Chiến lược dài hạn của Trung Quốc?
GS. Vladimir Kolotov , một chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam từ Nga cho rằng sự lớn mạnh của Trung Quốc là đe dọa an ninh cho Việt Nam.
Nói chuyện với BBC từ Đại học quốc gia St. Petersburg, tiến sĩ Vladimir Kolotov nhận định khả năng khai thác chung ở Biển Đông là có, nhưng Trung Quốc cũng sẽ chiếm phần hơn.
Ông cũng cho rằng Việt Nam đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm liên minh, dù là "theo Mỹ hay Trung Quốc".
Vladimir Kolotov: Trong lịch sử Việt Nam, mỗi khi Trung Quốc tập trung được lực lượng, xây dựng một nước hiện đại, lần nào cũng là vấn đề rất lớn cho Việt Nam. Bây giờ cũng là thời điểm như thế. Trung Quốc mạnh, là đe dọa an ninh cho Việt Nam.
Nhưng bây giờ là thời đại toàn cầu hóa, Việt Nam có thể tìm liên minh, vấn đề là tìm ai. Giữa Mỹ và Trung Quốc, cả hai đều có thể nói là "bạn" của Việt Nam. Theo Trung Quốc là mất chủ quyền, theo Mỹ cũng thế.
BBC: Theo tiến sĩ, tranh chấp Biển Đông sẽ đi đến đâu?
Giữa Mỹ và Trung Quốc, cả hai đều có thể nói là "bạn" của Việt Nam. Theo Trung Quốc là mất chủ quyền, theo Mỹ cũng thế.
BBC: Việt Nam và Trung Quốc vừa nộp hồ sơ thềm lục địa cho Liên Hiệp Quốc. Liệu LHQ có chịu sức ép nào không?
Không nên quan trọng chuyện đó. LHQ chỉ như một câu lạc bộ nói chuyện, chẳng đưa ra được quyết định buộc các bên phải theo.
Cứ xem khủng hoảng Nam Ossetia vừa rồi. Chiến tranh năm ngày, bao nhiêu người chết. Nhưng Mỹ không muốn hội đàm vấn đề này, LHQ làm được gì ? Những chuyện lớn liên quan an ninh, LHQ chứng tỏ họ bất lực.
Có thể nộp hồ sơ, nhưng đấy là họ nói chuyện với nhau, còn Trung Quốc muốn khai thác vùng nào thì cứ khai thác.
Nộp cả chục hồ sơ cũng được, vấn đề là ai sẽ ủng hộ Việt Nam ?
BBC: Vậy còn khả năng hợp tác và khai thác tài nguyên ở Biển Đông có thực tế không?
Có thể, nhưng khai thác là phải cùng đầu tư, trong khi kinh tế Trung Quốc mạnh hơn nhiều. Họ có thể làm dự án 10 tỷ đôla, Việt Nam tham gia nổi không?
Phải nói lại một lần nữa, đây chỉ là một bước nhỏ trong chiến lược dài hạn của Trung Quốc. Chiến lược đó rất rõ, kiểm soát vùng Á đông, ban đầu gián tiếp và sau đó là trực tiếp.
Trung Quốc sẽ sử dụng áp lực chính trị, ngoại giao, kinh tế và vũ lực .
Hoa Kỳ lên tiếng về biển Đông...Đô đốc Willard nói Mỹ sẽ còn hiện diện ở khu vực trong nhiều năm.
Lãnh đạo Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ nói thái độ quả quyết của Trung Quốc tại biển Đông đang gây ra quan ngại trong khu vực, và tuyên bố Hoa Kỳ sẽ hành động nhằm đảm bảo an ninh và bảo vệ các tuyến mậu dịch quan trọng.
Đô đốc Robert Willard nói với các phóng viên như vậy hôm thứ Tư sau khi gặp gỡ lãnh đạo quân đội Philippines là trung tướng Ricardo David.
Ông Willard nói rằng quân đội Hoa Kỳ đã có mặt trong khu vực trong 150 năm qua và sẽ còn ở đây trong nhiều năm nữa.
Đô đốc Willard được các hãng tin trích thuật nói: “Chúng tôi đã thảo luận về thái độ quả quyết của Trung Quốc tại biển Nam Trung Hoa (Việt Nam gọi là biển Đông) và những lo ngại mà chuyện này gây ra cho khu vực”.
Ông Willard tuyên bố Hoa Kỳ sẽ không ngả về bên nào trong các tranh chấp lãnh hải trong khu vực, và sẽ tuân thủ công ước quốc tế, đồng thời phản đối bất cứ việc “sử dụng vũ lực hay các hình thức cưỡng bức nào về chủ quyền mà một quốc gia đưa ra với quốc gia khác”.
Nhận xét của lãnh đạo bộ tư lệnh Thái Bình Dương được đưa ra sau khi Ngoại trưởng Hillary Clinton tháng trước cũng có những tuyên bố khiến Trung Quốc tức giận. Tại Diễn đàn an ninh khu vực tổ chức ở Hà Nội, bà Clinton nói Hoa Kỳ coi việc giải quyết các tranh chấp lãnh hải thông qua “tiến trình ngoại giao hợp tác của các bên” là “lợi ích quốc gia” của Mỹ.
CHIẾN LƯỢC CỦA HOA KỲ: THẾ CÂN BẰNG TRONG VÙNG ĐÔNG NAM Á - VỊ THẾ CỦA VIỆT NAM.
Trung Quốc đưa ra bản đồ ‘lưỡi bò’ nhận chủ quyền trên toàn bộ khu vực biển Đông, với các quần đảo tranh chấp, trong đó có Trường Sa - nơi Việt Nam, Đài Loan, Malaysia, Brunei và Philippines cũng nhận chủ quyền.
http://miscellaneous-land.over-blog.net/article-34974892.html
Các nước trong khu vực nên xây dựng quân đội , lực lượng hải quân .
Đô đốc Willard nói các lực lượng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục hiện diện trong khu vực trong nhiều năm nữa để gìn giữ các đường hàng hải và không phận cho lượng hàng hóa khổng lồ đi qua khu vực này.
Ông cũng hối thúc các nước trong khu vực nên xây dựng quân đội một cách đầy đủ nhằm giúp bảo vệ hòa bình.
“Một điều rất quan trọng là các chính phủ trong khu vực cần đầu tư đủ vào quân đội và các bộ máy an ninh nhằm bảo vệ các vùng lãnh hải của họ. Điều này còn là để ngăn ngừa xung đột và không cho phép tình hình trong khu vực có thể dẫn đến chiến tranh”.
Marine de guerre du VietNam
Les forces principales
Elles sont de composition classique avec ses trois services d’administration, de logistique et de renseignement. Dans le développement socio-économique, ces forces principales sont devenues la masse de manœuvre, aidant les autres composantes, comme les divisions lourdes dans les batailles stratégiques.
Elles sont équipés de plus de 1 300 chars d'assaut d'origine soviétique incluant des T-54/55 et T-62. Elle disposent de nombreux blindés de tout type essentiellement ex-soviétiques, 2 300 pièces d'artilleries et 710 lance-roquettes multiples.
_Faiblesse de la Marine
Pratiquement inexistante pendant la période des guerres, la marine fluviale et côtière est principalement l’armature organisationnelle et technique des pêcheries, tout en défendant les eaux territoriales, les îles, îlots et îlets contestées et les zones de pêche vietnamiennes, dans la concurrence pour des ressources marines devenues rares.
Sa flotte actuelle comprend :
12 patrouilleurs lance-missiles
6 frégates (6 Petya de l'ex-sovietique), 2 Gepard en cours de livraison
1 corvette
2 sous-marins nord-coréens, 6 sous-marins Kilo Russe commandés en 2009
divers: des systèmes de missile anti-navire comme Bastion et Styx
_La force aérienne
Peu utilisée pendant la période des guerres, à l’exception de la défense anti-aérienne autour de Hanoî et Haïphong et des nœuds routiers le long de la Piste Hô Chi Minh, la force aérienne est devenue une aviation légère de brousse pour le réseau intérieur.
Comprenant actuellement 30 000 personnes, elle dispose de:
150 à 200 MiG-21
36 MiG-23
50 Su-22 - L'essentiel de la flotte de 3 types d'avions précités n'est pas opérationnelle -
12 Su-27 (dont 5 biplaces de conversion opérationnelle)
12 Su-30 (12 autres commandé en 2010)[8]
~ 60 hélicoptères dont la moitié sont armés (Mi-24, Mi-2)
Elle dispose de plus de 1 000 pièces d'artillerie antiaérienne et de récentes batteries de missile sol-air S-300 russe.
_Les forces locales Elles sont l’emblème et le symbole de l’APVN et demeurent la force principale et la plus effective sur le terrain. Dans la paix comme à la guerre, les forces locales sont au premier rang de la ligne de front.À la Troisième Guerre d'Indochine ( 1979), la petite et courte invasion chinoise a été repoussée par la seule milice des forces locales d'autodéfense Tu Vê qui se trouvaient chez elles, sur ses montagnes, dans ses petites rizières.
Marine de guerre de la Flotte chinoise
Estimation sur les flottes du Sud et de l'Est ( le plus près et menaçant directement le Viet Nam) comportant :
28 sous-marins diesel
16 destroyers
40 frégates
42 navires amphibies
34 patrouilleurs lance missiles
Các nước Đông Nam Á gần đây lo ngại về thái độ ngày càng hung hăng của Trung Quốc tại các khu vực tranh chấp. Vào cuối tháng Bảy, lực lượng hải quân TQ thực hiện diễn tập tại các vùng biển tranh chấp ở phía nam, trong lúc căng thẳng
giữa TQ với Mỹ vẫn gia tăng quanh chuyện an ninh ở bán đảo Triều Tiên và tại biển Đông.
Hoa Kỳ tháng trước cũng tập trận với Nam Hàn tại vùng biển Nhật Bản, khiến Trung Quốc lên tiếng phản đối.
Tuần trước, khu trục hạm USS John S. McCain đã cập cảng Đà Nẵng và có các hoạt động giao lưu bốn ngày với quân và dân địa phương. Trước đó, một đoàn quan chức quân sự Việt Nam cũng lên thăm hàng không mẫu hạm USS George Washington đậu ở ngoài khơi Đà Nẵng.
Những động thái này khiến giới bình luận cho là Việt Nam cũng đang xích lại gần với Mỹ nhằm tìm cách đa phương hóa việc giải quyết tranh chấp hiện nay tại biển Đông.
Sự tăng cường lực lượng quân sự của Trung Quốc đã khiến các cường quốc trong vùng như Nhật Bản, Đại Hàn, Ấn Độ, Úc Đại Lợi cũng phải có những biện pháp tương tự. Theo các chuyên gia, mặc dù đẩy nhanh hiện đại hóa quân sự, nhưng Trung Quốc hãy còn lâu mới bắt kịp Hoa Kỳ. Ngay cả phần lớn các nước láng giềng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ nay có lực lượng hải-không quân được trang bị tốt hơn và có khả năng tác chiến cao hơn. Cả 3 nước này đều là đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ. Trung Quốc đang lao đầu vào một cuộc chạy đua vũ trang tốn kém mà xung quanh hầu như không có một đồng minh. ( đồng minh của Trung Quốc : Miến Điện, Sri Lanka, Maldives, Seychelles và Mauritius ở phía Nam, chạy lên Pakistan ở phía Tây nhất là cảng nước sâu ở Hambantota, Sri Lanka ??? , Campuchia ??? )
Mời được Hoa Kỳ tham gia Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, ASEAN không còn phải đơn độc trực diện Bắc Kinh. Thế nhưng họ phải đối phó với một nguy cơ mới. Đó là mất quyền kiểm soát cơ chế này và trở thành khán giả đơn thuần của cuộc đối thoại Mỹ - Trung ».
Riêng đối với nước chủ nhà Việt Nam, đối tượng bị Trung Quốc sách nhiễu nhiều nhất trong hồ sơ Biển Đông, hậu thuẫn của Hoa Kỳ rất được hoan nghênh.
Tránh trực diện với Trung Quốc, nhưng tìm cách đối phó khác.Cũng như các nước Đông Nam Á khác, Hà Nội cũng cố gắng tránh trực diện đối đầu với Bắc Kinh. Tuy nhiên, trong các hoạt động ngoại giao hay quốc phòng của mình, Việt Nam đã nỗ lực tìm cách đối phó với các mối đe dọa trên Biển Đông
Các chiến hạm Mỹ tăng cường sự hiện diện tại biển Đông
Hoa Kỳ có rất nhiều căn cứ hải-không quân ở hải ngoại cũng như trong vùng Thái Bình Dương: các căn cứ hải-không quân tại Anh, Gaeta tại Ý (Đệ Lục Hạm Đội), Manama tại Bahrain (Đệ Ngũ Hạm Đội), Yokosuka, Sasebo, Atsugi tại Nhật Bản (Đệ Thất Hạm Đội), các căn cứ tại Hạ Uy Di, Guam tại Thái Bình Dương, căn cứ Changi ở Tân Gia Ba, căn cứ Diego Garcia ở Ấn Độ Dương, quyền cập bến tại Đại Hàn, Đài Loan. Đó là chưa kể 2 vịnh Subic của Phi Luật Tân và Cam Ranh của Việt Nam mà Hoa Kỳ cũng đang thương thuyết để có quyền cập bến.
Trái lại, Trung Quốc chưa có một căn cứ nào ở hải ngoại. Trung Quốc đang cố gắng một chiến lược gọi là Chuổi ngọc trai (String of Pearls) gồm có các cứ điểm của các quốc gia đồng minh như Miến Điện, Sri Lanka, Maldives, Seychelles và Mauritius ở phía Nam, chạy lên Pakistan ở phía Tây nhất là cảng nước sâu ở Hambantota, Sri Lanka. Tuy nhiên, đây là các quốc gia nghèo và sự liên hệ với TQ cũng không có gì vững chắc cả. Miến Điện được xem như là đồng minh thân cận nhất nhưng sự liên hệ Trung-Miến được ví như là một cuộc hôn nhân không có tình yêu, có thể đỗ vở bất cứ lúc nào. Pakistan có thể xem như một quốc gia đang có nội chiến. Quyết định thay đổi chính sách gần đây của Hoa Kỳ đối với Miến Điện có thể kéo nước này ra khỏi tầm ảnh hưởng của Trung Quốc. Trung Quốc có thể dùng số tiền dự trữ khổng lồ của mình để viện trợ cho các nước này đổi lấy quyền xây dựng các căn cứ hải quân hay quyền cập bến nhưng hiện nay chưa có dữ liệu rỏ ràng về sự tiến triển. Trung Quốc có thể đóng 1, 2 hàng không mẫu hạm trong những năm sắp đến nhưng không có được căn cứ tại hải ngoại thì Trung Quốc sẽ không vượt ra khỏi 2 tam giác chiến lược chế ngự cửa ngõ ra Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.
Năm 2009, Trung Quốc bắt đầu chọn một thái độ mạnh bạo và hung hăng hơn trong vùng Biển Đông vừa để chứng tỏ sức mạnh của mình cũng như thăm dò phản ứng của Hoa Kỳ. Trong chuyến đi thăm Trung Quốc của đô đốc Mỹ Timothy Keating đầu năm 2009, phía Trung Quốc đã trực tiếp nêu với phía Mỹ chia đôi Thái Bình Dương, Trung Quốc sẽ quản lý phần Thái Bình Dương từ đảo Hawaii về phía Tây, phía Mỹ từ Hawaii về phía Đông. Keating cho biết đã trả lời: “No, thanks!".
Tháng 7-2010, hãng tin Nhật Bản Kyodo xác nhận Trung Quốc đã chính thức thông báo với Hoa Kỳ rằng Biển Đông đã trở thành một trong các "quan tâm chủ chốt" của nước này, bên cạnh Đài Loan, Tây Tạng và Tân Cương. Sự rút lui một phần tại Iraq để tập trung hoạt động tại Afghanistan đã giúp Hoa Kỳ có thì giờ giải quyết các điểm nóng trên thế giới. Chính phủ Obama bắt đầu có những định hướng chiến lược mới, đang tỏ ra vừa cứng rắn vừa thận trọng trong vấn đề liên hệ với Trung Quốc. Cuộc điều trần mới đây tại Thượng Viện Hoa Kỳ và chuyến viếng thăm của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tại Thái Lan đã cho thấy sự chuyển hướng trong chính sách ngoại giao và đánh dấu sự trở lại của Hoa Kỳ trong vùng. Thượng nghị sỹ Mỹ Jim Webb, Chủ tịch tiểu ban Đông Á thuộc Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ, trong chuyến thăm viếng Việt Nam ngày 19 tháng 8 năm 2009 đã nhấn mạnh những điều sau:
1)Mỹ phải duy trì được mối liên hệ lịch sử đối với các nước ở Đông Nam Á để duy trì sự cân bằng khi mà có những quốc gia lớn mạnh khác đang nổi lên.
2)Đã có sự tranh cãi chủ quyền trên Biển Đông. Cần có sự giải quyết công bằng và Washington cần tham gia.
3)Việc bảo vệ chủ quyền của khu vực này, không nhất thiết bằng biện pháp quân sự, mà cần thể hiện bằng ngoại giao, và Mỹ cần sẵn sàng là lực lượng cân bằng đối với Trung Quốc trong khu vực.
Tại Diễn Ðàn An Ninh Châu Á Thái Bình Dương ở Singapore ngày 5 tháng 6 năm 2010 trước gần 30 nước, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert Gates và kế đến là đô đốc Robert Willard, tư lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tại vùng Thái Bình Dương, nhân chuyến ghé thăm Việt Nam sau đó đã nhấn mạnh đến quyền tự do lưu thông và tự do phát triển tại vùng Biển Đông. Tại “Diễn Ðàn Khu Vực ASEAN” ở Hà Nội ngày 23-7-2010, Ngoại Trưởng Hillary R. Clinton chính thức tuyên bố Hoa Kỳ sẽ không đứng ngoài tranh chấp chủ quyền biển đảo trên biển Ðông và hậu thuẫn cho tiến trình giải quyết bằng ngoại giao của tất cả các nước tranh chấp lãnh thổ tại Biển Ðông, và chống việc dùng võ lực hay đe dọa võ lực của bất cứ nước nào”. Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ - ASEAN tại New York ngày 24-9-2010 khẳng định tầm quan trọng của ổn định và hòa bình khu vực, an ninh hàng hải, không cản trở thương mại và tự do hàng hải theo những quy định liên quan được nhất trí của luật pháp quốc tế, gồm Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) và những điều luật hàng hải quốc tế khác, đồng thời giải quyết hoà bình các tranh chấp.
Những điều tuyên bố trên cọng với sự nhận xét của 2 chuyên viên hàng đầu của Trung Quốc trong lĩnh vực khoa học quốc phòng, giáo sư Trương Triệu Trung và Vương Bảo Phó trong thời gian gần đây cho thấy Hoa Kỳ có ý định tạo ra 2 tam giác chiến lược: Trong khu vực Đông Nam Á, vịnh Subic của Phi Luật Tân, vịnh Cam Ranh của Việt Nam và eo biển Malacca đi qua Tân Gia Ba là tam giác chiến lược đầu tiên, cùng với một tam giác chiến lược khác ở vùng Đông Bắc Á bao gồm Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc. Hai tam giác chiến lược này chế ngự cửa ngõ ra Thái Bình Dương và là địa bàng quan tâm chủ chốt của Hoa Kỳ. Ở vùng Đông Bắc Á, Hoa Kỳ đã có căn cứ Yokosuka ở Nhật Bản cũng như quyền cập bến ở Đại Hàn và Đài Loan. Hoa Kỳ cần có một lực lượng hải-không quân thường xuyên tuần tiễu vùng Biển Đông.
Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ có thể hoạt động một mình nếu có đủ lực lượng; bằng không, một Hải Đoàn Đặc Nhiệm Hàng Không Mẫu Hạm với các chiến hạm của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đại Hàn, Ấn Độ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan tuần tiễu Biển Đông chung với Việt Nam và các quốc gia ASEAN là điều có thể xảy ra. Vấn đề phải giải quyết là căn cứ cho lực lượng đặc nhiệm này. Hai cảng hải quân của Hoa Kỳ ở Guam và Yokosuka thì quá xa. Hải cảng Changi của Singapore thì tương đối nhỏ. Còn lại là 2 cảng Subic của Phi Luật Tân và cảng Cam Ranh của Việt Nam. Hải quân Hoa Kỳ đã giao lại lại cảng Subic cho chính phủ Phi từ lâu nhưng cũng có thể tái thương thuyết để sử dụng một phần của hải cảng này.
Vấn đề còn lại là tương lai của hải cảng Cam Ranh. So với mọi căn cứ hải quân của Trung Quốc, vịnh Cam Ranh vẫn có nhiều khả năng hơn để điều quân ra bất kỳ đảo nào ở Biển Đông. Mọi người đều hiểu rằng chính quyền Việt Nam rất lo ngại việc để Hoa Kỳ vào cảng Cam Ranh có thể bị Trung Quốc xem là cớ gây hấn và ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ giữa 2 nước. Điều mâu thuẫn là trong khi Trung Quốc đang cấp tốc phát triển căn cứ hải quân Tam Á trên đảo Hải Nam thì lại ép buộc không cho Việt Nam phát triển hải cảng của mình. Chuyên gia kỳ cựu người Úc chuyên về Việt Nam, Carlyle Thayer, cũng nói Hoa Kỳ quan tâm “địa điểm hơn là căn cứ”, nghĩa là Hoa Kỳ sẽ không thuê Cam Ranh, nhưng muốn được quyền tiếp cận các cảng của Việt Nam khi cần thiết. Quyền tiếp cận này không những áp dụng cho hải quân Hoa Kỳ mà còn cho hải quân các nước khác trong vùng. Nhắc lại chuyện căn cứ Mỹ ở Nam Hàn đã từng gây chia rẽ dư luận xứ Hàn, ông Thayer nói ông “hồ nghi việc Mỹ đang tìm cách có căn cứ ở Cam Ranh, nhưng quyền tiếp cận lại là một vấn đề khác”. Chính quyền Việt Nam rất thực dụng và họ cũng hiểu rằng Hoa Kỳ cũng như các đồng minh trong vùng cũng như vậy. Cân bằng giữa các thế lực quốc tế trong nhiều khía cạnh chỉ là ngôn từ ngoại giao. Trung Quốc luôn luôn tỏ thái độ hiếu chiến và sẵn sàng dùng sức mạnh của mình. Các đồng minh sẽ không sẵn lòng giúp đỡ Việt Nam nếu Việt Nam không đóng góp phần mình. Hải cảng Ba Ngòi nằm trong vịnh Cam Ranh cùng với quân cảng Cam Ranh cần được phát triển đúng mức để đáp ứng nhu cầu quân sự cũng như phát triển cho Việt Nam.
Liên quan đến tranh chấp Biển Đông giữa Trung Quốc và một số nước ASEAN, bà Clinton đã khuyến khích Trung Quốc đẩy mạnh đàm phán với khối Đông Nam Á để hình thành ra một bộ quy tắc ứng xử thực thụ, mang tính chất ràng buộc về mặt pháp lý. Những lời xác định kể trên của đại diện Hoa Kỳ chắc hẳn đã trấn an nhiều nước ASEAN trong đó có Việt Nam, hiện đang bị Trung Quốc chèn ép tại Biển Đông, nhất là khi tâm trạng bất an của họ đã gia tăng hẳn lên khi thấy phản ứng thô bạo của Bắc Kinh đối với Tokyo sau sự cố vào đầu tháng 9 tại vùng quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, do Nhật quản lý nhưng bị Trung Quốc nhận là của mình.
Theo Lucie Moulin, thông tín viên ban Pháp ngữ RFI tại Hà Nội, tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, dù chỉ là khách mời, trong khi chờ đợi quy chế thành viên chính thức kể từ năm 2011, Hoa Kỳ đã mặc nhiên đóng được vai trò của người bảo vệ khu vực, công khai chống lại Trung Quốc, điều mà bản thân các nước trong vùng không dám làm dù bị Bắc Kinh chèn ép:« Các nước ASEAN đã tìm được một người bảo vệ. Vào sáng thứ bảy 30 tháng 10 tại Hà Nội, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã thúc giục Trung Quốc phải chấp nhận ý tưởng về một Bộ quy tắc ứng xử về các tranh chấp lãnh thổ trong khu vực.
Trong những tháng gần đây, các nước láng giềng nhỏ của Bắc Kinh rất lo ngại về uy lực ngày càng tăng của Trung Quốc, nhưng họ cố gắng tránh đối đầu trực tiếp bằng mọi giá. Ông Đinh Hoàng Thắng, một cựu đại sứ Việt Nam giải thích : « Có lẽ là vì họ có chung những mối đe dọa, chứ còn dùng chữ đối thủ ở đây phải rất thận trọng. ASEAN không dại gị chọn Trung Quốc làm đối thủ. Đừng dùng chữ đối thủ mà ở đây là những mối đe dọa chung, bởi vì cách ứng xử của Trung Quốc, cách xử lý của Trung Quốc trong tranh chấp Trung Nhật đã nói với ASEAN nhiều điều ».
Thông tín viên Lucie Moulin đã đặc biết chú ý đến quyết định mới đây được chính thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng loan báo. Đó là mở cửa cảng Cam Ranh cho tàu hải quân nước ngoài, « kể cả tầu ngầm ». Đối với Lucie Moulin, quyết định này đồng nghĩa với việc mở cửa cho Mỹ trở lại một căn cứ có giá trị chiến lược thiết yếu đối với khu vực Biển Đông. Điều này cũng phản ánh mối quan ngại sâu sắc của Việt Nam trước đà vươn lên của hải quân Trung Quốc.
« Đối với Hà Nội, Cam Ranh là biểu tượng của sự hiện diện quân sự nước ngoài. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, căn cứ này là một trong ba cửa ngõ thâm nhập chính được quân đội Mỹ sử dụng. Đến năm 1975, Cam Ranh trở thành căn cứ hải quân lớn nhất của Liên Xô ở hải ngoại, và là một trong những vị trí có giá trị chiến lược nhất của thời Chiến tranh Lạnh. Người Nga đã đồn trú tại đó cho đến năm 2002.
Trong tương lai, chính Moscou sẽ giúp Việt Nam xây dựng cơ sở hạ tầng mới tại Cam Ranh, nhưng mọi dấu hiệu cho thấy là có lẽ người thuê tiếp theo là Hoa Kỳ. Từ nhiều năm nay, Mỹ và Việt Nam đã tăng cường hợp tác quân sự. Thậm chí, vào mùa hè vừa rồi, hàng không mẫu hạm George Washington của Hoa Kỳ còn ghé lại ngoài khơi Việt Nam.
Cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ đều đang lo ngại về tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc ở vùng Biển Đông, một khu vực mà Cam Ranh là trạm quan sát hoàn hảo. Về Cam Ranh, trong phát biểu sau Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, thủ tướng Việt Nam còn nói rõ là tất cả các tàu hải quân sẽ được chào đón, "kể cả tàu ngầm" ».
From : BBC , ....??