệ quân sự với Mỹ và họ sẵn sàng lựa chọn một giải pháp không làm mất lòng Trung quốc để đảm bảo tính an toàn trong sự nghiệp chính trị của họ.


Trong 02 tháng với sự hiện diện của HD-981 trên Biển Đông, ngay lập tức các hoạt động và các lời tuyên bố cứng rắn, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chứng tỏ là một người đang làm chủ cuộc chơi, với hy vọng tạo ra một sự đồng thuận từ trong Bộ Chính trị trong cách đối phó với vụ khủng hoảng giàn khoan trên Biển Đông. Trong lúc phe bảo thủ trong Đảng của TBT Nguyễn Phú Trọng vẫn rất dè dặt, thận trọng để giữ đường lối thân Trung Quốc như từ trước đến nay. Đỉnh cao là phát biểu của ông Nguyễn Tấn Dũng, khi trả lời báo chí ở Philippines, khi cho rằng"Nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”, kể cả việc cho rằng Việt nam sẽ theo gương Philippines khởi kiện Trung quốc đã nhận được sự đồng tình của đa số dân chúng Việt nam.


Nhưng ít ai, kể cả Thủ tướng Dũng lại có thể nghĩ rằng việc biểu thị thái độ chống Trung quốc một cách triệt để như vậy là điều làm hại ông ta và vô tình những cái đó đã trở thành ngòi nổ trong việc tranh cãi gay gắt về quan điểm chống Trung quốc, phương án pháp lý khởi kiện Trung quốc và việc nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ trong Bộ Chính trị. Dù rằng với Thủ tướng Dũng, trở ngại lớn nhất của ông ta là phe bảo thủ thân Trung quốc với sự hậu thuẫn của Trung quốc, nhưng bản thân ông không hình dung được rằng Trung quốc đã dùng chiêu một mũi tên trúng nhiều đích. Họ chấp nhận mất nhiều mất công sức khi sử dụng giàn khoan HD-981 như một con bài tẩy nhằm đảo ngược thế cờ tương quan lực lượng trong ban lãnh đạo Việt nam. Kể cả việc tạo ra các vụ bạo động có tổ chức sau biểu tình ôn hòa ở các khu công nghiệp Bình Dương, Vũng Áng... diễn ra trong sự im lặng đáng ngờ của các lực lượng công an.


Đó cũng là nguyên nhân sự xuất hiện của Ủy viên Quốc vụ viện Dương Khiết Trì trong chuyến thăm Việt nam trong hai ngày 17-18.6.2014. Trong chuyến thăm này với thái độ rất cứng rắn, không dấu vẻ đe dọa Dương Khiết Trì đã lớn tiếng yêu cầu Việt nam phải chấm dứt những hành động quấy rôi và phản đối giàn khoan của Trung Quốc, không được lôi kéo các nước tham dự vào vấn này, không để Mỹ và phương Tây lợi dụng diễn biến hoà bình phá hoại 2 nước. Đồng thời cảnh cáo nếu Việt Nam vi phạm nguyên tắc đó thì Việt Nam sẽ chịu hậu quả. Không những thế, cùng lúc truyền thông Trung Quốc những ngày này đã chỉ trích đích danh Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng vì đã có những phát biểu mạnh mẽ lên án Trung Quốc.


Tất cả những cái đó chứng tỏ đã có một kịch bản có sẵn nhằm gây căng thẳng trong quan hệ Việt - Trung. Điều đó hoàn toàn phù hợp với các phân tích, nhận định trước đó về chuyến thăm Việt nam của Dương Khiết Trì, khi cho rằng với động cơ và mục đích rất thâm hiểm. Đó là nhằm trấn an cho một bộ phận lãnh đạo cấp cao của Việt Nam thân lệ Trung Quốc rằng Trung Quốc luôn đứng sau họ. Với điều kiện họ phải kiềm chế được các phản ứng đối với Trung Quốc từ phía ban lãnh đạo Việt nam. Với mục đích chính để chia rẽ lãnh đạo cấp cao của Việt Nam, vì hơn ai hết Trung Quốc hiểu rất sâu tình hình nội bộ Việt Nam.


Lật ngược thế cờ
Ngay sau đó, chuyến thăm Hoa kỳ chính thức của Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh theo lời mời của Ngoại trưởng Hoa kỳ John Kerry trong lúc vụ việc giàn khoan đang ở hồi căng thẳng đã bị hủy bỏ mà không giải thích lý do. Thay vào đó là chuyến thăm của Bí thư Thành ủy Hà nội Phạm Quang Nghị một nhân vật dược cho là giáo điều và thân Trung quốc với kết quả không hài lòng. Và trong cuộc họp đột xuất của Bộ Chính trị tổ chức sau chuyến thăm của Dương Khiết trì kết thúc, người ta thấy các ông Trương Tấn Sang, Nguyễn Thiện Nhân, Phùng Quang Thanh đã ủng hộ quan điểm của phía Trung quốc. Nghĩa là số người đứng về phía thân Trung quốc tăng lên từ 6 người thành 9 người và số người trong phe cải cách giảm xuống từ 9 người còn 7 người, đáng chú ý là hai Bộ trưởng Quốc phòng và Công an đã không cùng quan điểm với Thủ tướng Dũng. Điều đó có ảnh hưởng nghiêm trọng đến vị thế của ông Thủ tướng trong ban lãnh đạo Đảng CSVN.


Lập tức cán cân lực lượng giữa các phe phái trong Bộ Chính trị đã đảo chiều, đẫn đến Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lập tức đã đứng về phe thiểu số và đang có nguy cơ sẽ bị cô lập trong Bộ Chính trị. Vì đa số thành viên của Bộ Chính trị đều thấy rằng quan điểm chống Trung quốc và thân phương Tây của ông Dũng có thể gây bất ổn và xáo trộn về chính trị, đó là điều hoàn toàn bất lợi cho Đảng và cá nhân họ. Điều này có nghĩa là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang có nguy cơ bị gạt qua một bên trong bộ máy lãnh đạo của Đảng CSVN. Điều này có thể gây ảnh hưởng xấu đến việc Việt nam gia nhập TP, cái mà phe cải cách của Thủ tướng Dũng xem là chìa khóa để đa dạng hóa kinh tế Việt nam, nhằm thoát khỏi sự lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc. Trong lúc những người ủng hộ thỏa hiệp với Trung Quốc vẫn thấy sự cần thiết duy trì vai trò chủ đạo của khu vực Kinh tế nhà nước, cho dù khu vực này trên thực tế đã hoạt động không có hiệu quả. Song họ tin rằng những cải cách và các nhượng bộ của Chính phủ Việt nam do yêu cầu của Mỹ để được tham dự vào TPP là quá lớn, điều đó sẽ ảnh hưởng đến việc kiểm soát nền kinh tế của Nhà nước.


Đây là thành tích triệt hạ đáng kể của phe chống Thủ tướng Dũng, nhằm chặn đứng xu thế cải cách có xu hướng thân phương Tây của phe "cải cách" do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu. Hành động này xảy ra giữa lúc nền kinh tế Việt nam đang lao đao và xã hội đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn, mà TPP là một cứu cánh theo cách nhìn của mọi phía. Song đối với Trung quốc, điều đó trái với chính sách ngăn chặn Việt Nam thoát khỏi quỹ đạo của Trung Quốc của họ


Kết:
Các học giả quốc tế cho rằng "Việt nam sẽ mất trọn Biển Đông nếu như nội bộ ban lãnh đạo của Việt nam không thống nhất được với nhau" và điều đó Trung quốc đã thành công. Có thông tin cho rằng phía Trung quốc đưa giàn khoan HD-981 vào vùng biển của Việt nam tiêu tốn mỗi ngày tốn gần 1 triệu USD, vị chi sau hơn hai tháng họ đã chịu mất số tiền hơn 60 triệu USD. Đến lúc này có lẽ người ta mới hiểu rõ lý do vì sao Bắc kinh đột nhiên đưa giàn khoan HD-981 vào Biển Đông. Đó là với mục đích chính là để lật ngược thế cờ tương quan giữa các phe phái trong nội bộ ban lãnh đạo Đảng CSVN, đồng thời để hỗ trợ cho nhóm thân Trung quốc với hy vọng tiếp tục khống chế Việt nam trong vòng cương tỏa của họ trong thời gian tới. Điều đó cho thấy chỉ mất 60 triệu USD mà lật ngược thế cờ là một cái giá quá rẻ mà Trung quốc phải bỏ ra với một đối thủ quan trọng như Thủ tướng Dũng.

From :

http://www.voatiengviet.com/content/vietnam-can-lam-gi/1966755.html

http://www.ijavn.org/2014/07/cuoc-chien-phe-canh-hau-gian-khoan.html

Publicité
Tag(s) : #Dư Luận Chính Trị VN, #Dư Luận Chính Trị Thế Giới
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :