Publicité

Kinh tế thị trường XHCN: Cuộc đánh tư sản lần cuối, để vô sản hóa người dân!


Dân Việt (Danlambao) - Chủ nghĩa “Cộng sản”: hai chữ CS đã xác định rõ chủ trương chính của chủ thuyết này, là không ai có tài sản riêng, mà tất cả là tài sản chung của cộng đồng xã hội. Tuy nhiên chưa từng thấy một nước CS nào trên thế giới, cho đến ngày tàn, lại thực hiện được một xã hội có tài sản chung để mọi người dân cùng được hưởng, kiểu như khẩu hiệu giả trá họ đưa ra: “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, mà chỉ thấy toàn xã hội nghèo nàn, toàn dân đói rách!


Còn thực tế tại VN hôm nay thì sao, ở đâu ra các “nhà tư sản đỏ” với những tài sản riêng còn lớn hơn tài sản của những nhà tư bản trong các nước tự do trên thế giới? Đó là do đường lối “mới” mà người CSVN đem ra áp dụng, với mục đích “tư sản hóa” cho các đảng viên, cán bộ của họ, từ những của cải lấy ở công quỹ, tài sản của quốc gia, hay lấy từ tay người dân.

I. Kinh tế Thị trường theo định hướng XHCN là gì?:
Đây là một chuỗi từ ngữ hoàn toàn xa lạ, ngộ nghĩnh, phi lý và gượng ép tột cùng, do tài “sáng tạo” siêu vời của đảng CSVN! Trong chế độ CS thì không thể có “kinh tế thị trường”, mà chỉ có kinh tế chỉ huy, theo kế hoạch độc quyền của nhà nước! Chế độ “hợp tác xã”, “tem phiếu”, một mảnh vải, một miếng thịt cũng phải có phiếu mua hàng, cấp phát cho từng người, từng gia đình, đó là kinh tế chỉ huy, tập quyền, đúng bản chất của XHCN, phản ánh đúng với thực trạng xã hội CS.


Vì sao một miếng thịt, mảnh vải cũng phải chờ được phân phối phiếu mua? Là vì khan hiếm! Tại sao khan hiếm? Vì là “cộng sản” tức tài sản chung, “cha chung không ai khóc”! Không ai được có tư sản, không có quyền tư hữu, thì ai chịu khó tăng gia sản xuất mà làm gì, nên hàng hóa mới hiếm hoi, sản phẩm mới thô sơ, và xã hội mới nghèo nàn! Thử hỏi ăn nhiều lắm cũng chỉ ngày 3 bữa, quần áo cũng mấy bộ, nhà ở thì là tài sản chung, nay của mình, mai của người, làm lắm mà chi, sửa sang làm gì? Nhà cửa chung, tiền bạc chung, đồ dùng chung, nếu đúng như chủ trương của CS, vậy thì cố gắng làm, động não nghĩ suy, sáng chế, cật lực lao động, rồi thành quả là của chung mọi người, trong đó ắt có rất nhiều kẻ biếng nhác, ù lì, trì trệ, ngu muội, và cả những kẻ ăn hoang phá hoại, liệu chúng ta có ai ngu dại nai lưng làm cho họ hưởng không? Không ai khùng như vậy cả! Tôi và bạn có thể làm ngày làm đêm, suy nghĩ tìm tòi, phát minh sáng chế, làm bao nhiêu cũng được, làm không ngơi nghỉ cũng ráng, miễn là mình tạo ra được những tài sản riêng: căn nhà riêng vừa ý, tiện nghi cần có, để cuộc sống thoải mái, văn minh, lo tương lai cho con cái, cho gia đình mình. Người có lòng nhân, lòng từ tâm quảng đại, thì còn dùng tài sản của mình (nhớ là của mình), để san sẻ cho người khác, cho những người neo đơn, yếu đau, già cả, trẻ thơ vô tội mà không có ai chăm lo, chứ nhất quyết không dành cho kẻ làm biếng, ăn hoang phá hoại! Đó là tâm tình rất tự nhiên, hợp đạo đức, và là quyền tự do cá nhân, chứ không phải bị ép buộc, phải “cỏng” những kẻ ăn bám phá hại! quyền tư hữu mang tính thiêng liêng như thế, và được cả nhân loại công nhận, tôn trọng, bảo vệ, trừ chủ nghĩa CS hoang đường, và đó là lý do thất bại, không tưởng của CS! Chỉ những kẻ không có cái đầu và thiếu trái tim, mới tin theo và lừa bịp người khác theo mình!


Phải chăng khi chiếm được miền Nam tự do, tư bản, người CS đã không cầm lòng được, không cam chịu số phận “vô sản chuyên chính” với cái nghèo xơ xác của mình trước cảnh người dân miền Nam sống đầy đủ với quyền tư hữu? Phải chăng chờ đợi quá lâu mà người CS không thấy “tài sản chung” đến với mình để được “hưởng theo nhu cầu”, như lý thuyết CS, nên họ phải sớm phản bội lại cái “lý tưởng” viển vông mơ hồ, bằng cách chạy theo tư bản, xoay chiều đổi hướng sang “kinh tế thị trường”, và để đỡ bệ rạc vì tự nhận mình sai, nên chêm vào câu “theo định hướng XHCN” cho đỡ bẽ mặt với người dân và thế giới?


II. Kinh tế thị trường XHCN: Cuộc đánh tư sản cuối cùng của CS:
Phải công nhận rằng, do ma đưa lối quỷ dẫn đường, nên cái KTTT theo định hướng XHCN này đã đạt được cùng lúc 2 mục tiêu: Vô sản hóa toàn diện người dân, và hữu sản hóa toàn diện các cán bộ CS cũng như bọn ăn theo. Kết quả là dân phá sản, cán bộ giàu hơn cả những doanh nhân tài ba và thành công nhất trong chế độ tư bản tự do.


A. Tiến trình của cuộc đánh tư sản lần cuối: Đầu tiên, nhà nước CSVN cho “mở của” làm ăn buôn bán, cả người dân và cán bộ. Nhưng người dân thì vốn hạn hữu, trong khi cán bộ thì nguồn vốn vô hạn, vì đó là tiền trong ngân sách quốc gia, do người dân đóng thuế, và cả tiền cướp tài sản, đất đai của dân hay chiếm đoạt công sản nhờ quyền hành.


- Về phía người dân: Khi thấy nhà nước mở cửa cho làm ăn kinh doanh, người dân thiếu kinh nghiệm về CS, nhất là dân miền Nam, nên đã vội bỏ tất cả tài sản, vốn liếng dành dụm còn sót lại, để mở công ty, xí nghiệp, đầu tư kinh doanh. Mà đã bước vào rồi, thì đâm lao phải theo lao, hết vốn tự có, người có thân nhân ở nước ngoài còn huy động cả vốn liếng của thân nhân cho việc phát triển kinh doanh, vì thấy ban đầu làm ăn quá dễ. Không những thế, trên thương trường còn phải cạnh tranh nên cần phát triển thêm lên, thêm lên, và cuối cùng thì đi vay ngân hàng, vì lãi suất ban đầu còn thấp, thu nhập lại cao. Theo kế hoạch mafia đã vạch sẵn, các ngân hàng cho vay thoải mái, vay bao nhiêu cũng được, miễn có tài sản thế chấp, mà phải là tài sản thật của mình, chứ không như các cán bộ dùng tài sản là đất công được cấp hay chiếm. Thòng lọng đã được đưa vào cổ, thế là đến lúc siết, lãi suất tăng dần, tăng dần, từ 0,5 đến 0,8% một tháng, bỗng tăng lên 1,5%, rồi 2,2% hay hơn, trong khi kinh tế đi xuống ào ạt, thu nhập không thể đủ trả lãi ngân hàng, chưa kể tiền mặt bằng, trang bị phương tiện làm ăn, tiền thuế, điện, nhân công... thế là vốn không trả được, lãi cũng không! Lãi nọ chồng lại kia, mất nhà, mất hết tài sản, đi tù hay tự vẫn, gia đình tan nát! Đó là số phận của người dân kinh doanh. Hàng trăm ngàn công ty, doanh nghiệp tư nhân bị phá sản mỗi năm, mà đã từ vài ba năm nay. Đây là lần đánh tư sản cuối cùng, thu tóm toàn bộ tài sản của người dân cho nhà nước, mà không cần đổi tiền (tiền còn đâu mà đổi?), không cần “kiểm kê” tài sản, doanh nghiệp cứ im lìm, âm thầm mà chết, không kèn trống, không báo tử! Chúng tôi từng chứng kiến những nhà kinh doanh, những đại gia lên hơn cả diều, với hàng chục cơ sở làm ăn, xe hơi, biệt thự loại sang không thiếu, con cái đi du học tự túc, tiêu sài tiền bạc nhiều như rác, nhưng bỗng gần đây mọi thứ đều bay biến nhanh chóng, đến nỗi một nơi ở không có, hai vợ chồng phải thuê một chái nhà để bán cà phê cóc sống qua ngày, xe gắn máy không có, phải đi bằng xe đạp! Đấy vẫn còn hạnh phúc hơn nhiều người, bị phá sản rồi cũng tan nát gia đình mỗi người một phương, mạnh con thì con sống, mạnh cha cha làm, hay vợ trở thành vợ người khác, và thậm chí nhiều đại gia bị vỡ nợ, tù đầy, tự vẫn vì những trường hợp oái oăm: bạn bè hay thân nhân cho mượn nhà để thế chấp ngân hàng, nhà bị ngân hàng lấy, không còn biết xoay trở cách nào, bèn tìm cái chết để trốn lánh!


- Về phía tư bản và đại gia “đỏ”: Ta tạm phân biệt “tư bản đỏ” và “đại gia đỏ”, (có thể chúng tôi không rành rẽ những từ ngữ thuộc lãnh vực kinh tế học, nhưng xin hãy tạm hiểu như chúng tôi, ít là trong bài này): Tư bản đỏ dành cho các cấp chính quyền CS, tiền từ quyền mà có. Còn đại gia đỏ là những kẻ “ăn theo”, là thân nhân, kẻ có liên hệ xa gần với các quan chức nhà nước, họ không có chức quyền, chỉ do quen biết hay phục vụ cho kẻ có quyền mà có cơ hội hái ra tiền. Cả hai loại “đỏ” này, đều có cùng chung một đặc tính: đó là xuất thân từ “vô sản chuyên chính”, và có “máu lạnh”! Nếu thiếu hai yếu tố căn bản này, sẽ không thể làm giàu bằng của bất lương, cũng như không gọi là đỏ! Hai loại này được “hữu sản hóa” bằng cách “vô sản hóa” người dân, vơ vét của đất nước, nó càng giàu thì dân, nước càng nghèo!


B- Sự hình thành của 2 loại tư sản đỏ: Họ thuộc nhiều nguồn gốc, nhưng cùng chung một điểm xuất phát: vốn họ là thành phần “chuyên chính vô sản”, hay nói rõ ra là khố rách áo ôm, nhờ “cơ may” mà giàu, nhưng nhất là phải thuộc loại “nghèo lương tâm, cạn đạo đức”, thì mới có thể trở thành tư bản và đại gia đỏ, vì tiền của, tài sản của họ thường là do của ăn cướp, bóc lột, tham nhũng, mà có lương tâm đạo đức thì sao làm ăn cướp được? Họ có cơ may, đúng! Họ là con ông cháu cha, hay con rơi con rớt của các đảng viên CS kỳ cựu, rồi nay được đưa vào chức này quyền nọ. Có quyền là có tiền, quyền càng lớn, tiền càng nhiều, bao nhiêu cũng có, từ trong công quỹ hay trong tham nhũng, chiếm đất bán thành tiền. Cán bộ lớn nhỏ đều phần lớn tài sản từ cướp đất mà có.


- Họ từ dân “vô sản chuyên chính”: vì họ đều không có tài sản cha ông để lại, đi theo “cách mạng” thì làm sao có tiền? Họ cũng chẳng có nghề ngỗng hay tài cán gì để làm ra tiền, vì có học hành gì đâu mà có tài, có nghề?


- Họ thuộc loại máu lạnh và vô nhân đạo: vì khi hành nghề cướp của, giết người để trở nên giàu, tức nhiên họ gây ra đau khổ, chết chóc cho người dân bị hại. Họ phải có máu lạnh, phải vô cảm, không có lương tâm thì họ mới “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” lên tư bản đỏ. Họ sống vinh vang trên cái chết, sự tang thương của nạn nhân mà không hề thấy áy náy, sợ hãi! Họ đi đủ loại xe hơi, máy bay sang trọng, trong khi nhìn thấy những trẻ nhỏ và thày cô giáo của chúng phải bỏ áo quần mà lội qua sông nước chảy cuồn cuộn, kéo theo những chiếc bao ni lông quấn chặt, trong đó có những đứa học trò nhỏ cố nín hơi đến ngộp thở để được đến trường! Họ lạnh lùng nhìn những quan tài diễu phố với hàng trăm, hàng ngàn người dân uất ức tháp tùng những thân nhân khổ đau của người bị công an, côn đồ giết chết khi bị bắt vào đồn CA, và bị hành hung cho đến chết. Họ ngó lơ như không thấy bà lão dân oan đi kiện vì bị mất đất, nằm co chết bên đường, những trẻ nhỏ sống bờ bụi vì không nhà, và những người yêu nước bị đánh, bị bóp cổ ngay ngoài đường phố, những cảnh người dân chết, hay bị trôi hết nhà cửa vì thủy điện của “đại gia” xả lũ. Họ bịt tai nhắm mắt khi người ngư dân bị bọn xâm lăng TC bắt tàu, cướp của, đánh người và mang đi. Họ ngó lơ và trơ mặt trước những đoàn dân oan bị chiếm đất biểu tình chửi thẳng vào mặt họ! Và sau cùng, họ bán nước cầu vinh, làm tay sai cho côn đồ Tàu cộng để đưa dân vào vòng nô lệ, miễn đảng còn, ghế còn! Đó là thành phần “tư bản đỏ”, thuộc trung ương đảng, bộ chính trị, các bí thư, chủ tịch tỉnh, các cấp chính quyền hạng bự và hậu duệ CS.


Còn “đại gia đỏ” thì không cần gốc gác lớn, chỉ cần cơ may. Loại này cũng rất nhiều, và đục khoét đất nước cũng dữ! Tuy không gốc gác, đảng tịch, hoặc có cho vui vậy, nhưng nhiều khi tiền của cũng không thiếu, và lạ lùng thay, có khi uy lực của họ còn bao trùm trên cả các cán bộ, các “ông to bà lớn”, dù không chức tước gì! Uy lực họ có là do đồng tiền, do bảo kê, làm tay sai cho các ông to bà lớn, mà có khi bí thư tỉnh, chủ tịch tỉnh còn kiêng nể và phục vụ hết mình.


Một ví dụ cụ thể: “Dũng lò vôi” đại gia ở tỉnh Bình Dương, xuất thân là một tay không học, không nghề nghiệp, làm lao động trong các lò nung vôi ở Bình Dương. Nghe rằng một dịp may y được gặp gỡ làm quen với Nguyễn Tấn Dũng và được đắc ý thủ tướng, rồi một lời hứa ban ra, “Dũng lò vôi” bây giờ là đại gia số 1 ở Bình Dương! Phú quý sinh... văn hóa, nay y là chủ của một khu du lịch mang tên là “Đại Nam Quốc Tự”. Không phải là tài sản hay di tích quốc gia, nhưng mà là “cuốc tự”(!), ở trong đó có một thứ văn hóa và tôn giáo hổ lốn, thần phật và loài ác quỷ cùng người trần tục chung bàn... thờ: Phật, bác Hồ, và... tổ tiên của chủ nhân “Dũng lò vôi”! Tín đồ là bọn vô văn hóa, vô tôn giáo, vô đạo đức và nhố nhăng! Có lẽ chủ nhân của nó, và cả các “lãnh đạo quốc gia” hiện tại cũng chưa thấu hiểu chữ “quốc tự” là gì! Dũng lò vôi đã từng tổ chức linh đình lễ “tế sống” mừng thọ mẹ y, có kiệu hoa sơn son thếp vàng, có kèn trống inh ỏi, con cháu mão áo sì sụp lạy, có cả bài diễn văn tôn vinh “vợ hiền”, và tiếp sau đó là y chính thức đưa vợ nhỏ về, rồi đe dọa “mẫu thân và hiền thê” nếu muốn được sống thì phải để yên cho hắn, nếu “quậy” hắn thì hắn cho chết! Lại có cả lễ “truyền ngôi thái tử” cho thằng con của hắn và vợ lẽ, được tôn làm “chủ tịch hội đồng quản trị công ty”, nhân dịp “đại lễ thôi nôi” của chủ tịch... bú bình! Còn bố mẹ chủ tịch thì làm “giám đốc điều hành”, dưới sự lãnh đạo của quý tử 1 năm tuổi! Sự kiện lạ này chỉ ở VN mới có! Đúng là “có tiền thành điên thành dại”!


Đại gia thứ hai tại Bình Thuận, là “thằng Rạng Đông”. Chúng tôi phải “bê nguyên cục” cái danh vị đó vào, là vì dân chúng và cả cán bộ trong tỉnh quen gọi thế! “Thằng Rạng Đông” là chúa trùm tại tỉnh Bình Thuận, Phan Thiết, danh nổi... hơn cồn mà ai ai cũng biết! Hễ nghe đến tên “Rạng Đông” là cả từ ông to bà lớn đến quan quân tỉnh Bình Thuận đều khiêm cung kính cẩn. “Rạng Đông” cũng xuất thân từ một anh tài xế xe ủi đất, dần dà y mua được một xe, rồi nhiều xe ủi, và giả từ nghề làm thuê để lên làm chủ. Y thường được “các cấp lãnh đạo tỉnh” nhờ đi san lấp mặt bằng, không trả công bằng tiền nhưng bằng đất. Cứ làm được một công trình ban ủi thì muốn đất nào có đất đó. Rạng Đông đang sẵn có đồ nghề trong tay, san lấp, lập dự án, phân lô và bán, tiền vô như nước, uy danh cùng mình! Cứ thế, Rạng Đông bây giờ là thân nhân, ân nhân và là “qưới nhân” đầy quyền uy trên toàn tỉnh, muốn gì có nấy, cán chết người khỏi cần đền mạng, đã có “nhà nước lo”! Vì thế mà hễ nhìn thấy xe hủ lô Rạng Đông đi trên đường phố, thì dân chúng lo chạy trốn xanh mặt, vì họ đã nhiều lần chứng kiến cảnh tài xế của Rạng Đông đụng phải người ngã ra trên đường, nó không “phóng đi mất dạng” để chạy trốn như những kẻ “hèn yếu” khác, mà nó de lại, cán hẳn trên người nạn nhân cho đến chết, chết thật sự để khỏi “nuôi báo cô” suốt đời, rồi bình thản lái xe về nhà, và gia đình của nạn nhân sẽ được nhận tiền “chia buồn, an ủi” mấy chục triệu hay một vài trăm triệu tùy theo, số tiền dư thừa bỏ đi của ông chủ Rạng Đông, nhận hay về không tùy ý nạn nhân! Hung thần Rạng Đông của BT-PT khiến mọi người nghe đến là rùng mình! Bây giờ chỉ cần Rạng Đông muốn gì, thì “lãnh đạo” sẽ đáp ứng liền. Tiền bạc, đất đai, nhà cửa, thậm chí chân dài, vợ hờ Rạng Đông dư thừa, chỉ nghe đâu như Rạng Đông bây giờ suy kiệt sức lực, bệnh hoạn đủ thứ, thì “tỉnh” chưa đáp ứng được! Có lẽ hắn đã xây rất nhiều “lâu đài” ở địa ngục, chờ ngày dọn về ở!


Ngoài những thành phần gặp “hên” mà thành đại gia đỏ như trên, thì còn rất nhiều những dây mơ rễ má họ hàng hang hốc dính líu đến các “cán lớn cán bự”, được “ăn theo” mà trở thành tư sản đỏ. Tài sản của nhóm ăn theo này do từ “đặc quyền đặc lợi” mà có: được nắm nền kinh tế, được độc quyền kinh doanh khai thác, từ ngân hàng đến xuất nhập khẩu, nhưng thông thường và nhiều nhất là từ đất đai, tài nguyên thiên nhiên của đất nước mà biến thành, điển hình như chị em nhà Lê Thanh Hải với bao la đất đai ở khắp nơi, từ đất công thành đất tư, từ của dân thành của mình, và rất nhiều trường hợp tương tự! Hoặc như hoàng Anh Gia Lai thì ăn rừng ăn gỗ, hết trong nước đến làm càn sang cả Cam Bốt, Lào... khiến dân các xứ này họ muốn nắm đầu vặt lông vì tội ăn cướp! Kẻ khác thì khai thác khoáng sản: than, bô xít, titan, vàng, mặc cho đất nước tan hoang, môi trường bị ô nhiễm, người dân không còn đất để sống!


- Một ví dụ điển hình của kế hoạch “hữu sản hóa” cho phe nhóm vô sản, mà chúng tôi được nghe từ một người thông hiểu trong chính quyền, là biến đất thành tiền, qua các tiến trình rất bài bản như sau: quan bự cấp cho kẻ thân thích hay đàn em một khu đất công hay đi chiếm đoạt “giải tỏa” của dân. Thực hiện xong, ví dụ mảnh đất có giá trị thật là 100 triệu, kẻ có đất sẽ được giới thiệu đến một ngân hàng để “vay vốn đầu tư”. Kẻ cấp phát là kẻ có thế lực, sẽ nâng giá trị lên thành 600 triệu, nguyên tắc là được vay tối đa 2/3 trị giá, tức được vay 400 triệu. Cầm tiền vay, chủ đất sẽ trả ngay 100 triệu cho kẻ “cấp đất”, còn lại 300 triệu, kẻ đó sẽ bỏ chi phí kể cả ăn nhậu, khoảng tối đa 100 triệu để dàn cảnh đầu tư vào “cơ sở hạ tầng” như san ủi, phân lô, lập dự án... Số tiền còn lại là 200 triệu, đó là phần thuộc trọn về mình, tay vô sản đã được “hữu sản hóa”! Miếng đất kia vẫn còn đó, với trị giá thật là 100 triệu, tên “tư bản mới” chẳng cần quan tâm đến nó, bán hay không đâu quan trọng, mà y cũng chẳng hơi đâu tha thiết làm ăn cho mệt, để thì giờ công sức đi ăn hưởng. Tùy theo sự quen nhiều, gốc bự, thì kẻ đó có thể được tái diễn nhiều lần như thế mà thành đại gia! Khi đất đai đóng băng, tụt giá, không bán buôn gì được, ngân hàng đòi tiền lãi hắn kêu không tiền, cuối cùng ngân hàng đành thu đất, hắn cho thu thoải mái, và ngân hàng... lãnh đủ! Vì cho mượn 400, mà đất thật chỉ 100, cũng đành phải xong, ngân hàng mặc sức thua lỗ, có chết ai đâu, tiền của nhà nước, chính xác là của dân, có mất cũng kệ. Kẻ cấp đất thì ăn không 100, tên chủ đất thì ăn không 200, nhiều lần tương tự, nghiễm nhiên từ vô sản thành hữu sản, cuối cùng ngân quỹ thủng, lạm phát tăng, tạo nên cái gọi là “khủng hoảng tín dụng bất động sản”! Nói thế không sai, vì nếu là nợ của tư nhân thì ngân hàng nhà nước đã chịt cổ thu lại hết cả vốn lẫn lãi! Tất cả đổ lên đầu dân chịu chứ ai! Một ví dụ điển hình như thế để biết đất nước nghèo vì đâu, kinh tế kiệt quệ vì ai!


III. Kết quả “mỹ mãn” của nền Kinh tế Thị trường định hướng XHCN:


Sau thời gian hàng chục năm áp dụng, kết quả của nền KTTT định hướng XHCN đã đạt được thật “mỹ mãn”, ngoài sức tưởng tượng của chính nhà nước CS: Nền kinh tế nát tan, dân đói nghèo cùng cực, xã hội suy đồi tới đáy, và tạo ra một tầng lớp “vô sản chuyên chính” thực sự: không cơm ăn áo mặc, không nghề nghiệp, số lượng mỗi ngày mỗi tăng tràn lan khắp nước, nợ quốc gia chất đống. Theo các chuyên gia kinh tế thì trung bình mỗi “công dân” từ người sắp xuống lỗ cho đến trẻ vừa lọt lòng mẹ, nghiễm nhiên mang trên người một món “nợ bẩm sinh” chỉ ngàn đô la Mỹ thôi! Trộm cướp tràn lan không kiểm soát nổi, vì bần cùng thì sinh đạo tặc: thiên đường XHCN đã hình thành trên nền tảng vô sản! Nhưng đổi lại, nổi lên một giai cấp tư sản đỏ giàu tiền của và cả giàu quyền lực, muốn gì có nấy, muốn bắt tù ai, giết ai tùy ý, và bất khả xâm phạm, mà trên thế giới không đâu có, khó đâu bì!

*************

Càng “định hướng” càng “chệch đường”


Phạm Trần (Danlambao) - Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) từ Trung ương xuống Cơ sở đã bị “tê liệt thần kinh” bởi hai vi khuẩn “kiên định” và “định hướng” nên đất nước và người dân càng ngày càng lạc hậu, chậm tiến mà Đảng là “lực cản” thì cứ “ì ra” trước nguy cơ Bắc thuộc thêm lần nữa.

Trước hết là chuyện tiếp tục kiện định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh đã phá sản để hão huyền xây dựng đất nước “quá độ lên xã hội chủ nghĩa”.


Ai cũng biết thế giới Cộng sản không còn từ khi Liên bang Xô viết chính thức tan rã năm 1991, tiếp theo sau hàng loạt các chính phủ Cộng sản Đông Âu bị nhân dân nổi lên lật đổ. Ngay tại nước Nga, nơi ra đời của Đế quốc Cộng sản để lãnh đạo một nửa Thế giới được ngụy danh là “khối các nước Xã hội Chủ nghĩa”, sau 70 năm thống trị, cũng đã phải đầu hàng trước sức mạnh vùng lên đạp đổ bạo quyền của người dân trong cuộc cách mạng không đổ máu năm 1990.


Bây giờ cả thế giới chỉ còn lại 4 nước Trung Hoa, Việt Nam, Bắc Triều Tiên và Cuba tiếp tục ôm lấy chủ nghĩa vô sản Mác-Lênin làm kim chỉ nam hành động, theo nhu cầu và điều kiện riêng của mỗi nước.


Riêng Trung Cộng, từ khi lãnh tụ tối cao Đặng Tiểu Bình (Deng Xiaoping) lên nắm quyền lãnh đạo Trung Hoa từ trong bóng tối năm 1975, đã từ bỏ chủ trương của các Chính phủ tiền nhiệm thời Mao Trạch Đông để mở cửa cho Trung Hoa nhìn ra nước ngoài và mời Doanh nhân các nước Tư bản vào làm ăn để xây dựng đất nước.


Nhưng ông Đặng không làm kinh tế “hà khắc” theo Chủ nghĩa Mác-Lênin mà chủ trương một nước Trung Hoa phồn thịnh dựa vào “chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc”.


Không có sách vở hay tài liệu nào giải thích tường tận về thế nào là “đặc sắc Trung Quốc”, nhưng Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân (Jiang Zemin) khi cầm quyền từ ngày 24 tháng 6 năm 1989 (đến ngày 15 tháng 11 năm 2002), đã làm sáng tỏ chính sách mới của giai cấp lãnh đạo hậu Mao là làm theo chủ thuyết ba Đại diện: “Đảng cộng sản Trung Quốc đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, đại diện nền văn hóa tiên tiến và đại diện lợi ích của đông đảo nhân dân Trung Quốc.”


Chính sách vươn lên, hay còn được gọi là “trỗi dậy” của Trung Quốc khổng lồ có trên 1 tỷ dân đã được Tổng Bí thư đảng kiêm Chủ tịch Nhà nước Hồ Cẩm Đào, người thay thế Giang Trạch Dân và sau đó, từ năm 2012, đến phiên Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Tập Cận Bình tiếp tục khai phóng toàn diện trên tất cả mọi lĩnh vực trọng yếu gồm kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, ngoại giao và quốc phòng để đưa Trung Hoa lên hàng cường quốc kinh tế, chỉ đứng sau Hoa Kỳ và đang canh tân hóa quốc phòng để cạnh tranh với Nhật Bản ở Á Châu.


Trong khi đó thì hai nước cộng sản nhỏ Bắc Triều Tiên và Cuba còn tiếp tục chính sách độc tài một đảng cầm quyền vì sợ mở cửa cho Tư bản vào làm ăn sẽ mất quyền lãnh đạo. Họ chỉ tồn tại nhờ phần lớn vào sự giúp đỡ tài chính và đầu tư của Trung Cộng, Nga và viện trợ nhân đạo của Liên Hiệp Quốc.


Riêng Việt Nam Cộng sản thì đã có cơ hội “thoát Cộng” từ năm 1990, nhưng Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng) Đỗ Mười đã bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng khi ăn phải bùa cùng chung bảo vệ “ ý thức hệ Cộng sản” của Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân tại Hội nghị bí mật ở Thành Đô (Tứ Xuyên) năm 1990.


Trong 2 ngày Hội nghị 03/09 - 04/09 (1990), phái đoàn Việt Nam còn có cố vấn Phạm Văn Đồng tham dự, đã hoang tưởng sa vào cạm bẫy để thỏa mãn theo yêu cầu và quyền lợi của Trung Quốc ở chiến trường Cao Miên và ở Việt Nam để được nối lại bang giao với Bắc Kinh, sau thời gian hai nước gián đoạn từ cuộc chiến tranh biên giới năm 1979.


Sau Hội nghị Thành Đô, hai nước không công bố bất cứ tin tức nào nhưng sau khi quân Việt Nam rút khỏi Cao Miên năm 1989 thì nước này đã “nằm gọn” vào tay Trung Quốc và sự lệ thuộc kinh tế và chính trị của Ai Lao vào Bắc Kinh sau đó cũng đã khiến cho Việt Nam bị Trung Quốc bao vây ở biên giới phía Tây.


Riêng đối với Việt Nam thì những nhượng bộ về biên giới, vịnh Bắc bộ, dự án khai thác Bauxite ở Tây Nguyên và sự có mặt của các Doanh nghiệp Trung Quốc trong 90% dự án kinh tế cũng đã quá đủ để trả lời câu hỏi: Tại sao lãnh đạo Việt Nam đã bị kiểm soát bởi Bắc Kinh.


Vì vậy, không có gì để ngạc nhiên khi thấy “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” được chấp thuận tại Đại hội đảng Khóa VII năm 1991 đưa ông Đỗ Mười thay Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã viết bằng giọng điệu hồ hởi: “Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ là tổn thất lớn đối với phong trào cách mạng thế giới, nhưng một số nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng, tiến hành cải cách, đổi mới, giành được những thành tựu to lớn, tiếp tục phát triển; phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có những bước hồi phục.... Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội vẫn tiếp tục xảy ra. Chính sự vận động của những mâu thuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản...”


Quan điểm chật hẹp và đầy hoang đường của đảng CSVN còn nói thêm rằng: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.”


Giờ đây, 24 năm sau Hội nghị Thành Đô mà lối suy luận mơ màng “loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội” vẫn còn được lập lại trong kỳ Đại hội đảng XI năm 2011 khi Cương lĩnh 1991 được “bổ sung, phát triển”.


Thái độ không thực tế và không chịu nhìn vào sự thật là thế giới ở Thế kỷ 21 không còn là thời kỳ “đồng đá” mà là thời đại của điện tử với mọi việc có thể thay đổi từng giây nên Lãnh đạo Cộng sản Việt Nam cứ tiếp tục ngủ quên trong giấc mơ hư ảo để “quá độ lên xã hội chủ nghĩa” mà vẫn chưa biết “cửa thiên đàng” ở đâu, sau khi đã “quá độ” từ thập niên 60!


Định hướng đi đâu?


Thảm trạng không dám “thoát Cộng” rồi bây giờ không dám “thoát Trung” sau vụ giàn khoan Hải Dương 981 tự do đến ngày 02/05 (2014) rồi thanh thản ra đi khỏi vùng biển Việt Nam ngày 15/07 (2014) đã cho ta thấy rõ cái não trạng sợ hãi và ươn hèn của đảng CSVN đối với nhiệm vụ bảo quyền lợi của dân và của nước bi thiết đến nhường nào?


Một thái độ “im hơi lặng tiếng” đến lạnh người của đảng và nhà nước CSVN từ sau khi giàn khoan HD 981 rút về phía nam đảo Hải Nam (Trung Cộng) dường như đã phản ảnh sự hài lòng tự mãn của lãnh đạo vừa ra khỏi cơn ác mộng.


Cũng từ khi giàn khoan rút đi, không còn thấy Việt Nam bắn tiếng “đã chuẩn bị sẵn hồ sơ đấu tranh pháp lý” với Trung Quốc nữa.


Phản ứng về HD 981 rút lui đến sớm nhất từ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại phiên họp của Chính phủ ngày 16/07/2014.


Bản tin của Chính phủ viết: “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam luôn kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc bằng sức mạnh tổng hợp và các biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế; yêu cầu Trung Quốc không tái diễn hành vi hạ đặt trái phép giàn khoan cũng như các hành vi vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên vùng biển của Việt Nam.”


Trong khi đó, tại cuộc họp báo thường lệ ngày 24/07/2014 khi được hỏi: “Trung Quốc di chuyển giàn khoan có khiến Việt Nam từ bỏ việc kiện Trung Quốc không? Việt Nam có theo dõi tiếp hành động của Trung Quốc ở Biển Đông?”


Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, Lê Hải Bình, đáp: “Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của mình bằng biện pháp hòa bình. Hiện cơ quan chức năng Việt Nam đang theo dõi chặt chẽ hoạt động các bên liên quan ở Biển Đông.”


Phản ứng của các chuyên viên Việt Nam và nước ngoài trên các diễn đàn, kể cả tại cuộc Hội thảo Quốc tế về Biển Đông tại Đại học Tôn Đức Thắng ở Sài Gòn trong hai ngày 25 và 26/07/2014, đã khuyên Chính phủ Việt Nam nên nghĩ đến việc sử dụng luật pháp Quốc tế và Luật biển Liên Hiệp Quốc năm 1982 để bảo vệ quyền lợi của mình trước Tòa án Quốc tế, sau khi các giải pháp ngoại giao với Trung Cộng không đem lại kết quả.


Cho đến khi HD 981 rút đi, Việt Nam đã chủ động ít nhất 30 cuộc tiếp xúc với các cấp liên hệ của Trung Cộng nhưng thất bại, vậy mà Chính phủ Việt Nam vẫn không dám kiện thì phải có lý do tại sao họ sợ.


Lá bài tẩy của Trung Cộng có trong tay nhiều hay ít thì phải hỏi các nguyên Tổng Bí thư đảng CSVN Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và đương kim Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.


Họ là nhóm 6 người biết rõ mọi việc, không ai khác, hiểu rất rõ hai chữ “đại cục” là “những chuyện lớn” của hai nước Việt-Trung đã được thảo luận ở Thành Đô năm 1990 mà nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch từng cảnh báo: "Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu."


Đây là hậu quả nhãn tiền của Hội nghị Thành Đô khi các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng đã bằng lòng với “lý tưởng tương đồng”, hay “cùng chung bảo vệ lý tưởng Cộng sản” để đẩy đất nước và dân tộc vào ổ khóa của Bắc Kinh từ đó đến nay mà vẫn chưa “tởn tóc gáy” với những phản bội của Trung Cộng ở chiến tranh biên giới 1979, cuộc chiến Trường Sa năm 1988 và đe dọa mất Biển Đông năm 2014.


Cũng với chiều hướng bị động này là chủ trương “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.”


Khác với nền kinh tế làm theo “chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc” của Bắc Kinh, kinh tế Việt Nam “theo định hướng xã hội chủ nghĩa” đích thực là nền kinh tế làm theo chủ nghĩa Tư Bản mà đảng CSVN không dám thừa nhận.


Sở dĩ nền kinh tế “giở giăng giở đèn” này của Việt Nam chưa được Hoa Kỳ và nhiều nước tư bản khác nhìn nhận là “nền kinh tế thị trường” để được hưởng các quyền lợi thuế quan khi xuất khẩu vì đảng CSVN chưa từ bỏ quyền “chủ quản” nền kinh tế và dành cho Doanh nghiệp Nhà nước nhiều đặc quyền và điều kiện kinh tế, tài chính, thuế khóa, thuê mướn mặt bằng hơn các công ty nước ngoài.


Chính sách đối xử của Nhà nước giữa các công ty nước ngoài, đặc biệt với các doanh nghiệp không phải của Trung Quốc cũng có nhiều chênh lệch, bất công.


Ngoài ra quyền của người lao động cũng không được bảo đàm trong nhiều lĩnh vực từ lương bổng đến điều kiện làm việc và nghiệp đoàn đều do Nhà nước quản lý qua Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam.


Vì vậy, tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (khóa X) về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN (Nghị quyết số 21-NQ/TW) ngày 14/07/2014, các diễn giả đã kết luận: "Chất lượng thể chế kinh tế chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới mạnh mẽ sang kinh tế thị trường, chưa trở thành động lực để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia; nhận thức về phạm trù, nội hàm của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhất là định hướng XHCN còn chưa đủ rõ; chưa có đột phá lớn trong huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội theo cơ chế thị trường; môi trường kinh doanh, vẫn chưa thực sự đảm bảo cạnh tranh công bằng, lành mạnh giữa các doanh nghiệp, thành phần kinh tế; việc gia nhập, hoạt động và rút lui khỏi thị trường của doanh nghiệp còn gặp nhiều rào cản, chi phí gia nhập thị trường còn lớn; công tác quản lý, điều hành giá còn lúng túng, bất cập."


Bản tin của Cổng thông tin Chính phủ viết tiếp: “Nhiều ý kiến đề xuất cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; thực sự tạo “sân chơi” bình đẳng giữa các doanh nghiệp; dứt khoát thực hiện giá cả theo thị trường, tính đúng, tính đủ các yếu tố hình thành giá, đi liền với đó là thực hiện hiệu quả chính sách hỗ trợ người nghèo, người yếu thế trong xã hội; từng bước thoát khỏi tư duy bao cấp trong xây dựng và thực thi thể chế kinh tế...”


“Phát biểu kết luận cuộc họp, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ, báo cáo sơ kết phải bám sát nghị quyết để đánh giá những mặt được, những mặt chưa được, chỉ rõ nguyên nhân và đề ra mục tiêu, giải pháp theo tinh thần cái nào còn phù hợp tiếp tục khẳng định; mặt nào cần bổ sung, phải tiếp tục bổ sung.”


Ông Dũng nói: “Những gì làm chưa tốt phải chỉ đích danh, cụ thể, phải điểm mặt những gì chưa làm được theo nguyên tắc thị trường; những gì phải sửa, để thực sự là thị trường, thực sự là minh bạch, bình đẳng, cạnh tranh, nhất là vấn đề về giá, nếu chưa thực hiện theo thị trường phải tiến tới thực hiện giá thị trường; việc phân bổ nguồn lực cũng phải phân bổ theo nguyên tắc thị trường; đã là kinh tế thị trường phải vận hành đầy đủ theo quy luật thị trường.”


Như vậy đã hai năm rõ mười về tính “mơ hồ” và “đi trên mây trên gió” của những cái đầu Lãnh đạo CSCVN đối với những con vi khuẩn độc hại vê “kiên định” và “định hướng” chưa, hay còn phải thảo luận tiếp tại Hội nghị Trung ương 10 sắp tới và sau đó tại Đại hội đảng XII năm 2016 thì may ra “đảng ta” mới “sáng mắt sáng lòng”?

From DLB ,........

http://danlambaovn.blogspot.fr/2014/08/kinh-te-thi-truong-xhcn-cuoc-anh-tu-san.html

Publicité
Tag(s) : #Dư Luận Chính Trị VN
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :