Chuyến thăm TQ của Chủ tịch VN
Cuộc hội đàm Tập Cận Bình - Trương Tấn Sang có một số sự kiện cần được xem xét kỹ:
1. Mục tiêu “tiếp tục phát triển hợp tác theo chiều sâu” và “đẩy quan hệ Việt-Trung lên tầm cao mới” đều được Chủ tịch nhà nước Việt Nam và Đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội nhấn mạnh trong hai cuộc phỏng vấn riêng biệt của báo chí Trung Quốc (với Chủ tịch Trương Tấn Sang) và báo chí Việt Nam (với Đại sứ Khổng Huyễn Hựu) ngay trước chuyến đi Trung Quốc của nhà lãnh đạo Việt Nam. Rõ ràng đây là một sự đáp trả mạnh mẽ đối với bước ngoặt về đối ngoại của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong bài diễn văn Shangri-La ngày 31.5. Các văn kiện được chuẩn bị từ trước ngày họp của Đối thoại Shangri-La đều là kết quả đúc kết mau chóng từ những thoả thuận đã có trong những phiên họp của Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương và Hội thảo lý luận giữa hai đảng trong nhiều năm qua. Văn kiện số 1 được “khẩn trương bàn bạc” trong phiên họp của Ủy ban Chỉ đạo ngày 11.5 cho thấy Bắc Kinh đã được báo cáo mật về sự xoay trục sang Hoa Kỳ của ông Nguyễn Tấn Dũng nên họ quyết định phải sớm có hành động đối phó bằng cách liên kết với phe chống Nguyễn Tấn Dũng ở trong nước.
"Cuộc hội đàm Tập Cận Bình - Trương Tấn Sang có bề ngoài làm giảm căng thẳng và gia tằng hợp tác giữa hai nước, nhưng vẫn ngầm chứa ý đồ của Trung Quốc lấn chiếm Việt Nam"
2. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang được biết là người chống chính sách bá quyền của Bắc Kinh. Khi nhậm chức vào tháng Bảy 2011, ông Sang đã tuyên bố trước Quốc hội là ông quyết tâm bảo vệ độc lập và toàn vẹn chủ quyền của đất nước. Chuyến công du ngoại quốc đầu tiên của ông là đi Ấn Độ vào tháng Mười 2011 trong khi Tổng Bí thư lên đường sang Trung Quốc. Mới hai tháng trước, ông Sang ra thăm ngư dân đảo Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi, giúp đỡ nạn nhân bị tàu Trung Quốc tấn công và khuyến khích ngư dân “yên tâm bám biển, đoàn kết tương trợ nhau để tránh thiên tai, địch hoạ”. Cho đến nay, hai năm sau ngày nhậm chức, ông mới có chuyến công du đầu tiên sang Trung Quốc. Sự kiện này có thể được hiểu là Tập Cận Bình, muốn ngăn chặn Nguyễn Tấn Dũng chuyển hướng đối ngoại sang phía Mỹ, cần phải trấn an Trương Tấn Sang và ủng hộ ông ta trong cuộc tranh giành quyền lực với Nguyễn Tấn Dũng. Tập Cận Bình không mời Nguyễn Phú Trọng vì ông này thân Trung Quốc quá lộ liễu và vì, trong trường hợp này, quan hệ Việt-Trung nên được giải quyết giữa hai Chủ tịch nước. Trong khi đó, dù không ưa Trung Quốc, Trương Tấn Sang vẫn cần phải dựa vào cường quốc này để bảo vệ Đảng và chế độ. Do đó, hai bên đã cố gắng giảm bớt căng thẳng, gia tăng hợp tác với kết quả là đôi bên cùng có lợi.
3. Một kịch bản khác là, trước nguy cơ Đảng suy sụp vì xung đột nội bộ và trước xu hướng chung của quốc tế là phải kiềm chế chính sách bành trướng ngang ngược của Trung Quốc, lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam có thể đã đạt được đồng thuận giữa các bên là cân bằng lại chính sách ngoại giao để không còn nghiêng về Trung Quốc. Bởi thế, trong khi tiếp tục phát triển quan hệ hợp tác với Bắc Kinh, Hà Nội cũng gia tăng hợp tác chiến lược với Hoa Kỳ và môt số cường quốc khác. Chính sách đu dây này không có vấn đề gì đối với Hoa Kỳ vì nước này không có tham vọng xâm phạm chủ quyền lãnh thổ hay lãnh hải của một nước nào trong khu vực, nhưng Trung Quốc từ mấy ngàn năm nay không bao giờ từ bỏ ý đồ thôn tính và Hán hoá Việt Nam. Vì vậy chính sách cân bằng đối ngoại của Việt Nam rất khó tồn tại lâu dài trước mối đe dọa thường trực của Trung Quốc, nếu không có sự đảm bảo của quốc tế hay của một đối tác hợp tác chiến lược quốc phòng như trường hợp Hoa Kỳ đối với Nhật bản hay Đài Loan. Ngoài ra, kịch bản đồng thuận này của lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn chỉ là một giả định, chưa có gì là chắc chắn.
'Ý ngầm Trung Quốc'Trở lại quan hệ Việt Nam-Trung Quốc sau cuộc hội đàm Tập Cận Bình - Trương Tấn Sang, sự phát triển hợp tác theo chiều sâu và đẩy lên một tầng cao mới được thể hiện trong bản Tuyên bố chung với 10 Văn kiện cụ thể của “Chương trình hành động triển khai Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc”.
Ngoài việc phân tích những yếu tố chính trị đưa đến cuộc hội đàm Bình - Sang, cần xem xét kỹ lưỡng 10 văn kiện đã ký để nhận ra những điểm lợi hại cho Việt Nam trên từng lãnh vực hợp tác. Vì chưa được đọc các văn kiện và vì giới hạn của một bài báo, tác giả chỉ có thể đưa ra một số nhận định tổng quát về cơ sở và kết quả của cuộc hội đàm thượng đỉnh song phương này:
"Lãnh đạo cộng sản Việt Nam cần nhận biết rằng, thay vì theo sau Trung Quốc, nếu họ chọn con đường dân chủ hoá trước Trung Quốc thì, với sự ủng hộ của nhân dân và thế giới dân chủ, họ sẽ thành công trong sứ mệnh bảo vệ và phát triển đất nước"
1. Cuộc hội đàm được diễn ra trên cơ sở của phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt là một cơ sở quá cũ đã được chứng tỏ là Việt Nam bị Trung Quốc lường gạt bằng những lời hoa mỹ. Thực tế là Trung Quốc đã sử dụng “sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền” đúng như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ám chỉ trong bài diễn văn Shangri-La. Lẽ ra, mục đích cuộc hội đàm phải là cải thiện quan hệ hợp tác giữa hai nước bằng những cam kết ngưng tất cả mọi hành động áp đặt, đối xử bất bình đẳng, không tôn trọng nhân đạo và luật lệ quốc tế. Bản Tuyên bố không nhắc gì đến Bộ Quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC) là một thiếu sót do cố ý, rất hại cho Việt Nam và các nước ASEAN.
2. Một số thoả thuận có tính tích cực như thiết lập đường dây nóng về các vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển, hợp tác kiểm nghiệm, kiểm dịch động thực vật xuất nhập khẩu, cho vay tín dụng người mua ưu đãi cho dự án nhà máy Đạm than Ninh Bình. Vấn đề là việc thi hành có được đảm bảo về hiệu quả hay không.
3. Thoả thuận có thể gây tranh cãi là mở rộng khu vực thăm dò chung về dầu khí trên Vịnh Bắc Bộ. Cần xem xét lợi hại thế nào cho Việt Nam.
4. Văn kiện số 4 nói về tín dụng ưu đãi cho Dự án hệ thống thông tin đường sắt. Thật ra thì đây là Dự án giao thông đường bộ cao tốc Bằng Tường - Lạng Sơn - Hà Nội. Đường cao tốc nối liền Bằng Tường (tỉnh Quảng Tây) với Hà Nội có lợi ích kinh tế nhưng cũng có thể nguy hiểm cho Việt Nam nếu chẳng may xảy ra xung đột quân sự giữa hai nước.
5. Văn kiện số 5 về giao lưu văn hoá Việt - Trung, với nhữngTrung tâm văn hoá nước này ở nước kia, có thể là con dao hai lưỡi nếu được Trung Quốc sử dụng như một phương tiện đồng hoá dân tộc Việt.
Tóm lại, kết quả cuộc hội đàm Tập Cận Bình - Trương Tấn Sang có bề ngoài làm giảm căng thẳng và gia tăng hợp tác giữa hai nước, nhưng vẫn ngầm chứa ý đồ của Trung Quốc lấn chiếm Việt Nam. Trong khi đó, lãnh đạo Việt Nam cứ lúng túng giữa một bên là ý muốn bảo vệ đảng và chế độ và một bên là lòng bất mãn của nhân dân yêu nước và khát khao dân chủ đang lên cao.
Lãnh đạo cộng sản Việt Nam cần nhận biết rằng, thay vì theo sau Trung Quốc, nếu họ chọn con đường dân chủ hoá trước Trung Quốc thì, với sự ủng hộ của nhân dân và thế giới dân chủ, họ sẽ thành công trong sứ mệnh bảo vệ và phát triển đất nước. Hãy hoà giải với những người bất đồng chính kiến, hãy lắng nghe và hợp tác với trí thức. Trung Quốc, nếu cũng tự thay đổi chế độ từ độc tài sang dân chủ, sẽ không bị cô lập và được thế giới đón nhận như một siêu cường. Khi đó họ cũng sẽ được sự kính trọng và ủng hộ của các nước Á châu. Biển Đông sẽ êm lặng. Thế giới sẽ hoà bình. Đây là cái message cần được gửi đến lãnh đạo và nhân dân Trung Quốc.
Bài viết nêu quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, một học giả gốc Việt đang sinh sống ở Hoa Kỳ .
Từ hơn mười năm nay, Trung Quốc đã thò tay đến các đảo quốc nhỏ nhoi và xa xôi này. Họ tung cả hàng trăm triệu đô la để viện trợ cho các nước ấy. Họ mua chuộc các chính khách cũng như dân chúng vốn còn rất chất phác ở đó. Trước đây, mục đích của những sự mua chuộc ấy là để cô lập Đài Loan: yêu cầu các đảo quốc ấy không nhìn nhận Đài Loan, không làm ăn buôn bán với Đài Loan. Về sau, họ còn gây chia rẽ giữa các nước hoặc trong nội bộ từng nước, gây nhiều sự bất ổn trong khu vực. Đi xa hơn, họ muốn thuyết phục các đảo quốc ấy tách ra khỏi quỹ đạo của Úc, Tân Tây Lan và Mỹ. Nói cách khác, Trung Quốc muốn xem Nam Thái Bình Dương như là nơi tranh chấp quyền lực với Úc, Tân Tây Lan, và sau hai nước này, là với Mỹ. Ngoài sự tranh chấp ấy, họ còn nhắm đến hai mục tiêu khác. Về phương diện ngoại giao, tuy các đảo quốc này rất nhỏ, rất nghèo và rất yếu, nhưng dù sao họ cũng đều là thành viên của Liên Hiệp Quốc: mỗi nước có một lá phiếu riêng, bình đẳng với tất cả các nước khác. Trong các cuộc bầu cử, sự ủng hộ của họ cũng cần thiết như sự ủng hộ của bất cứ một quốc gia giàu mạnh nào khác. Về phương diện quân sự, các đảo quốc này nằm rải rác trên Thái Bình Dương: Tất cả đều có thể được biến thành những căn cứ quân sự cho một cuộc tranh chấp quốc tế về sau.
Úc và Tân Tây Lan từ lâu biết rõ điều đó. Mỹ, khi quyết định trở lại châu Á-Thái Bình Dương, cũng biết rõ điều đó.
Điều họ biết rõ ấy có thể nói tóm gọn lại: móng vuốt của Trung Quốc đã bắt đầu giương ra khắp nơi. Kể cả những nơi người ta ít chú ý nhất.
Bởi vậy Ngoại trưởng Hillary Clinton mới đến tham dự cuộc hội nghị ở quần đảo Cook....
http://www.voatiengviet.com/content/bien-dong-va-hinh-thuc-chien-tranh-moi/1503145.html
các hành động xác quyết chủ quyền ngang ngược của nước này trên biển Đông, dư luận quốc tế, đặc biệt là Mỹ dường như thiên về xu hướng Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực tại biển Đông và đổi đầu với Mỹ trong một cuộc chiến giữa hai cường quốc hàng đầu thế giới. Những bài viết như "Chuẩn bị cho chiến tranh với Trung Quốc" của James Holmes trên tạp chí National Interest hay "Thời khắc quân sự của Trung Quốc" do Jim Holmes viết trên chuyên sang bình luận chính trị thế giới Foreign Policy dự đoán rằng Trung Quốc sẽ sớm sử dụng vũ lực tại biển Đông.
Hơn nữa, nhiều nhà nghiên cứu quân sự còn cho rằng việc Trung Quốc phát triển quân sự theo hướng "chống tiếp cận" là nhằm đối đầu với Mỹ và ngăn cản lực lượng hải quân hàng đầu thế giới can thiệp vào khu vực, vì hiện nay, lực lượng hải quân của Trung Quốc đã vào hàng mạnh nhất tại châu Á, do đó, chiến lược "chống tiếp cận" trên biển rõ ràng là không cần thiết nếu chỉ cần đối phó với hải quân của các nước lân cận.
Nhưng không chỉ giới nghiên cứu và giới báo chí Mỹ lo ngại về việc Trung Quốc gây chiến, mà ngay cả Phòng đánh giá mạng lưới (ONA - Office of Net Assessment) của Bộ quốc phòng Mỹ còn "vẽ" ra một kịch bản về "Tác chiến không - biển" nhằm phá vỡ chiến lược "chống tiếp cận" của Trung Quốc. Kịch bản này được làn gió chạy đua vũ trang giữa các nước trong khu vực thổi lên thành hiện thực.
Theo IHS Jane's, các nước Đông Nam Á cùng nhau đã tăng 13,5% chi tiêu quốc phòng trong năm 2011, lên 24,5 tỷ USD và dự đoán sẽ tăng lên đến 40 tỷ USD vào năm 2016. Sự gia tăng chi phí quân sự chủ yếu là của các quốc gia biển ở Đông Nam Á.
Theo đánh giá của các chuyên gia quân sự thì chỉ vài năm nữa, thực lực quốc phòng của các quốc gia ASEAN, sẽ tăng đáng kể, lúc đó các hành động ngang ngược của Trung Quốc sẽ gặp không ít trở ngại. Như Philippines đã tăng chi phí quân sự lên gần gấp đôi vào 2011 và mua lại một tàu tuần tra lớp Hamilton của Mỹ, nước này cũng đã tuyên bố sẽ đấu thầu mua thêm các vũ khí mới, bao gồm cả máy bay chiến đấu, tàu tấn công nhanh, radar,... vào tháng 8/2012.
Không chỉ các quốc gia ASEAN gia tăng chi phí quốc phòng đến mức đáng lo ngại cho Trung Quốc, mà Mỹ cũng đang đẩy nhanh tốc độ triển khai chính sách "tái cân bằng chiến lược" của mình. 60% tàu chiến của Mỹ, bao gồm 6 tàu sân bay, cùng với sự tăng cường của các loại máy bay và tàu chiến hiện đại nhất sẽ xuất hiện ở Thái Bình Dương trong vài năm tới. Mật độ tàu thuyền trong tương lai sẽ rất lớn, do đó, khả năng va chạm gây xung đột cũng tăng theo, cùng với sự phát triển quân sự của các quốc gia trong khu vực và sự hiện diện của hải quân Mỹ thì chiến tranh trong tương lai sẽ không có lợi cho Trung Quốc.
Theo lý thuyết "chiến tranh phòng ngừa": "cuộc chiến hiện tại nhằm tránh nguy cơ buộc phải tham chiến trong môi trường xấu hơn trong tương lai", Trung Quốc có lí do để manh động. Một khi xảy ra, cuộc chiến sẽ diễn ra nhanh chóng nhờ sự yếu thế của các nước trong khu vực, và kết thúc trước khi Mỹ kịp trở tay.
Kịch bản đã được phác thảo, nhưng câu hỏi đặt ra là thực sự Trung Quốc có động cơ để gây chiến trong tương lai gần hay không?
"Công thành vi hạ, công tâm vi thượng"
Cái gọi là "chiến tranh phòng ngừa" chỉ giúp giảm thiểu thiệt hại, không có nghĩa là không thiệt hại, vì vậy nếu có thể đạt được điều mình muốn mà không cần phải gây chiến thì rõ ràng sẽ tốt hơn nhiều.
Nhìn thêm về mặt lịch sử, Trung Quốc không phải là một quốc gia có "thói quen" sử dụng vũ lực trong các tranh chấp mà thường chỉ khi suy giảm về ưu thế thương lượng mới dẫn đến các hành động bạo lực của Trung Quốc.
Theo giáo sư Fravel Taylor, Viện Công nghệ MIT, phân tích các trường hợp tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc từ 1949 đến giờ cho thấy: ưu thế thương lượng trong tranh chấp lãnh thổ được cấu thành từ hai yếu tố, một là phần lãnh thổ tranh chấp mà một quốc gia chiếm hữu được, hai là khả năng mở rộng sức mạnh quân sự để chống lại đối phương trong các khu vực tranh chấp, gồm cả những khu vực mà quốc gia đó có yêu sách nhưng không cai trị.
Nếu nhìn vào tình hình biển Đông hiện nay, nước này không nằm trong tình trạng suy giảm ưu thế thương lượng để phải dùng vũ lực. Những phần lãnh thổ tranh chấp không thuộc về Trung Quốc nhưng quốc gia này có khả năng kiểm soát khá lớn, và Trung Quốc sở hữu lực lượng quân sự lớn nhất trong các quốc gia tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, đủ sức chiếm toàn bộ biển Đông nếu Mỹ không can thiệp.
Hơn nữa, các hành động leo thang xung đột trong thời gian vừa qua của Trung Quốc một phần bắt nguồn từ những bất ổn nội tại của nước này. Xuất khẩu giảm mạnh; tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu chững lại; biểu tình, bạo động ở Tân Cương, Tây Tạng,...; xì-căng-đan chính trị của Bạc Hi Lai,...; tham nhũng hoành hành, .... Tất cả những bất ổn đó đã khiến Trung Quốc phải sử dụng đến chiêu bài "chủ nghĩa dân tộc" với việc tự coi mình là nạn nhân trong tranh chấp biển Đông, nhằm kích động nhân dân trong nước đối với các kẻ thù tự huyễn hoặc, từ đó đẩy bất ổn ra bên ngoài.
Thêm vào đó là sự thành công ngoài mong đợi của phép thử Scarborough khi cộng đồng quốc tế không có các hành động phản đối thiết thực, đặc biệt là Mỹ dường như đã nhắm mắt làm ngơ.
Nhưng chiêu bài "chủ nghĩa dân tộc" lại là một con dao hai lưỡi, khiến Trung Quốc không thể dừng lại mà phải tiếp tục gây hấn, sự rủi ro của leo thang căng thẳng trên biển Đông có thể dẫn đến xung đột, mà việc Mỹ có can thiệp hay không lại là điều không ai biết. Do đó, nếu xung đột xảy ra với tình trạng bất ổn nội tại chưa giải quyết, mà lại gặp phải sự can thiệp của Mỹ thì rõ ràng Trung Quốc sẽ rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan. Khi ấy không chỉ tham vọng bá quyền tan biến, mà hi vọng rút khỏi cuộc chiến với thiệt hại ít nhất có vẻ cũng là quá xa xỉ.
Với những lý do đó, Trung Quốc sẽ không dại gì triển khai "chiến tranh phòng ngừa" trong tương lai gần, còn đối với tương lai xa hơn thì lúc ấy sự phát triển của các nước lân cận cùng với chính sách "xoay trục" cũa Mỹ sẽ khiến Trung Quốc phải "suy nghĩ hai lần" nếu muốn gây chiến tranh ở biển Đông.
Điều Trung Quốc muốn khi phát triển vũ trang hay leo thang gây hấn không phải là vì chuẩn bị cho chiến tranh nhằm cướp lấy biển Đông và thách thức địa vị bá quyền của Mỹ như báo giới phương Tây lo ngại, mà mục tiêu nước này nhắm tới là để ép các quốc gia đang cùng tranh chấp ở biển Đông phải rơi vào tình trạng suy giảm ưu thế thương lượng, từ đó chèn ép họ trong đàm phán và hợp thức hóa sự chiếm hữu trái với Luật pháp quốc tế.
Từ các hành động gây hấn, cấm đánh bắt hay triển khai tàu cá nhằm tạo ra sự hiện diện pháp lý cần thiết, cho đến sự phô trương sức mạnh quân sự và triển khai tàu sân bay,... tất cả các biện pháp về quân sự và kinh tế của Trung Quốc đều nhằm dàn quân một cách ồ ạt trên quy mô lớn, tạo nên sức mạnh răn đe, và gây ra cảm giác bất an, thậm chí là sợ hãi cho các đối thủ. Khi các quốc gia luôn lo sợ nguy cơ đụng độ với Trung Quốc, thì nước này sẽ có thể từ từ gặm nhấm chủ quyền ở biển Đông. Và sau khi Trung Quốc đã chiếm giữ thì các quốc gia khác cũng vì sự lo sợ mà không dám giành lại, do lo ngại Trung Quốc sẽ leo thang xung đột và xâm chiếm nhiều hơn.
Nhìn một cách tổng thể, ưu thế thương lượng chỉ phát huy hiệu quả tốt nhất khi nằm trên bàn đàm phán, vì sự xâm chiếm bất hợp pháp dù có giữ được, vẫn là trái với Luật pháp quốc tế, và sẽ có thể gây ra sự phản đối mạnh mẽ trong cộng đồng quốc tế, chưa kể trường hợp "con giun xéo lắm cũng quằn". Nhưng nếu nằm trên bàn đàm phán, thì các quốc gia chứng kiến sức mạnh và sự hung bạo của Trung Quốc sẽ phải cân nhắc thật kĩ trước các quyết định của mình
Đàm phán bất lợi cho Trung Quốc thì nước này sẽ tiếp tục gặm nhấm chủ quyền, thậm chí là sẵn sàng tạo xung đột. Còn nhún nhường Trung Quốc sẽ có thể gây bất ổn trong nội bộ quốc gia mình, tuy nhiên, Trung Quốc sẽ không để cho các quốc gia cùng tranh chấp phải rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan, vì lúc đó sẽ khó để kiểm soát tình hình. Việc Trung Quốc leo thang xung đột cũng một phần là do nước này muốn đẩy bất ổn ra bên ngoài, nhưng nếu leo thang thành một cuộc chiến đầy rủi ro thì rõ ràng là một nước cờ liều mạng.
Vậy nên sự giảm bớt can thiệp quân sự và sự hiện diện, cũng như bỏ lại một phần nhỏ trong những vùng lãnh thổ nước này đã chiếm bất hợp pháp sẽ có thể xem như một "món quà" trao đổi, từ đó giành được những điều khoản về pháp lý, và có quyền chiếm hữu hợp pháp phần lãnh thổ còn lại mà Trung Quốc đòi hỏi.
Các cuộc đàm phán chủ quyền luôn là sự trả giá qua lại, do đó nếu Trung Quốc chiếm được càng nhiều trong quá trình gặm nhấm chủ quyền thì sẽ càng "kì kèo" được nhiều khi đàm phán. Đó là tác động tâm lý làm yên lòng, khiến cho các nước khác cảm thấy "may mắn" khi không mất nhiều hơn.
Binh pháp Trung Quốc có câu: "Công thành vi hạ, công tâm vi thượng" nghĩa là "Đánh vào thành là hạ sách, đánh vào lòng người mới là thượng sách". Ứng vào tình hình biển Đông hiện nay rõ ràng việc Trung Quốc hiện đại hóa vũ trang, leo thang gây hấn hay chiếm giữ bất hợp pháp không phải nhằm vào mục đích chiến tranh, mà chỉ là để đánh vào tâm lý của các quốc gia khác, đẩy họ rơi vào thế bị động và suy giảm ưu thế thương lượng, từ đó chiếm càng nhiều càng tốt nhằm trả giá và trao đổi trên bàn đàm phán theo hướng có lợi cho mình. Ngón đòn tâm lỳ được tung hô có thể tạo ra một cơn bão lớn khiến người khác phải lo sợ mà nhanh chóng trốn tránh, đành để mất một phần tài sản, nhằm giữ lại sinh mạng và những thứ quý giá hơn, trong khi vẫn cảm thấy may mắn. Tìm kiếm thế mạnh trong đàm phán thông qua "hiện diện quân sự" là cái đích mà Trung Quốc hiện muốn nhắm tới.
Nhưng cũng rất nên nhắc lại rằng Trung Quốc đã sử dụng vũ lực gây chết người để đẩy Việt Nam khỏi quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 và [ở Trường Sa] năm 1988. Và Trung Quốc đã khuyến dụ Campuchia, nước chủ nhà của hội nghị thượng đỉnh ASEAN năm nay chặn thông cáo chung cuối cùng lại do có kêu gọi bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông – lần đầu tiên trong lịch sử 40 năm của hiệp hội gồm 10 thành viên này không đưa ra được bản thông cáo chung.
Sự hồi sinh của chủ nghĩa dân tộc cực đoan ở Đông Á là đáng lo ngại và có thể hiểu được. Ở châu Âu, dù Hy Lạp có thể phàn nàn về các điều kiện ủng hộ Đức đề ra đối với việc tài trợ khẩn cấp, giai đoạn kể từ chiến tranh thế giới thứ II đã chứng kiến một bước tiến lớn lao trong việc đan kết các nước lại với nhau. Không có điều tương tự xảy ra ở châu Á, và các mắc mứu xuất hiện vào thập niên 1930 và 1940 vẫn còn nguyên, một vấn đề đã bị sách giáo khoa và các chính sách thiên lệch của chính phủ làm trầm trọng thêm.
Đảng Cộng sản Trung Quốc không còn thật là cộng sản nữa. Thay vào đó, cơ sở tính hợp pháp của đảng dựa trên tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và chủ nghĩa dân tộc đại Hán. Những ký ức về cuộc chiến tranh Trung-Nhật 1894-1895 và sự xâm lược của Nhật Bản trong thập niên 1930 là hữu ích về mặt chính trị và nằm khớp trong một chủ đề lớn hơn về việc Trung Quốc bị các lực lượng đế quốc hiếp đáp.
Một số nhà phân tích quốc phòng Mỹ xem chiến lược biển của Trung Quốc là hung hăng rõ rệt. Họ trỏ vào chi tiêu quốc phòng tăng lên và việc phát triển công nghệ tên lửa và tàu ngầm được thiết kế làm rào cản trên biển kéo dài từ bờ biển của Trung Quốc đến “chuỗi đảo đầu tiên” trong đó có Đài Loan và Nhật Bản.
From : Lê Xuân Khoa (BBC) ,VOA..Nguyễn Chính Tâm - Vũ Thành Công,Vnnet,....
..