Đối với Việt Nam, cán cân mậu dịch có chênh lệch nhưng so với Trung Quốc thì không có là bao nhiêu hết. Hoa Kỳ đồng ý nâng cấp “chiến lược toàn phương diện” với Việt Nam cho thấy vai trò quan trọng của Việt Nam ở Đông Nam Á để cân bằng thế lực của Trung Quốc. Sự cân bằng thế lực của Trung Quốc quan trọng hơn nhiều với cán cân mậu dịch vài trăm triệu USD một năm. Hoa Kỳ chẳng có thua thiệt gì về vấn đề này cả vì Hoa Kỳ dùng sự cân bằng này để đạt nhiều lợi nhuận ở những nơi khác.
Thời đại này là thời đại của sự liên đới nương tựa lẫn nhau nên “interdependence” quan trọng hơn “independence” rất nhiều. Trung Quốc là đối thủ của Hoa Kỳ trên nhiều phương diện, nhưng chính Trung Quốc lại là “sự nương tựa lẫn nhau” (interdependence) cho sự phát triển của Hoa Kỳ, và ngược lại, Hoa Kỳ chính là chất xúc tác cho phát triển của Trung Quốc.
Nhiều người nghĩ rằng Hoa Kỳ dùng Việt Nam như một người tiền phong chống sự bành trướng của Trung Quốc xuống phía nam. Điều đó đúng một phần. Phần khác có lẽ cũng quan trọng không thua kém gì khác lại quan trọng hơn đó là Hoa Kỳ dùng Việt Nam như đầu cầu để khai thác tài nguyên và đầu tư của Khối Asean.
Cục diện của Việt Nam không thể nào chỉ được đánh giá dễ dàng hay không dễ dàng dựa trên tiểu chuẩn giữa Việt Nam và Hoa Kỳ mà phải nói dựa trên tiêu chuẩn “con cờ Việt Nam” như thế nào trong ván cờ quốc tế.
Trong ván cờ quốc tế hiện nay, Việt Nam đang từ từ trỗi dậy ở phía nam, là đầu tàu quan trọng của Asean nên Hoa Kỳ đối xử rất “rộng tay” với Việt Nam cho dầu còn có nhiều vấn đề lấn cấn như vấn đề đàn áp nhân quyền hay không có đối lập ở Việt Nam. Đó là lý do tại sao Tổng Thống Barack Obama đã tiếp đón rất long trọng với Chủ Tịch Trương Tấn Sang và đã rộng tay trong vấn đề mậu dịch với Việt Nam dẫu rằng rất nhiều người Việt biểu tình ở ngoài Tòa Bạch Ốc cũng như nhiều Thượng Nghị Sĩ và Dân Biểu của Hoa Kỳ đã viết thư yêu cầu Tổng Thống Barack Obama làm áp lực với Chủ Tịch Trương Tấn Sang nhiều hơn nữa trong vấn đề nhân quyền.
Quá trình của Hoa Kỳ đối xử với Trung Quốc như thế nào trong những thập niên trước cũng sẽ được áp dụng tại Việt Nam. Như thế, trong khoảng 2 thập niên tới, chúng ta sẽ thấy Hoa Kỳ rất “rộng rãi” với Việt Nam giúp cho Việt Nam trở thành một Trung Quyền Lực (Middle Power) để thăng bằng cán cân trong vùng. Trong những thập niên trước, Hoa Kỳ cũng đã từng lên tiếng về vấn đề nhân quyền ở Trung Quốc thì Hoa Kỳ cũng sẽ liên tục lên tiếng vấn đề nhân quyền ở Việt Nam trong những thập niên tới, nhưng đó cũng chỉ là chiêu thức võ miệng chứ trong thực tế không có tác dụng mạnh mẽ.
Vì chính sách thực tiễn của Hoa Kỳ nên Hoa Kỳ dùng những cuộc biểu tình hay những thỉnh nguyện thư của người Việt như một lá bài để trả giá với Việt Nam. Thời điểm này Việt Nam cũng đã khá thành thạo chính sách đó của Hoa Kỳ nên khi cần thì họ tương nhượng và khi thấy quyền lực của Đảng Cộng Sản bị gậm nhấm thì họ nhất quyết không thỏa hiệp. Đó là nguyên do chúng ta thấy trong chuyến công du của Chủ Tịch Trương Tấn Sang vừa qua đã không có những sự trả tự do cho các bloggers trước khi ông đến Washington D.C và dự trù cũng sẽ không thả một ai sau chuyến công du.
'Nói gà, nói vịt'BBC: Kinh nghiệm của ông từ TP Houston cho thấy khi thúc đẩy đầu tư của Hoa Kỳ sang Việt Nam, doanh nhân Mỹ e ngại điều gì? Tham nhũng? Luật lệ bất nhất?
"Tổng Thống Obama hiểu nhân quyền theo tiêu chuẩn khác và Chủ Tịch Trương Tấn Sang hiểu nhân quyền theo tiêu chuẩn khác. Tôi cho rằng trong cuộc họp Thượng Đỉnh Mỹ Việt vừa qua, ở phạm trù nhân quyền, ông đã nói gà và bà đã nói vịt"
Kinh nghiệm của tôi ở Thành phố Houston, các doanh nhân e ngại luật pháp của Việt Nam còn rất bấp bênh. Họ e ngại Ngành Tư pháp không được độc lập hơn là e ngại vấn đề tham nhũng. Vấn đề tham nhũng là một vấn nạn nhưng cũng còn có thể giải quyết bằng luật pháp. Hệ thống luật pháp không có vững và ngành tư pháp không độc lập thì không còn cách gì để cứu vãn. Do đó, triệt hạ tham nhũng là một cấp bách, nhưng Việt Nam cần xây dựng hệ thống luật pháp vững vàng và ngành tư pháp phải được độc lập lại càng cấp bách hơn.
BBC: Là một luật sư, ông nghĩ sao về tuyên bố chung Mỹ – Việt nói về nhân quyền? Quan hệ giữa nhân quyền và nhà nước pháp quyền trong bối cảnh VN hiện nay ra sao?
Nhân quyền là một vấn đề khá trừu tượng vì mỗi người hiểu nhân quyền theo quan niệm của họ. Tôi được biết rất nhiều Thượng Nghị Sĩ và Dân Biểu Hoa Kỳ đã viết thư yêu cầu Tổng Thống Barack Obama nói về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam với Chủ Tịch Trương Tấn Sang. Tổng Thống Obama hiểu nhân quyền theo tiêu chuẩn khác và Chủ Tịch Trương Tấn Sang hiểu nhân quyền theo tiêu chuẩn khác. Tôi cho rằng trong cuộc họp Thượng Đỉnh Mỹ Việt vừa qua, ở phạm trù nhân quyền, ông đã nói gà và bà đã nói vịt. Rốt cuộc, quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ không xoáy sâu vào vấn đề nhân quyền mà là quyền lợi kinh tế cũng như ảnh hưởng chính trị của mỗi quốc gia.
Ở Việt Nam hiện nay các cán bộ Cộng sản cũng tự hào họ có dân chủ nhưng phải hiểu “Dân Chủ” ở đây là “Dân Chủ Tập Trung của Đảng Cộng Sản” nên khi bàn đến nhiều khi không đạt được kết quả chỉ vì hai quan niệm khác nhau. Các bloggers bị bắt bỏ tù nhiều năm tháng cũng chỉ vì quan niệm “Dân Chủ” thì phải có “đa đảng” khác với quan niệm “độc đảng” của Đảng Cộng Sản. Một nhà nước nhân quyền như Hoa Kỳ khi làm việc với một nhà nước độc đảng như Việt Nam thì buộc lòng họ phải nhân nhượng một số nguyên tắc để cả hai cùng có lợi. Chính vì “quyền lợi” là nền tảng cho sự quan hệ nên chúng ta thấy đề tài nhân quyền có được nêu lên đi nữa thì chỉ là món đồ trang sức chớ không đi vào thực dụng và có đủ “răng” để “cắn” cho Việt Nam phải chấp thuận đa đảng.
Học bài học đầy thực tiễn này, các nhà đấu tranh dân chủ cần phải uyển chuyển sách lược để mang lại kết quả hơn là cứ nêu cao sĩ khí ngất trời rồi tốn hao chủ lực. Nhưng khổ bản chất của sĩ phu lại đặt nặng ý tưởng “thà chết vinh hơn sống nhục” nên âu đó cũng là vận nước vậy.
Mỹ ưu ái Hà Nội, coi nhẹ Phnom Penh?
Tạp chí Anh, The Economist trong tuần này lại tiếp tục bàn về quan hệ Mỹ Việt nhân chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch Trương Tấn Sang tới Washington nơi lãnh đạo hai nước đưa quan hệ song phương lên mức “đối tác toàn diện”.
Tiếp theo bài báo vào tuần trước, bài viết vào tuần này mang Campuchia vào nhằm so sánh cách ứng xử của Washington với hai nước ở châu Á cùng chung đường biên, đặc biệt là trong mảng nhân quyền.
Các bài liên quanThủ tướng hùng mạnh'Triều đại Hun Sen' còn kéo dài?Mỹ-Việt: 'Vuốt ve' thay 'khiêu khích'
Chủ đề liên quanNgoại giao Việt NamKhi ông Obama có cuộc họp duy nhất với Thủ tướng Campuchia, Hun Sen, tại Phnom Penh hồi năm ngoái, người phát ngôn phía Mỹ đã nói thẳng với báo giới rằng bầu không khí họp là "căng thẳng".
Lý do là vì ông Obama huấn thị ông Hun Sen về các trường hợp vi phạm nhân quyền xảy ra ở Campuchia.
Lập trường cứng rắn của tổng thống Hoa Kỳ được hậu thuẫn bởi các chính trị gia Mỹ vốn to tiếng vận động nhằm yêu cầu cắt giảm viện trợ của Mỹ nếu cuộc bầu cử ở Campuchia không "đáng tin cậy".
Thậm chí một số người còn muốn các tổ chức quốc tế như ADB, Ngân hàng Phát triển Châu Á , đã và đang giúp cấp vốn để Campuchia tái thiết, đưa ra các tuyên bố đe dọa Phnom Penh.
Bài báo đặt câu hỏi rằng liệu các nhà lãnh đạo của Việt Nam xứng đáng được [Hoa Kỳ] đón nhận trong khi Campuchia bị Hoa Kỳ giữ khoảng cách?
Xét về các tiêu chí dân chủ và nhân quyền, có lẽ là không, The Economist bình luận và tìm cách giải thích.
Chọn đồng minh
Một số dân biểu Hoa Kỳ ra sức vận động để Washington gây sức ép với Hà Nôi về nhân quyền.
Bài báo dẫn chiếu tại điều họ gọi là “Cuộc bầu cử của Campuchia là không hoàn hảo”, nhưng hầu hết các nhà quan sát nói rằng quá trình tranh cử cởi mở hơn và cạnh tranh hơn so với hai lần trước.
Trong khi đó Đảng Cộng sản cầm quyền tại Việt Nam, báo này viết, chẳng hề bận tâm tới bầu cử và cũng không chấp nhận bất cứ hình thức cạnh tranh chính trị nào. Trấn áp là chuyện xảy ra như cơm bữa.
“Ở Washington một vài nhà lập pháp Mỹ, được cộng đồng người Mỹ gốc Việt góp giọng, phàn nàn về việc Washington nhẹ tay đối với nhà cầm quyền Hà Nội. Tuy nhiên chẳng ai dường như đang lắng nghe.
“Lý do cho sự khác biệt trong cách đối xử của Washingon với Hà Nội và Phnom Penh được xem là nằm ở chỗ chính quyền ông Obama đã và đang đã chọn Việt Nam như một đồng minh trong chiến lược tái cân bằng về an ninh tại khu vực châu Á Thái Bình Dương, nhất là trong bối cảnh Việt Nam tỏ ra không chịu bị lấn át trước đối thủ mới của Mỹ là Trung Quốc, trong các tranh chấp lãnh hải trong khu vực.
“Hoa Kỳ cũng muốn Việt Nam trở thành nước thành viên của liên minh thương mại tự do mới của họ, TPP, và dường như sẵn sàng bỏ qua cho Hà Nội nhiều thứ để giành được hai mục tiêu địa chiến lược.
“Campuchia, ngược lại, là đồng minh chính của Trung Quốc trong khu vực và sẽ không tham gia TPP trong thời gian ít nhất là trước mắt.
“Chính trị thực dụng, vốn thịnh hành trong những năm 1970, đã trở lại”, bài báo có tựa Bấm America, Vietnam and Cambodia, Realpolitik Redux (Tạm dịch là Hoa Kỳ, Việt Nam và Campuchia, sự trở lại của chính trị thực dụng) nhận định.
'Chưa ngã ngũ'
"Tuyên bố Chung sau cuộc họp bàn giữa ông Obama và ông Sang cho thấy quan hệ đối tác toàn diện giữa hai bên vẫn là công việc còn đang trong giai đoạn chưa ngã ngũ"
Trong khi đó Giáo sư Carl Thayer, nhà quan sát chính trị Việt Nam lâu năm, đã có bài lý giải điều ông gọi là "hai khả năng có thể lý giải vì sao Hoa Kỳ và Việt Nam chọn đối tác toàn diện thay vì đối tác chiến lược".
Trước tiên, các cuộc đàm phán bị bế tắc do thực trạng nhân quyền ở Việt Nam ngày càng tệ đi, cả hai phía cùng kết luận rằng có đồng thuận ở không cao hẳn vẫn tốt hơn là không đạt được thỏa thuận nào.
Lý do thứ hai, theo ông Thayer, là có tin nói phe bảo thủ trong Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn phản đối sử dụng cụm từ “đối tác chiến lược” để mô tả quan hệ giữa nước họ với Hoa Kỳ.
Vậy câu hỏi đặt ra là liệu quan hệ đối tác toàn diện Hoa Kỳ - Việt Nam có nên được coi như đối tác chiến lược, nhưng dưới một tên gọi khác.
Theo nhà quan sát chính trị Việt Nam lâu năm từ Học viện Quốc phòng Úc, nếu nhìn kỹ hơn, Tuyên bố Chung sau cuộc họp bàn giữa ông Obama và ông Sang cho thấy quan hệ đối tác toàn diện giữa hai bên vẫn là công việc còn đang trong giai đoạn chưa ngã ngũ.
Trước tiên, phần lớn những gì được bao gồm trong Tuyên bố Chung gồm chín điểm chỉ đơn thuần nhắc lại những lĩnh vực và cơ cấu hợp tác đã tồn tại sẵn. Đó là: Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư, Ủy ban Hợp tác Khoa học và Kỹ thuật, Đối thoại Chính sách Quốc phòng, và Đối thoại Chính trị, An ninh và Quốc phòng.
Tuy nhiên, quan hệ đối tác toàn diện đã tạo ra cơ cấu đối thoại mới về ngoại giao và chính trị giữa Ngoại trưởng Mỹ và Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam.
"Thỏa thuận mới này [đối tác toàn diện] giữa Việt Nam và Hoa Kỳ không đạt được những điểm giống các thỏa thuận đối tác chiến lược chính thức khác [mà Việt Nam ký với các nước] và hiện còn thiếu tầm nhìn chiến lược so với quan hệ đối tác toàn diện của Việt Nam đàm phán với Úc"
Thứ hai, không có bản Kế hoạch Hành động hiện đi kèm thỏa thuận đối tác toàn diện. Thay vào đó, Tuyên bố Chung ghi rằng hai chính phủ sẽ tạo ra cơ chế mới để hợp tác riêng theo chín lĩnh vực: quan hệ chính trị và ngoại giao, quan hệ thương mại và kinh tế, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, môi trường và y tế, các vấn đề hậu quả chiến tranh, quốc phòng và an ninh, bảo vệ và khuyến khích nhân quyền, và văn hóa, thể thao, và du lịch.
Tựu chung, quan hệ đối tác mới sẽ đẩy mạnh hợp tác đôi bên về các mảng mậu dịchi và kinh tế, trong đó có việc hoàn tất thỏa thuận mậu dịch tự do Xuyên Thái Bình Dương (TPP), và đặt nền tảng cho các đối thoại cấp bộ giữa hai nước.
Tuy nhiên, giáo sư Thayer kết luận rằng, thỏa thuận mới này [đối tác toàn diện] giữa Việt Nam và Hoa Kỳ không đạt được những điểm giống các thỏa thuận đối tác chiến lược chính thức khác [mà Việt Nam ký với các nước] và hiện còn thiếu tầm nhìn chiến lược so với quan hệ đối tác toàn diện của Việt Nam đàm phán với Úc
Câu chuyện về sự đón tiếp của ông Obama với Chủ tịch Việt Nam tiếp tục là đề tài bàn luận, kể cả ở châu Á.
Báo Taipei Timeshôm 1/8 có bài trích bình luận của US Today nói Tổng thống Mã Anh Cửu của Đài Loan, nước đồng minh của Mỹ, đã không được Nhà Trắng đón tiếp long trọng bằng ông Trương Tấn Sang
Ấn Độ giúp Việt Nam mua thêm 4 tàu tuần tra
Tên lửa Brahmos do Ấn Độ và Nga hợp tác sản xuất là vũ khí Việt Nam đang nhắm tới.
Theo tiết lộ của nhật báo Ấn Độ The Hindu số ra ngày hôm nay, 28/07/2013, lần đầu tiên từ trước đến nay, Ấn Độ sẽ cấp tín dụng cho Việt Nam để mua thiết bị quân sự. Khoản vay 100 triệu đô la - sử dụng để mua bốn tàu tuần tra - sẽ được đúc kết vào cuối năm nay nhân chuyến thăm Ấn Độ của Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam.
Trích dẫn một số nguồn tin từ chính phủ Ấn Độ, báo The Hindu ghi nhận đây là một trong những trường hợp hiếm hoi New Delhi cung cấp tín dụng quốc phòng cho một nước « xa xôi ». Thông thường, đối tượng được New Delhi cho vay để mua thiết bị quân sự thường là các láng giềng nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của Ấn Độ. Đảo quốc Mauritius - với lực lượng không quân và hải quân dùng trang thiết bị của Ấn Độ - là một ví dụ. Nước này đã được cấp tín dụng để mua tàu tuần tra và máy bay trực thăng Dhruv của Ấn Độ.
Đối với Việt Nam, Ấn Độ muốn mở rộng quan hệ quốc phòng qua lãnh vực thiết bị quân sự và một trong những loại vũ khí đứng đầu danh mục mặt hàng mà Hà Nội muốn mua là tên lửa Brahmos, loại vũ khí do Ấn Độ và Nga hợp tác sản xuất.
Sự kiện Ấn Độ sẵn sàng cấp tín dụng cho Việt Nam để mua tàu tuần tra diễn ra trong bối cảnh New Delhi đã một lần nữa tỏ quyết tâm tiếp tục tham gia vào hoạt động thăm dò khai thác dầu khi trong tại vùng bồn trũng Phú Khánh ngoài Biển Đông, dọc theo bờ biển miền Trung Việt Nam, bất chấp các động thái hù dọa của Trung Quốc.
Việt Nam gần đây đã tái khẳng định quyền của mình được mời Ấn Độ đến thăm dò và khai thác dầu khi trong khu vực thuộc chủ quyền Việt Nam này. Tuy nhiên, Trung Quốc lại xác định rằng vùng đó nằm bên trong đường lưỡi bò mà họ đơn phương vẽ ra để đòi quyền sở hữu trên hầu như toàn bộ Biển Đông.
Quyết định của New Delhi giúp Việt Nam tăng cường đội tàu tuần tra của mình cũng được tiết lộ, trong bối cảnh Ấn Độ tăng cường quan hệ an ninh với tất cả các nước ở vùng Đông Nam và Đông Bắc Á trong chính sách hướng Đông của mình.
Từ lâu nay, Hải quân Ấn Độ và một số nước Đông Nam Á đã cùng tham gia loạt tập trận hải quân đặt tên là Milan. Hải quân Ấn Độ phối hợp với Thái Lan tiến hành các cuộc tuần tra chung, và cùng diễn tập quân sự với Singapore và Nhật Bản
From : BBC,.....