Trong khi khát vọng dân chủ có thể biểu hiện qua nhiều cách, một số nguyên tắc phổ quát sau vốn là cốt lõi của bất cứ xã hội dân chủ nào: chính quyền đại diện (được hình thành qua các cuộc bầu cử tự do và công bằng), pháp trị và trách nhiệm (được thi hành bởi một ngành tư pháp độc lập), và tự do ngôn luận (điển hình như báo chí không bị kiểm duyệt). Tuy nhiên, dân chủ còn có ý nghĩa vượt lên trên các định chế chính thức này; nó còn là tự do đích thực và sức mạnh cho mỗi cá nhân. Tôi không là một chuyên gia về chính trị học cũng chẳng phải là một người có thẩm quyền về dân chủ và pháp trị. Đúng hơn, tôi chỉ đơn thuần là một tu sĩ Phật giáo, được tu học theo phương cách cổ truyền của chúng tôi. Tuy vậy, một đời tu học Phật pháp và việc tham gia vào cuộc đấu tranh bất bạo động cho tự do của nhân dân Tây Tạng đã cho tôi một số tri kiến mà tôi muốn được bàn luận nơi đây.
Là một nhà sư, tôi không thấy khái niệm và việc thực hành dân chủ là xa lạ. Trong cốt lõi, Phật giáo quan niệm mọi người đều có tiềm năng giác ngộ và toàn mãn, và thành tựu điều này thì tùy theo hạnh tinh tấn của mỗi người. Đức Phật đã chỉ ra rằng mỗi người là chủ nhân của số phận mình; điều này nhấn mạnh việc mỗi người đều có khả năng đạt đến giác ngộ. Trong ý nghĩa này, thế giới quan của Phật giáo công nhận mọi người về cơ bản là tương đồng. Cũng như Phật giáo, nền dân chủ hiện đại đặt cơ sở trên nguyên tắc mọi người cơ bản là bình đẳng, và mỗi chúng ta đều có quyền sống, tự do, và hạnh phúc như nhau. Cho dẫu giàu hay nghèo, có học hành hay không, theo tôn giáo này hay tôn giáo kia, mỗi chúng ta là một con người. Chúng ta không chỉ mong cầu hạnh phúc và tìm cách trốn lánh khổ đau, mà mỗi người chúng ta còn có quyền theo đuổi các mục đích này như nhau. Như vậy không chỉ Phật giáo và dân chủ tương hợp nhau, chúng cùng bắt rễ từ sự hiểu biết chung về sự bình đẳng và tiềm năng của mỗi con người.
Xét dân chủ như một quy trình để quyết định một vấn đề, một lần nữa chúng ta cũng tìm thấy trong truyền thống Phật giáo một sự công nhận phần nào về nhu cầu đồng thuận. Thí dụ, tu viện Phật giáo có một lịch sử lâu đời về việc quyết định những chuyện quan trọng có ảnh hưởng đến đời sống cá nhân của tu sĩ bằng cách thảo luận tập thể. Quả thực, nói cho đúng, mỗi nghi thức liên quan đến việc duy trì nếp tu tập của tu viện phải được thực hiện bởi một cuộc họp của ít nhất bốn vị sư. Do đó có thể nói các giới luật quản trị đời sống và hành vi của tăng đòan đã được thực hiện theo truyền thống dân chủ. Ít ra trên lý thuyết, ngay cả những giáo pháp của Đức Phật trong một số hoàn cảnh cũng có thể sửa đổi bằng một cuộc kiết tập bởi một số tu sĩ đã thọ giới.
Vì là con người, tất cả chúng ta đều muốn sống trong một xã hội mà chúng ta có thể tự do phát biểu và nỗ lực để thành đạt tốt nhất. Cùng lúc đó, việc theo đuổi những dục vọng thoả mãn riêng cho bản thân mà làm thiệt hại đến người khác có thể dẫn đến sự hỗn loạn và vô chính phủ. Vì thế, cần có một hệ thống để các quyền lợi cá nhân được cân bằng với hạnh phúc rộng lớn của toàn thể cộng đồng. Vì lý do này, tôi cảm thấy cần phải phát triển ý thức trách nhiệm chung, sự quan tâm sâu sắc về nhân loại, không phân biệt tôn giáo, màu da, phái tính, hay quốc tịch. Nếu chúng ta chọn sống theo lối chỉ nghĩ đến bản thân và luôn lợi dụng người khác để thăng tiến lợi ích riêng, chúng ta có thể được lợi lộc nhất thời, nhưng về lâu dài hạnh phúc sẽ tránh né chúng ta. Thay vì thế, chúng ta phải học cách hành động không chỉ riêng cho bản ngã, mà còn vì lợi lạc cho toàn thể nhân quần.
Trong khi thật sự không có hệ thống chính quyền nào là toàn mỹ, chế độ dân chủ gần gũi nhất với bản chất cốt lõi của con người và nó cho chúng ta cơ hội lớn nhất để xây dựng tinh thần trách nhiệm chung. Là một Phật tử, tôi có tín tâm mạnh mẽ vào cách tiếp cận nhân bản hướng đến dân chủ, một cách tiếp cận nhận chân được sự quan trọng của cá nhân nhưng không quên trách nhiệm đối với toàn thể nhân lọai. Phật giáo nhấn mạnh khả năng tiềm tàng của cá nhân, nhưng chúng ta cũng tin tưởng rằng mục đích của một cuộc sống có ý nghĩa là phụng sự mọi người.
Nhiều quốc gia xem việc tôn trọng các quyền công dân và chính trị của mỗi cá nhân là khía cạnh quan trọng nhất của dân chủ. Các nước khác, nhất là tại các nước đang phát triển, xem các quyền của xã hội – đặc biệt quyền phát triển kinh tế -- vượt lên trên các quyền cá nhân. Tôi tin rằng sự phát triển kinh tế và sự quan tâm đến các quyền cá nhân có liên quan mật thiết. Một xã hội không thể phát huy tối đa những thuận lợi về kinh tế mà không thừa nhận quyền công dân và chính trị của nhân dân. Đồng thời, những quyền tự do này cũng bị giảm thiểu đi nếu các nhu cầu cơ bản của đời sống không được đáp ứng.
Một số nhà lãnh đạo Châu Á cho rằng dân chủ và các tự do đi cùng với nó là những sản phẩm của riêng nền văn minh Tây Phương. Họ khẳng định các giá trị Á Đông khác biệt đáng kể, nếu không nói là hoàn toàn, với dân chủ. Họ tranh cãi là nền văn hoá Á Đông nhấn mạnh đến trật tự, bổn phận, và ổn định, trong khi trọng tâm của nền dân chủ Tây Phương vào các quyền cá nhân và tự do lại làm suy yếu các giá trị đó. Họ cho rằng người Châu Á có những nhu cầu cơ bản về sự thoả mãn cá nhân và xã hội khác. Tôi không chia sẻ quan điểm này.
Tin tuởng nền tảng của tôi là mọi người đều có cùng một ước vọng cơ bản: tất cả chúng ta đều mong cầu hạnh phúc và tất cả chúng ta đều trải nghiệm khổ đau. Cũng như dân châu Mỹ, châu Âu, và các nước khác trên thế giới, người châu Á ước mong sống một cuộc sống trọn vẹn, cải thiện chính mình và đời sống của người thân yêu. Ấn Độ, nơi sinh của Thánh Gandhi và khái niệm ahimsa, hay bất bạo động, là thí dụ tuyệt vời về một quốc gia châu Á nhiệt tình với thể chế dân chủ. Ấn Độ chứng minh cho thấy dân chủ có thể bắt rễ ăn sâu ở ngoài thế giới phương Tây. Tương tự, các anh chị em của chúng ta ở Miến Điện, Indonesia, và Trung hoa cũng đang dũng cảm cùng cất cao giọng kêu gọi bình đẳng, tự do, và dân chủ.
Thực tế các cải cách dân chủ đang là trào lưu trên toàn thế giới, từ Cộng Hoà Czech đến Mông Cổ, và từ Nam Phi đến Đài Loan, là chứng nhận cho sức mạnh của các lý tưởng mà dân chủ thể hiện. Càng có nhiều người ý thức được tiềm năng của mình thì số người muốn phát biểu những suy nghĩ của chính mình qua hệ thống dân chủ càng tăng. Các khuynh hướng toàn cầu này đã minh họa cho tính phổ quát của khát vọng về một hình thái chính quyền tôn trọng pháp trị và nhân quyền.
Trường hợp Tây Tạng
Tôi hết sức kiên quyết với việc hiện đại hoá chính trị và dân chủ hoá quê hương Tây Tạng của tôi và đã nỗ lực để phát triển một hệ thống dân chủ cho người dân Tây Tạng sống lưu vong. Năm 1963, tôi công bố bản hiến pháp dân chủ của Tây Tạng, và cộng đồng lưu vong chúng tôi đã đáp ứng tốt với thách thức của cuộc thí nghiệm dân chủ này trong nhiều hoàn cảnh khó khăn. Năm 1969, tôi đã tuyên bố thể chế Dalai Lama có tiếp tục tồn tại hay không là tùy thuộc vào nguyện vọng của nhân dân Tây Tạng. Năm 1991, cơ quan lập pháp của chúng tôi, Hội đồng Đại biểu Nhân dân Tây Tạng, đã thông qua Hiến Chương của Người Tây Tạng Lưu Vong, mở rộng thành phần của Hội đồng và chuyển giao quyền lực từ tôi sang cơ quan này quyền tuyển chọn thành viên Nội Các. Mặc dầu Hiến chương này được mô phỏng dựa theo hiến pháp của các nền dân chủ chính thức, nó cũng phản ánh bản chất độc đáo của văn hoá và hệ thống giá trị của Tây Tạng: bảo vệ tự do tôn giáo, duy trì nguyên tắc bất bạo động, và chú trọng việc vận động cho phúc lợi vật chất và tinh thần của nhân dân Tây Tạng.
Năm 1992, để hướng các nỗ lực đến việc tác động thực sự lên đời sống của người Tây Tạng đang sống tại quê nhà, tôi công bố Chỉ đạo về Thể chế Tương lai của Tây Tạng. Văn kiện này đặt cơ sở trên niềm hy vọng rằng chúng tôi sẽ đạt được một thỏa thuận trong thương thảo với chính quyền Trung Quốc về quyền tự trị của nhân dân Tây Tạng. Tôi tin rẳng, một khi đạt được một hiệp định như thế, chính nhân dân Tây Tạng bên trong Tây Tạng sẽ nhận trách nhiệm chính trong việc quyết định về nền cai trị tương lai, và các viên chức đang phục vụ trong vị trí lãnh đạo ở Tây Tạng sẽ chịu trách nhiệm lớn hơn trong tương lai.
Người Tây Tạng bị tấn công trực diện trên mọi mặt, chính nền văn hoá của Tây Tạng bị đe dọa .
*************
***************************
*************
*************************
Không may, dân Tây Tạng sống trong Tây Tạng chưa được chia sẻ những tự do của dân chủ mà chúng tôi đã áp dụng trong khi sống lưu vong. Thật tế, nhiều thập niên qua, anh chị em chúng tôi ở Tây Tạng đã phải chịu đựng khôn cùng. Người Tây Tạng bị tấn công trực diện trên mọi mặt, chính nền văn hoá của Tây Tạng bị đe dọa. Tôi tin nhân dân Tây Tạng có quyền bảo tồn di sản văn hoá riêng và độc đáo của họ. Tôi cũng tin họ phải được quyết định tương lai, hình thức chính quyền, và hệ thống xã hội của họ. Không người dân Tây Tạng nào thích lập lại các định chế chính trị và xã hội lỗi thời, nhưng chúng tôi là một đất nước sáu triệu dân có quyền sống như con người.
Vì dân Tây Tạng chúng tôi bắt đầu chuyển hướng về dân chủ, chúng tôi biết là để tạo sức mạnh cho dân thì chúng tôi phải cho họ hiểu biết đầy đủ về các quyền và trách nhiệm của công dân trong một xã hội dân chủ. Vì vậy, tôi dồn sự chú ý nhiều vào giáo dục. Nhân dân Tây Tạng càng học hỏi nhiều về tiềm năng cá nhân và khả năng đóng một vai trong việc cai quản đất nước thì xã hội chúng tôi càng hùng mạnh.
Về một số mặt, tôi là một Dalai Lama kém may mắn nhất, vì thời gian tôi sống tỵ nạn bên ngoài đất nước nhiều hơn sống trong nước. Mặt khác, nó cũng bổ ích khi tôi được sống trong một nền dân chủ và học hỏi thế giới những điều mà dân Tây Tạng chúng tôi trước đây chưa từng làm. Nếu tôi còn sống trong nước và lãnh đạo Tây Tạng, chắc chắn tôi đã nỗ lực để thực hiện đổi mới hệ thống chính trị, nhưng ngay cả khi đó, vẫn có khả năng tôi sẽ còn chịu ảnh hưởng bởi môi trường chính trị thủ cựu tồn tại ở quê nhà. Sống bên ngoài Tây Tạng đã cho tôi những tầm nhìn vô giá. Tôi biết hệ thống chính trị trước đây của chúng tôi đã lỗi thời và không trang bị đủ để đối mặt với những thách thức của thế giới đương đại.
Ngày nay, thế giới ngày càng trở nên tưong lập. Trong thời buổi của hợp tác và trao đổi xuyên biên giới, điều quan trọng là Hoa Kỳ và các quốc gia dân chủ khác nên giúp gìn giữ và đẩy mạnh các khuynh hướng dân chủ trên thế giới. Thí dụ, sự phân rã của Liên Bang Sô Viết có thể được xem là chiến thắng đáng kể về dân chủ và nhân quyền. Thực tế, nhiều nhà lãnh đạo Phương Tây, kể cả những vị ở Hoa Kỳ, đã nhận công từ việc kết thúc Liên Bang Sô Viết. Tuy nhiên, hiện nay, các điều kiện ở Nga là kinh khủng và nhiều nước cộng hoà Sô Viết trước đây đang đối mặt với viễn cảnh hỗn loạn về chính trị và kinh tế. Sự thất bại trong thí nghiệm dân chủ ở Nga có thể tạo nên một tác động xấu trên thế giới và giúp cho những người nói xấu dân chủ thêm năng lực và sức mạnh. Vì thế tôi tin đây là trách nhiệm của thế giới tự do dân chủ phải giúp đỡ các quốc gia đang dũng cảm tiến bước hướng đến dân chủ và hiện đang gắng sức để nó hoạt động hữu hiệu.
Tôi cũng hiểu mọi người có quyền quan tâm đến sự an nguy của đất nước họ. Nhưng chắc chắn điều quan trọng hơn là hỗ trợ việc xây dựng sự bình ổn ở những vùng bất an như Liên Bang Sô Viết cũ, bằng kinh tế và các phương tiện trợ giúp khác, thay vì đầu tư vào việc gia tăng kho vũ khí tinh vi và ngân sách quốc phòng cao vọt. Hơn nữa, mặc dầu mỗi quốc gia có quyền quyết định nhu cầu an ninh riêng của họ, tôi tin rằng phương pháp bất bạo động là con đường mang tính xây dựng nhất để bảo vệ hoà bình lâu dài.
Kết luận, tôi muốn nhấn mạnh lần nữa chúng ta phải có một tín tâm kiên cố trong việc công nhận tính chất phổ quát của các giá trị đạo đức và chính trị cơ bản vốn là nền tảng của dân chủ. Công nhận và tôn trọng các quyền cơ bản, quyền tự do ngôn luận, tính bình đẳng của nhân lọai, và pháp trị phải được nhìn không chỉ như một khát vọng mà là như những điều kiện cần thiết của một xã hội văn minh.
From : Phật Giáo, giá trị Á Đông, và dân chủ
Đức Đạt Lai Lạt Ma * Phan Quốc Tâm (Danlambao) dịch
Nguồn: Dalai Lama XIV (1999). Buddhism, Asian Values, and Democracy. Journal of Democracy, 10(1), 3-7
Giải pháp Dân chủ đa nguyên như vũ khí chống ngoại xâm và phát triển đất nước
Viện Tăng Thống vừa gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế lá Thư Ngỏ của Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), về Giải pháp Dân chủ đa nguyên như vũ khí chống Ngoại xâm và Phát triển đất nước để phổ biến.
GHPGVNTN qua tiếng nói của Đức cố Đệ tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang và Đức Đương kim Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ đã dõng dạc lên tiếng cho tiến trình Dân chủ hoá Việt Nam từ đầu thập niên 90 cho đến nay. Với vấn đề Trung Cộng xâm lăng biển đảo và lãnh thổ Việt Nam, hay đại nạn sinh thái và mai phục vùng yết hầu Tây nguyên khi Hà Nội để Trung quốc vào đây khai thác bô-xít, Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, cũng đã cất tiếng báo động rất sớm từ năm 2007.
Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ bên giỏ hoa do Phật tử dâng tặng ngày Tết
Hôm nay, nhân dân trong và ngoài nước khắc khoải, phẫn nộ trước sự kiện xâm lấn vùng đặc quyền kinh tế của Trung quốc khi đặt giàn khoan Hải dương 981 đầu tháng 5 vừa qua, thì nhà cầm quyền Hà Nội vẫn lửng lơ trong ý chí và thái độ ươn hèn trước nguy cơ mất nước.
Vì vậy, ngày 10.5 vừa qua, nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện, Đức Tăng Thống đã ra Tuyên Cáo về việc Trung quốc vi phạm lãnh hải Việt Nam. Và hôm nay, Ngài gửi lá Thư Ngỏ về Giải pháp Dân chủ đa nguyên như vũ khí chống Ngoại xâm và Phát triển đất nước, ký tại Thanh Minh Thiền Viện, ở Saigon ngày 16.6.2014. Sau đây là toàn văn Thư Ngỏ ấy :
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN TĂNG THỐNG
90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP Saigon
Phật lịch 2558
Số 04/TN/TT/VTT
THƯ NGỎ
của Đức Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
về Giải pháp Dân chủ đa nguyên như vũ khí
chống ngoại xâm và phát triển đất nước
Thời gian qua, Hội đồng Lưỡng Viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) và bản thân tôi, nhận được nhiều thư của quý nhân sĩ và đồng bào các giới thúc đẩy Giáo hội lên tiếng, và đề xuất những biện pháp cứu nguy đất nước, trước nạn độc tài đảng trị làm điêu linh dân tộc. Vô hình trung, nạn độc tài này lại nuôi dưỡng bước chân xâm lược biển đảo và lãnh thổ mà tổ tiên nước Việt đã đổ xương máu gầy dựng suốt bao nhiêu đời.
Chúng tôi tri ân sự tin cậy và trông chờ của chư liệt vị đối với Giáo hội chúng tôi. Tuy nhiên điều cần nói là GHPGVNTN là một tôn giáo, hoà quyện cùng dân tộc trên hai nghìn năm qua, để dựng xây nền văn hiến và bảo vệ chủ quyền nước Việt. Sự đóng góp này là ý chí hoằng hoá chúng sinh của đạo Phật, mà tiêu đích thấy rõ, là bao lâu con người chưa giải thoát giác ngộ, thì xã hội không sao thay đổi, tiến bộ. GHPGVNTN không là một đảng chính trị để có biện pháp thích nghi trong vấn đề điều hành quốc gia.
Theo giáo luật Phật chế, Giáo hội không làm chính trị, không tham gia chính trị. Thế nhưng chư Tăng Ni vẫn là công dân của một nước, tức có trách vụ đóng góp ý kiến khi công động xã hội luân hiểm đưa tới sự mất nước hay suy vong.
Thái độ này đã là truyền thống dấn thân xã hội, mà người Phật tử Việt Nam, chư lịch đại tổ sư, các đạo sư, thiền sư không ngừng quan tâm suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, ở thời bình cũng như thời chiến. Sự đóng góp của đạo Phật Việt trên căn bản của đại thừa giáo đã là nền tảng dựng nước và giữ nước không thể phủ nhận. Cho nên mọi âm mưu biến tướng đạo Phật nói chung, và GHPGVNTN nói riêng, đi ngược quyền lợi đất nước.
Cuộc vận động cho tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ của GHPGVNTN suốt 39 năm qua, đã là hành hoạt kiên trì mang tính đồng hành cùng dân tộc như giải pháp cứu nguy tình thế và phát triển quốc gia.
Không tôn trọng nhân quyền cơ bản, thì người dân chưa được làm người để xây dựng một xã hội hoà ái. Không thực thi dân chủ đa nguyên, thì quốc gia biến thành trại lính, khó chen chân vào thế giới văn minh tiến bộ và phát triển ngày nay.
Vì vậy, mười ba năm trước, ngày 21.2.2001, tôi đã gióng Lời Kêu Gọi Cho Dân Chủ với một chương trình chính trị 8 điểm. Ba năm sau đó, ngày 3.2.2005, tôi lại gửi Lời Chúc Xuân nhân Tết Ất Dậu đến quí vị Nhân sĩ, Trí thức, Văn Nghệ sĩ, và Ðồng bào trong và ngoài nước, tái khẳng định ý nghĩa của Vô thường rằng : «Hạnh phúc có thể tái tạo, tự do có thể thiết lập, nô lệ có thể chấm dứt. Cho nên kẻ sĩ phu theo thời mà thông biến. Lịch sử nước ta trải dài nhiều nghìn năm cho thấy sĩ phu là giới hiểu thời vụ, nhờ hiểu thời vụ mà ra tay chuyển hóa thời đại làm cho quê hương thoát cơn luân hiểm, sinh dân được an lạc». Và rằng : «Không còn con đường nào khác ngoài con đường dân chủ đa nguyên để tái thiết đất nước. Lẽ giản dị là nhiều ý kiến vẫn hơn một ý niệm độc tôn, nhiều thành phần chính kiến, tôn giáo, xã hội, đồng tâm hiệp lực xây dựng quê hương, vẫn hơn một đảng phái độc quyền bao cấp quản lý».
Liền đó, trong cuộc trả lời phỏng vấn Ðài nước ngoài, tôi ngỏ lời «Đề nghị Nhà nước Việt Nam không nên sợ hãi. Chỉ sợ mình không có chính nghĩa, không thật sự có tâm huyết với dân tộc thôi. Chứ sợ gì mất quyền. Ðừng sợ có tự do, dân chủ là mình mất quyền. Không đâu. Người dân bây giờ tinh tường lắm. Ai có công, ai thật sự vì dân, vì nước, người ta biết. Miễn là mọi đảng phái khác cũng được quyền tham dự để cho dân có cơ sở so sánh, lựa chọn, các đảng phái có cơ sở tranh đua phục vụ tổ quốc. Ðừng sợ nhiều đảng loạn quyền. Chỉ sợ dân trí bị kìm hãm trong chủ nghĩa ngu dân thôi. Mà đã ngu dân, thì một đảng cũng sinh loạn».
«Bối cảnh nước ta ngày nay, theo tôi suy nghĩ vào năm 2005, không cần có vài chục đảng mới thiết lập được dân chủ. Chỉ cần một đảng tả khuynh, một đảng hữu khuynh, một đảng trung hòa đại diện cho các dòng suy nghĩ chính lưu. Nhưng trái lại, phải có nhiều xã hội dân sự tự do xuất hiện với mọi quyền con người cơ bản, ắt việc nước sẽ khai thông, quốc gia sẽ thịnh trị. Ðiều kiện tiên quyết muốn được như vậy là phải có tự do, dân chủ thật sự để mỗi người và mọi thành phần xã hội được bình đẳng tham gia việc nước. Không sung sướng gì bằng, không hạnh phúc gì bằng, khi những người làm chính trị được chính người dân tin tưởng giao quyền cho. Ðời sống nhân dân các nước dân chủ ở Bắc Âu là mô thức khá hoàn hảo về sự an lạc và tự do của người dân mà chúng ta có thể học hỏi, nghiên cứu, dung hóa, áp dụng vào bối cảnh Việt Nam».
Phải có dân chủ đa nguyên thì mới giải quyết mọi vấn nạn bế tắc. Ba mươi chín năm qua, đất nước đã bế tắc trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, tôn giáo, văn hoá, chính trị. Nay thêm nạn ngoại xâm đến từ phương Bắc, mà sự kiện giàn khoan Hải dương 981 của Trung quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam đầu tháng 5 vừa qua, là thách thức lớn, báo hiệu thời đại Bắc thuộc lần thứ hai khai diễn. Nếu Nhà nước Cộng sản Việt Nam không có tâm hướng Hộ Quốc, Hộ Dân, tất rơi vào tâm địa của một chính quyền bán nước hại dân.
Tâm hướng Hộ Quốc Hộ Dân trong lúc này chẳng có giải pháp nào khác ngoài tiến trình dân chủ hoá chế độ. Trong cuộc kháng chiến giành độc lập năm 1945, tuy đảng Cộng sản nắm quyền lãnh đạo, nhưng nếu không có sự tham dự của toàn dân qua mọi khuynh hướng đảng phái và tôn giáo, thì cũng thất bại. Sự lãnh đạo độc tôn này lại là bài học đau thương gây chết chóc hằng triệu dân lành hai miền Nam Bắc, trở thành cuộc chiến huynh đệ tương tàn, cuộc phiêu lưu chính trị, làm tiêu hoại túi khôn dân tộc so với các quốc gia khu vực như Ấn Độ, Singapore, Mã Lai Á, Phi Luật Tân, Nam Dương, v.v…
Nước mất, thì đạo giáo, văn hiến, dân tộc cũng mất theo. Nô lệ chưa bao giờ là cách sống và thế đứng của người dân Việt. Diên Hồng không là một hội nghị hình thành từ sự kêu gọi hay tập họp. Diên Hồng là ý chí và xung lực của toàn thể nhân dân. Thời đại nhà Trần đã thành công nhờ ý chí và xung lực ấy. Vì đâu tám thế kỷ sau, ý chí ấy không trưởng thành ?
Kìm hãm sự trưởng thành là chế độ độc tài độc đảng dựa vào ý thức hệ Mác Lê Mao. Nay cần thanh toán mầm mống ngoại lai làm tiêu hoại thần trí và tinh não Việt Nam.
Nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tôi cất lời kêu gọi giới nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ, các nhà lãnh đạo tôn giáo và đồng bào các giới hãy chung lòng kết hợp chung quanh Giải pháp Dân chủ đa nguyên như vũ khí chống ngoại xâm và phát triển đất nước, tái tạo ý chí Diên Hồng vào thế kỷ XXI.
Thanh Minh Thiền Viện, Saigon ngày 16-6.2014
TM. Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN
Đệ Ngũ Tăng Thống
(ấn ký)
Sa môn Thích Quảng Độ
Tăng Đoàn GHPGVNTN kêu gọi dân chủ hóa đất nước, đoàn kết toàn dân chống ngoại xâm
HT. Thích Không Tánh ...việc bảo vệ đất nước phải được thực hiện bằng phương pháp dân chủ hóa
đất nước, và việc này cũng không thể chậm trễ vì Trung cộng có thể tấn công xâm chiếm chúng ta bất cứ lúc nào khi chúng ta còn đơn độc. Thời gian trước mắt đối với
dân tộc chúng ta còn quý hơn cả vàng bạc vì nó quyết định sinh mệnh tồn vong của đất nước..."
TĂNG ĐOÀN GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH
Chùa Giác Hoa, 15/7 Nơ Trang Long,
Phường 7, Q. Bình Thạnh, TP Sài Gòn
Phật lịch 2558
Số: 02/HĐĐH/TB/VT
LỜI KÊU GỌI
DÂN CHỦ HOÁ ĐẤT NƯỚC
ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN CHỐNG NGOẠI XÂM BẢO VỆ TỔ QUỐC
Tin tức thời sự dồn đập hằng ngày loan báo cho thấy Trung Cộng với tham vọng bá quyền không giới hạn ngày càng trắng trợn lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải, biển đảo Việt Nam, bất chấp luật pháp quốc tế.
Việt Nam đơn độc nên đứng trước họa mất nước đã hiển hiện rõ ràng.
Thế nhưng khi người dân tổ chức xuống đường biểu tình chống Trung quốc xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, lại bị Nhà cầm quyền Việt Nam cho công an ngăn chặn, đàn áp khắp nơi.
Chùa Giác Hoa, Chùa Liên Trì… ở Sài Gòn bị công an canh gác ngày đêm trong những ngày cuối tuần và các ngày lễ. Công an còn vào tận trong Chùa yêu cầu chư Tăng không được đi biểu tình chống Trung cộng. Họ đe doạ rằng: “Nếu có đi cũng không được! Vì sẽ bị ngăn chặn, xô xát như những lần đi biểu tình trước đây, không thể nào ra khỏi chùa được!”. Tịnh thất Cụ Lê quang Liêm, tư gia Bác sĩ Nguyễn Đan Quế và các Nhà dân chủ khác cũng đều bị canh gát chặt chẽ.
Hiện tình đất nước như dầu sôi lửa bỏng khi hằng ngày ngư dân vẫn tiếp tục bị lính Trung cộng đánh giết, cướp bóc tài sản, nghiêm trọng nhất là Trung quốc đã đặt giàn khoan dầu HD 981 lấn chiếm hải phận Việt Nam nhưng nhà cầm quyền vẫn thúc thủ không có một đối sách hữu hiệu.
Trong đất liền, những năm gần đây, người Trung quốc cũng tìm đủ cách như: đấu thầu các công trình, khai thác Bô-xít , trồng rừng, lập khu phố Tàu… để ngang nhiên hiện diện khắp nơi một cách lâu dài, tiện bề kiểm soát những vùng đất trọng yếu của quốc gia, đặt đất nước vào thế hiểm nghèo!…
Lòng dân đang bừng bừng khí thế chống ngoại xâm. Những nhà trí thức và dân chủ muốn dân chủ hóa đất nước để hình thành thế trận toàn dân và liên kết quốc tế để bảo vệ đất nước thì bị nhà cầm quyền đàn áp khủng bố.
Từ xưa đến nay, người dân luôn có quyền tham gia chính sự của đất nước. Chưa bao giờ trong lịch sử đất nước mà người dân Việt nam lại bị gạt ra bên lề và bất lực như hôm nay.
Không có một chính phủ chân chính nào lại ngăn cấm người dân xuống đường biểu tình chống ngoại xâm cả. Không biết Đảng Cộng sản Việt Nam có âm thầm bắt tay với Đảng Cộng sản Trung quốc để thực hiện tư tưởng Mác-Lênin “Vô gia đình, vô Tổ quốc, vô tôn giáo” qua phương châm “4 tốt, 16 chữ vàng” hay không?
Thật đau xót cho tình cảnh của dân tộc Việt Nam! Tổ quốc đang trong tình trạng hiểm nguy, nhưng người dân lại bị kẹp trong thế gọng kềm! Trên đe dưới búa! Một cổ hai tròng!
Ngồi yên để Trung cộng tiếp tục đánh phá, lấn chiếm đất đai là tự sát! Đi biểu tình chống Trung cộng xâm lăng cũng không xong, bởi sự đàn áp của Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam!
Công an nói rằng, để nhà nước lo! Dân không được đi biểu tình! Nhưng Nhà nước lo như thế nào không biết, chỉ thấy càng ngày Trung cộng lại càng lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam một cách ngang nhiên, trắng trợn hơn! Không có dấu hiệu nào cho thấy Trung cộng chịu lùi bước hay dừng lại.
Chúng ta cũng không nên kỳ vọng viễn vông rằng Trung cộng sẽ dừng lại hoặc lùi bước bởi áp lực quốc tế, vì như vậy là đồng nghĩa với việc phá sản “Giấc mơ Trung hoa”, điều này là không thể có với một Trung quốc đầy tham vọng đang trổi dậy mạnh mẽ, là siêu cường thứ hai trên thế giới và đang được sự tiếp tay của Nga sô!…
Chưa bao giờ Trung quốc có được thiên thời, địa lợi như bây giờ để thôn tính Việt nam phục vụ mưu đồ thống trị thế giới. Không nhận thức được việc này sẽ có tội với tổ tiên và dân tộc!
Tình cảnh đất nước đang bị hiểm nguy như thế, nhưng lòng dân ly tán, đất nước lại bị cô lập vì chủ trương không liên kết để chống ngoại xâm của Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, tương quan lực lượng của Việt Nam và Trung quốc là một trời một vực thì dựa vào đâu để bảo vệ quốc gia?…
Để bảo vệ đất nước, chúng ta phải phá vỡ thế cô lập hiện nay, nhanh chóng đứng vào một liên minh quân sự như Nhật bản, Hàn quốc, Philipines…
Nhưng để trở thành thành viên của một Minh ước quân sự trong khối Tự do thì một chế độ Cộng sản độc tài, chà đạp nhân quyền là không đủ tiêu chuẩn. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải là một quốc gia dân chủ.
Cho nên việc bảo vệ đất nước phải được thực hiện bằng phương pháp dân chủ hóa đất nước, và việc này cũng không thể chậm trễ vì Trung cộng có thể tấn công xâm chiếm chúng ta bất cứ lúc nào khi chúng ta còn đơn độc. Thời gian trước mắt đối với dân tộc chúng ta còn quý hơn cả vàng bạc vì nó quyết định sinh mệnh tồn vong của đất nước.
Cô Lê Thị Tuyết Mai, pháp danh Đồng Xuân, đã phát nguyện hy sinh, tự đốt thân mình, làm ngọn đuốc soi đường, cảnh tỉnh người dân Việt Nam trước hiểm hoạ xâm lăng của Trung cộng.
Tổ quốc trên hết, mong rằng các Nhân sĩ, Trí thức, Tôn giáo, Đảng phái, Tổ chức, Hội đoàn và Đồng bào Việt Nam trong cũng như ngoài nước hãy cố gắng gát bỏ những bất đồng, dị biệt, cùng nhau liên kết đòi hỏi nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam hãy từ bỏ chủ thuyết Mác-Lênin độc tài toàn trị, chuyển sang thể chế dân chủ đa nguyên, để cùng toàn dân đoàn kết một lòng tìm phương cách chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc trước cảnh “Sơn hà nguy biến” này.
Chùa Giác Hoa, Sài gòn, ngày 07 tháng 6, năm 2014
Thay mặt Viện trưởng Hội Đồng Điều Hành
Tăng Đoàn GHPGVNTN
Phó Viện trưởng
ấn ký
Tỳ kheo Thích Không Tánh
From : PTTPGQT, Dân lam bao,...........
http://www.queme.net/vie/index_detail.php?numb=2309