Publicité

Phương pháp thực hành

Thiền Minh Sát Tuệ 

 

Thiền tập

Thiền có nghĩa là yên lặng, tĩnh lặng, trầm lặng, thanh lặng, nhớ nghĩ, tỉnh thức, định tĩnh, quán chiếu, và nhất tâm. Nó là một môn thực tập rất sống động, an lạc, và hữu ích cho thân và cho tâm. Nó có khả năng đưa thân tâm thiền giả tới chánh niệm và tĩnh giác, và giúp thiền giả ý thức được những gì đang xảy ra ngay bây giờ và ở đây trong cuộc sống hiện tại, như trời xanh, mây trắng, chim hót, thông reo, hoa nở, tiếng suối chảy… Thiền tập có khả năng giúp chúng ta dừng lại, nhận diện, và chuyển hóa các phiền não bất hạnh và khổ đau thành hạt giống an vui và hạnh phúc.  

 


Có hai loại thiền trong Phật giáo: Thiền Chỉ (Samatha Meditation) và Thiền Quán (Vipassāna Meditation). Chỉ (Samatha) có nghĩa là an tịnh, định tĩnh, nhất tâm, hoặc dừng lại. Quán (Vipassāna) có nghĩa là tuệ giác, nhìn rõ, hiểu biết rõ, quán chiếu, hoặc nhìn sâu.

Từ “Chỉ” (Samatha) hầu như hoán đổi với từ “Định” (Samādhi), và nó bắt nguồn từ một gốc từ Sam trong Samādhi – Định. Chỉ có nghĩa là dừng lại, yên tĩnh và định tĩnh. Dừng lại là một phương pháp thực tập rất quan trọng trong thiền chỉ (Samatha Meditation).   

 


Khi đang ngồi thiền, chúng ta nghe tiếng ồn đang xảy ra xung quanh chúng ta. Chúng ta ý thức rất rõ tiếng động đó chúng ta dừng lại, và theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra một cách có ý thức. Thở vào, chúng ta biết mình đang thở vào. Thở ra, chúng ta biết mình đang thở ra. Thở vào, chúng ta biết tiếng ồn đó trong tâm ta không còn nữa. Thở ra, chúng ta biết tiếng ồn đó trong tâm ta biến mất dần. Thực tập như vậy chừng vài ba lần bằng cách theo dõi hơi thở vào và theo dõi hơi thở ra có chánh niệm và tĩnh giác, thì âm thanh mà chúng ta nghe từ từ biến mất. Đó là Thiền Chỉ.
Thiền Chỉ có nghĩa là dừng cái tâm lang thang lại và tập trung nó vào hơi thở có ý thức. Như các bạn biết tâm của chúng ta giống như con khỉ và con ngựa. Nó chuyền từ nhành này tới nhành khác, và nó chạy từ nơi này tới nơi khác. Đôi lúc chúng ta ngồi đây, nhưng tâm của chúng ta suy nghĩ vẫn vơ về Nữu Ước, Ấn Độ, Úc, Việt Nam… Để đặt tâm lang thang vào hơi thở có ý thức bằng cách thiền tập, dần dần chúng ta hướng tâm tới định tĩnh và nhất tâm. Đừng lo lắng khi tâm ta giong ruổi. Hãy nhẹ nhàng đặt tâm ta vào hơi thở có ý thức bằng cách theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra sâu, lâu, chậm, và thảnh thơi. Lăng xăng là bản chất của tâm; vọng động là bản chất của tâm; an tịnh là bản chất của tâm; định tĩnh là bản chất của tâm; thảnh thơi là bản chất của tâm… Tu tập Thiền Chỉ là quá trình để thiền giả có thể thanh lọc và chuyển hóa cái tâm lăng xăng và vọng động thành cái tâm an tịnh, định tĩnh, và thảnh thơi.

 


Từ Quán (Vipassāna) có gốc từ: “Vi” và “Passāna.” “Vi” là một tiếp đầu ngữ có nghĩa là phân chia hay riêng biệt. “Vi” có nghĩa là quan sát chính mình trong phương pháp thiền quán. “Passāna”có nghĩa là xem hay nhận biết. Như vậy, Quán (Vipassāna) có nghĩa là nhìn sâu vào các sự vật và biết các sự vật đó là vô thường, duyên khởi, và vô ngã. Quán (Vipassāna) là quá trình tu tập và thanh lọc thân tâm, và đưa thiền giả tới đời sống an vui và hạnh phúc đích thực.    
Thiền Quán (Vipassāna) có nghĩa là quán chiếu vào hơi thở rõ ràng và trong sáng. Thở vào và thở ra, mình biết là mình đang còn sống. Thở vào thật sâu, mình biết là mình đang thở vào thật sâu. Thở ra chậm rãi, mình biết là mình đang thở ra chậm rãi. Thở vào an lạc, mình biết là mình đang thở vào an lạc. Thở ra vững chãi, mình biết là mình đang thở ra vững chãi. Thở vào thảnh thơi, mình biết là mình đang thở vào thảnh thơi. Thở ra thư thái, mình biết là mình đang thở ra thư thái. Mình có thể nói tóm tắt bằng tâm chánh niệm như thế này: Vào, ra, sâu, chậm, an lạc, vững chãi, thanh thản, và thảnh thơi.
 
Quá trình thực tập Thiền Quán (Vipassāna Meditation) là quá trình tu tập trí tuệ, và gặt hái những hoa trái an vui và hạnh phúc ngay trong cuộc sống hiện tại. Khi thực tập Thiền Quán (Vipassāna Meditation), chúng ta đừng suy nghĩ về quá khứ, đừng suy nghĩ tới tương lai, chỉ biết an trú vững chãi vào hơi thở chánh niệm ngay trong giây phút hiện tại mà thôi. Bởi vì quá khứ đã qua, tương lai thì chưa tới, chỉ có giây phút hiện tại là giây phút có thật. Ta an trú vững chãi vào giây phút hiện tại để theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra chánh niệm và tĩnh giác. Thực tập như vậy đều đặn, ta có thể xả bỏ những lo lắng, phiền muộn, giận hờn, và trách móc.
Nhờ thực tập Thiền Quán (Vipassāna Meditation), chúng ta có thể thấy mọi vật là vô thường, như tham là vô thường, sân giận là vô thường, si mê là vô thường, khổ đau là vô thường, v. v… Nếu tham lam, sân hận, si mê… là thường hằng, thì chúng ta không thể chuyển hóa. Nhưng thực tế, chúng là vô thường và biến đổi. Là người tỉnh thức tu tập, chúng ta có thể nhận diện và chuyển hóa chúng từ từ; chuyển hóa tham thành vô tham – bố thí; sân thành vô sân – từ bi; si thành vô si – trí tuệ; buồn phiền thành an vui; khổ đau thành hạnh phúc bằng cách thực tập nói những lời nói thiện, nghĩ thiện, và làm thiện để đem lại an lạc và hạnh phúc cho tự thân và cho tha nhân ngay cuộc đời này.

 

 

Tu tập Thiền Quán (Vipassāna Meditation), chúng ta có thể quán chiếu và thấy rõ ba mẹ trong ta, con cái trong ta, vợ chồng trong ta, anh chị em trong ta, thầy trò trong ta, mọi người trong ta, và ta trong mọi người. Chúng ta thấy họ rất rõ trong từng tế bào của đời sống hằng ngày của chúng ta. Để áp dụng thiền tập một cách thích hợp và khéo léo, chúng ta có thể mời họ cùng thiền tập với ta. Chúng ta hạnh phúc, thì họ cũng hạnh phúc. Chúng ta an lạc, thì họ cũng an lạc. Chúng ta tươi mát, thì họ cũng tươi mát.
Thực tập Thiền Quán (Vipassāna), chúng ta có thể nhìn sâu vào đời sống của ta luôn luôn biến đổi và vô thường. Đời sống của chúng ta càng ngày càng ngắn dần. Sống trên trái đất này khoảng một thời gian nhất định nào đó, rồi từ từ mỗi người trong chúng ta cũng phải ra đi. Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện tại, chúng ta đã khéo vun trồng và tưới tẩm năng lượng tâm linh, năng lượng từ bi, và năng lượng thương yêu và hiểu biết trong ta và trong mọi người. Chúng ta có đủ hành trang và tư lương tốt trong cuộc đời. Dù vô thường có đến, chúng ta cũng vẫn bình thản ra đi. Sống thì an lạc, chết thì bình an. Ý thức rõ ràng được như vậy, chúng ta sống cho sâu sắc và thảnh thơi trong từng giây, từng phút. Mỗi hơi thở là sự sống. Mỗi thực tập là thảnh thơi. Mỗi phút giây là sự sống. Mỗi phút giây là thảnh thơi. Hiểu và thực tập được như vậy, thì chúng ta cảm thấy an vui hiện tiền.

 

Trên đây, Thiền Chỉ (Samatha Meditation) và Thiền Quán (Vipassāna Meditation) được trình bày như vậy là để cho người đọc và người học dễ học, dễ hiểu, dễ nhớ, và dễ hành trì. Theo cái nhìn tương tức, trong Thiền Chỉ có Thiền Quán, và trong Thiền Quán có Thiền Chỉ. Thiền Quán và Thiền Chỉ luôn đi đôi với nhau. Tuy nhiên, trong quá trình thực hành, chúng ta có thể thực tập riêng biệt từng cái một miễn là chúng ta đưa thân và tâm chúng ta tới chánh niệm và tĩnh giác, vững chãi và thảnh thơi, an vui và hạnh phúc ngay trong cuộc sống hiện tại.  
Thực tập thiền đều đặn, chúng ta có thể làm vơi đi những đau nhứt và những căng thẳng trong thân và trong tâm của chúng ta. Nhờ thực tập thiền đều đặn, chúng ta có thể nuôi dưỡng và phát triển những năng lượng từ bi và trí tuệ, an vui và hạnh phúc. Khi có thời gian thích hợp, áp dụng thiền tập cho buổi sáng, buổi chiều, hoặc buổi tối, chúng ta có thêm năng lượng tâm linh, năng lượng bình an và vững chãi trong ta rất nhiều.

Từ đây, những gì chúng ta nói, những gì chúng ta nghĩ, và những gì chúng ta làm đều đem lại những hoa trái an vui và hạnh phúc đích thực cho tự thân và cho tha ngay trong cuộc đời này. Áp dụng thiền tập mỗi ngày có nghĩa là chúng ta thực tập tưới hoa mỗi ngày; mỗi ngày chúng ta tưới hoa là mỗi ngày đóa hoa trong ta sẽ trở nên tươi đẹp. Ngược lại, mỗi ngày chúng ta quên tưới hoa, là mỗi ngày đóa hoa trong ta sẽ héo úa đi từ từ. Thiền tập là để cho mỗi chúng ta tưới hoa mỗi ngày. Thiền tập là để cho mỗi chúng ta có cơ hội tốt nạp thêm năng lượng tâm linh mỗi ngày. Chúng ta hiểu và thực hành được như vậy, thì an lạc và hạnh phúc có khả năng thấm nhuần và làm mát dịu thân tâm.  
Cũng vậy, mỗi người chúng ta đều có một bình ắc quy tâm linh, được mang theo với ta suốt đời. Bình ắc quy này có khả năng tích chứa năng lượng thương yêu và hiểu biết, an vui và hạnh phúc nếu mỗi chúng ta biết cách nạp điện tâm linh bằng cách áp dụng thiền tập vào đời sống hằng ngày của mỗi chúng ta. Mỗi lần thiền tập là mỗi lần tưới hoa. Mỗi lần thiền tập là mỗi lần nạp thêm điện tâm linh. Mỗi lần thiền tập là mỗi lần khơi dậy và nuôi dưỡng hạt giống giác ngộ trong ta nẩy mần và vươn lên xinh tốt.

 

From : Thích Trừng Sỹ

 

 

 

 

 A. Ðiều kiện ban đầu
Như chúng ta đã thấy qua ớ các phần
trước, phương pháp hành thiền này
trông rất tầm thường, không có gì là
cao siêu, nên nhiều người cho nó là
thấp kém, vô ích và không đưa đến
đâu. Vì vậy không phải ai cũng thực

tập dễ dàng được, mà phải tùy nhân
duyên và điều kiện:

1/. Ðiều kiện ban đầu là phải ý thức
được chân lý không thể có ngoài thực
tại, ngoài những gì rất tầm thường. Dù
có tụng 3, 000 bộ Pháp Hoa mà không
biết trớ về nhìn thực tại thì việc đâu
vẫn còn đó thôi.


2/. Tin tưởng chắc chắn pháp hành
thiền này sẽ đưa đến giác ngộ giải thoát
(lẽ dĩ nhiên trước đó hành giả phải suy
nghĩ thật chính chắn).


3/. Cần phát nguyện mạnh mẽ. Không
cần phát nhưng lời nguyện văn hoa, dài
giòng như trong các thời Kinh, chỉ cần
nguyện hai câu sau: "Nguyện đời đời
kiếp kiếp không xa lìa Tam Bảo.
Nguyện mau giải thoát cứu độ chúng
sanh".


4/. Phải cố gắng tạo cho mình một bối
cảnh thuận duyên. Nếu là tại gia cư sĩ
thì nên theo học những khóa Thiền
Minh Sát Tuệ trong dịp nghỉ hè. Nếu là
xuất gia thì phải thực sự xa lìa thế tục,
những việc ứng phú, làm đám, cầu an,
cầu siêu, v.v..., dù có ai bảo mình căn
cơ Nhị Thừa, không có tâm độ đời
cũng mặc họ, vì họ đâu có tu giùm
mình đâu mà phải sợ. Nếu không thế,
suốt ngày lăng xăng việc này, việc nọ,
đến tối có ngồi thiền đi nữa cũng chỉ
làm mồi cho hôn trầm, loạn tưởng mà
thôi.


5/. Tinh tấn và kiên nhẫn. Hành Thiền
này rất cần sự trợ duyên ban đầu như
nhắc nhở, giảng giải của thiện tri thức,
là những người đã thực hành và đã trải
qua rồi. Nếu chỉ đọc sơ qua sách vở rồi
thực hành theo sẽ mau chán nản vì
không thấy được sự tiến bộ.

 


B. Thực hành
Về phần thực tập, hành giả có thể y
theo như nguyên văn của Kinh Tứ
Niệm Xứ đã chỉ dạy. Nhưng sợ có
nhiều người thấy văn tự trong Kinh quá
giản dị mà xem thường hoặc không
biết cách áp dụng vào đời sống thực
tại, nên ở đây tôi tạm đưa ra vài cách
thức giúp cho hành giả trong bước đầu.

 

Cần nhớ là trong tất cả bốn lãnh vực
quán niệm (thân, thọ, tâm, pháp) hành
giả phải lấy chánh niệm (Sammà Sati)
làm đầu, và chỉ giữ chánh niệm mà
thôi, có nghĩa là giác tỉnh quan sát và
ghi nhận một cách khách quan. Khi bắt
đầu thực hành, hành giả sẽ thấy sự xâm
chiếm mạnh mẽ của thất niệm, hôn
trầm (trạng thái mơ mơ màng màng) và
loạn tưởng (những ý nghĩ khởi lên ào
ào, liên tục lôi kéo ta theo).
Bắt đầu sự thực tập, hành giả nên tìm
đến một nơi vắng vẻ ngoài trời, trong
rừng, dưới một cội cây, hay tất cả
những nơi nào yên tĩnh xa tiếng náo
động ồn ào. Ngồi xuống theo tư thế
bán già (không bắt buộc phải kiết già)
rồi bắt đầu quán niệm.

 

*

1/ Niệm Thân (Kàyànupassanà) -
Hành giả có thể bắt đầu bằng phương
pháp chú niệm vào hơi thở vô-ra
(ànàpànasati). Trong Kinh An Ban Thủ
Ý (Anàpànasati Sutta) có dạy 16 cách
quán niệm hơi thở. Người nào muốn
biết rõ chi tiết có thể tìm đọc Kinh
Quán Niệm Hơi Thở do Thầy Nhất
Hạnh đã dịch và chú giải. Riêng ở đây
chỉ đưa ra những cách thức rất giản dị
(simplifié) không nhất thiết phải y theo
Kinh.


Hành giả bắt đầu hít vào ba hơi thật dài
và thở ra thật mạnh như để tống khứ ra
ngoài mọi uế trược. Sau đó hành giả hô
hấp một cách tự nhiên, nhẹ nhàng,
không nên ráng kèm hơi thở và làm
cho nó phải như thế nào. Chỉ để cho

luồng hơi thở thong thả trôi ra rồi
thong thả trôi vào dưới ánh sáng của
tâm hoàn toàn giác tỉnh.
- Khi hít vào một hơi dài, hành giả
niệm thầm trong đầu: " Híííít ". Chữ
Hít phải được kéo dài theo hơi thở vào,
có nghĩa là trong suốt thời gian hít vào.
- Khi thở ra, hành giả niệm thầm: "
Thởởởởở ". Chữ Thở phải được kéo
dài trong suốt thời gian thở ra.
Cứ thế hành giả hít thở trong chánh
niệm. Trong suốt thời gian ngồi thiền,
không có một hơi thở "vô-ra" nào mà
hành giả quên niệm. Nếu trong lúc hít
thở như vậy, chợt có một ý nghĩ nào
xuất hiện thì hành giả phải nhận biết

liền rồi tức khắc trở về sự chú niệm hơi
thở "vô-ra".


Ban đầu hành giả có thể ngồi khoảng
mười lăm phút, đến lúc thuần thục phải
tăng dần lên cho tới ít nhất là một tiếng
đồng hồ. Trong bước đầu khởi sự hành
thiền, chắc chắn hành giả sẽ cảm thấy
chán nản, bực bội, thân tâm bị gò bó.
Vì thường ngày thân của ta hết làm
việc này đến việc nọ, lăng xăng đủ thứ;
Tâm của ta thì chưa nghĩ xong chuyện
này đã nghĩ đến chuyện kia tựa hồ con
khỉ chuyền cành, con ngựa đứt cương
(tâm viên, ý mã). Không phải chỉ có ở
kiếp này thôi, mà nó đã như vậy từ vô
thỉ kiếp trước rồi, bây giờ ta bắt thân
ngồi im một chổ, bắt tâm chăm chú vào
hơi thở, làm sao tránh khỏi sự khó chịu

dày vò. Vì vậy hành thiền phải tinh tấn
và kiên nhẫn mới đi tới đích, phải chịu
cực nhọc khó khăn lắm mới thành
công, không phải một sớm một chiều
mới tu mà đã thành Tổ Sư liền được.


Sau khi hành giả thuần thục với pháp
quán niệm hơi thở vô-ra ở trên, thời
gian ngồi từ một hay hai tiếng trở lên,
thì hành giả bắt đầu thực hành sang
pháp "phồng xẹp" (của bụng), sẽ thấy
sự phồng lên xẹp xuống của nó. Ban
đầu, nếu hành giả không thấy được sự
"phồng-xẹp" này, thì có thể để một hay
cả hai bàn tay lên bụng để nhận thấy rõ
ràng hơn. Khi cảm thấy rõ ràng (chứ
không phải tưởng tượng) được sự
phồng xẹp rồi, hành giả bắt đầu quan
sát và ghi nhận nó.


- Khi bụng phồng lên, hành giả niệm
thầm: "bụng phồng" hay "phồồồồng",
chữ phồng phải được kéo dài trong
suốt lúc bụng phồng lên.
- Khi bụng xẹp xuống, hành giả niệm:
"bụng xẹp" hay "xeeeẹp". Chữ xẹp
phải được kéo dài trong suốt thời gian
bụng xẹp xuống.
Vì sao ở đây lại có nhưng chữ kéo dài
như: "Hiiiít", "Thơơởở", "Phôôôồng",
"Xeeeẹp"? Vì với người sơ sơ mới tu
tập, "ý thức suông" chưa phải hoàn
toàn chánh niệm. Khi hít vào mà hành
giả chỉ ý thức "tôi đang hít vào" hay
chỉ niệm một chữ "Hít" thì ngay lúc đó
hành giả có chánh niệm, nhưng trong
sát na sau hay giây phút kế tiếp hành

giả có thể mất chánh niệm dễ dàng, nên
thay vì phải niệm liên tục "Hít, Hít,
Hít..." thì chỉ niệm một chữ nhưng kéo
dài ra: "Hiiiít".
Cứ thế hành giả chú tâm quan sát, theo
dõi và ghi nhận sự phồng lên xẹp
xuống của bụng trong suốt thời gian
ngồi thiền. Không có một cái "phồngxẹp"
nào mà hành giả quên ghi nhận.
Hành giả cố gắng thực hành và tăng lên
thời gian ngồi thiền. Ít nhất phải ngồi
liên tục hai giờ đồng hồ trở lên, hành
giả mới thấy được những gì thay đổi và
tiến triển. Và khi thấy được những gì
thay đổi, tiến triển đó thì hành giả mới
cảm thấy hứng thú trong việc thiền tập.

Vì phải tinh tấn và kiên nhẫn nên ít có

người thực hành pháp này. Ngược lại
có rất nhiều người tu theo Thiền ngoại
đạo, vì được quảng cáo mới tu đã xuất
hồn, hoặc có thần thông liền! Người tu
chân chính cần phải biết rằng từ đời vô
thỉ kiếp đến giờ, ta đã bị vô minh, tà
kiến, chấp trước bao phủ dầy đặc, làm
sao mà trong phút chốc có thể gột rửa
cho hoàn toàn được. Còn những việc
như xuất hồn, thần thông đều là những
ma chướng, ngoại đạo, ta đã tích lũy
chúng từ nhiều kiếp, nên nay mới khởi
vọng cầu liền có một cách dễ dàng. Ðó
là lý do tại sao người tu theo chánh
pháp thì ít, mà tu theo tà đạo lại nhiều.

 

*
2/ Niệm Thọ (Vedanànupassanà) -
Khi hành giả ngồi lâu sẽ có những cảm
giác phát sanh như mỏi mệt, đau nhức,

ngứa ngáy,v.v... Lúc đó hành giả hãy
làm như sau:
Ðang theo dõi sự "phồng xẹp", bỗng
nhiên hành giả cảm thấy đau nhức nơi
chân. Hành giả liền niệm: "có một cảm
giác đau nhức đang phát sanh (nơi
chân)", hoặc hành giả có thể niệm một
cách vắn tắt: "có sự đau". Niệm như
vậy cũng đủ để cho hành giả ghi nhận
một cách khách quan cảm giác đau
đang có nơi chân. Hành giả tuyệt đối
không được niệm: "Tôi đang đau hay
chân tôi đau". Sau khi niệm như vậy
xong, hành giả lập tức trở về sự
"phồng-xẹp" của bụng.

 

Tất cả những
cảm giác đều trải qua tiến trình: phát
sanh, tăng trưởng, suy yếu, tan biến,
chỉ có lâu hay mau mà thôi. Sau một

thời gian, cảm giác đó bỗng biến mất,
thì hành giả niệm: "cảm giác đau đã
biến mất" hoặc "cái đau đã hết". Nếu
cảm giác đau không hết mà lại tăng
thêm thì hành giả niệm: "cảm giác đau
đang tăng", rồi sau đó liền trở lại công
việc chính là quán niệm sự "phồng
xẹp". Nếu cái đau tăng lên quá mức
chịu đựng thì hành giả có thể lấy tay gỡ
chân ra, hay sửa đổi tư thế, nhưng phải
làm thật chậm, giữ chánh niệm như
sau:
- Trước hết khi muốn lấy tay gỡ chân
ra niệm: muốn, muốn, muốn.
- Khi nhấc tay lên niệm: nhấc, nhấc,
nhấc.
- Khi tay đụng chân niệm: đụng, đụng,
đụng.
- Khi tay nắm chân gỡ ra niệm: gỡ, gỡ,
gỡ.
- Khi gỡ ra xong, rút tay về niệm: rút,
rút, rút.
- Khi rút tay về xong, để lại chỗ cũ
niệm: để, để, để.
Trên đây chỉ là một sơ đồ giản dị, giúp
cho người mới tập giữ chánh niệm, chứ
thật ra từ lúc muốn nhấc tay, rồi gỡ
chân, cho đến lúc kéo tay trở về chỗ cũ,
có rất nhiều cử động khác phải niệm.
Trong lúc lấy tay gỡ chân ra hành giả
phải làm "thật chậm", vì thế nên mỗi
cử động phải được niệm ít nhất ba lần,
giúp cho hành giả giữ được chánh
niệm.

 

 Khi thuần thục rồi thì hành giả
không cần niệm như vậy nữa mà chỉ
cần giác tỉnh quán sát từng cử động
trong từng sát na, muốn được vậy
đương nhiên các động tác phải được
làm "rất, rất" chậm.

 

*
3/ Niệm Tâm (Cittànupassanà) - Niệm
Tâm là một việc rất quan trọng trong
Tứ Niệm Xứ. Trong Thiền Ðốn Ngộ có
nói "Kiến tánh khởi tu" hay "Ðốn ngộ
tiệm tu", tu ở đây là diệt trừ vọng
tưởng. Niệm Tâm chính là một phương
pháp duy nhất để diệt trừ vọng tưởng.
Niệm Tâm là quan sát ghi nhận một
cách khách quan những hoạt động của
Tâm. Hoạt động của Tâm là những tư
tưởng hay ý nghĩ chợt khởi chợt biến.

 

Khi đang theo dõi sự "phồng xẹp" của
bụng bỗng nhiên có một ý nghĩ dù
thiện hay ác khởi lên trong tâm, hành
giả liền ghi nhận (niệm) nó: "có một ý
nghĩ (đang phát sanh)". Niệm như vậy
đủ để ý nghĩ đó tan biến, và hành giả
phải lập tức trở về với sự "phồng xẹp",
không cần suy tư xem đó là tốt hay
xấu. Nếu sau đó ý nghĩ đó trở lại, hoặc
có một ý nghĩ khác thì hành giả cũng
lại niệm: "có một ý nghĩ". Niệm một
câu ngắn gọn như vậy đủ làm cho hành
giả giác tỉnh và không chạy theo vọng
tưởng. Trường hợp này giống như
Thiền Sư Nhan mỗi ngày thường ngồi
trên tảng đá, lâu lâu tự gọi: "ông chủ".
Tự đáp: "Dạ". Tự nhắc: "Tỉnh tỉnh chớ
để người lừa".

 

Ban đầu hành giả có thể bị ý nghĩ đưa
đi xa, rồi sau đó mới sực tỉnh, thì lúc
đó niệm: "Ðó là một ý nghĩ". Khỏi cần
phải niệm "ý nghĩ đã diệt", vì khi ta
niệm "đó là một ý nghĩ" thì ngay khi đó
nó đã diệt mất rồi.
Thực tập như vậy, lâu ngày hành giả sẽ
không còn bị ý tưởng đem đi quá xa
nữa mà sẽ nhận ra chúng khi chúng
vừa phát sanh.
Ngoài giờ ngồi thiền, trong đời sống
hằng ngày, nếu có những ý nghĩ tốt
khởi lên trong đầu hành giả đừng mừng
cho là ta tốt, mà phải nhanh trí nhận ra
đó là Tâm khởi một ý nghĩ tốt. Khi có
một ý nghĩ xấu phát sanh trong đầu,
đừng nghĩ là ta xấu rồi ăn năn, bực bội,
mà phải nhanh trí nhận ra đó là Tâm
khởi một ý nghĩ xấu, xong rồi thản
nhiên tiếp tục giữ chánh niệm.

 

*

4/ Niệm Pháp (Dhammànupassanà) -
Trong Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna
Sutta), trong phần Niệm Pháp có đưa ra
năm đề mục quán niệm, nhưng ở đây
tôi chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể áp dụng
vào sự thực tập.
- Ðang ngồi thiền, bỗng bên ngoài có
tiếng động như tiếng xe hơi, thì lúc đó
hành giả niệm: "nghe, nghe, nghe" (đó
là nương theo nhĩ căn), hoặc niệm "có
tiếng động" (đó là nương theo thanh
trần). Sau khi niệm như vậy xong, hành
giả phải liền trở về sự "phồng xẹp" của
bụng.


- Khi cảm thấy buồn ngủ, hành giả
niệm: "có sự buồn ngủ đang phát sanh"
hoặc niệm vắn tắt "có sự buồn ngủ".
Tuyệt đối không được niệm "Tôi đang
buồn ngủ".
Trên đây chỉ là gợi ý cho hành giả tu
tập ban đầu. Về phần niệm pháp này
khá phức tạp, vì chữ Pháp (Dhamma)
có thể chỉ tất cả nhưng sự vật trên cõi
đời này, muốn nói dễ hiểu hơn là
những đối tượng của tâm thức đều gọi
là pháp. Ngay cả ba phần niệm Thân,
niệm Thọ, niệm Tâm cũng có thể được
xem thuộc niệm Pháp.
Người hành giả khôn ngoan, khéo léo,
sẽ từ những thí dụ trên tự sáng chế ra
những phương thức áp dụng chánh
niệm vào tất cả sự việc trong ngày.
Sau đây là một thí dụ khác giúp cho
hành giả giữ chánh niệm trong lúc ăn.
Hành giả phải cử động một cách chậm
chạp và để ý ghi nhận và niệm trong
đầu tất cả những chi tiết về hành động
đang diễn tiến:
- Khi đưa mắt nhìn đồ ăn, niệm: "nhìn,
đang nhìn".
- Khi đưa tay gắp đồ ăn, niệm: "đưa,
đang đưa tay".
- Khi tay gắp trúng đồ ăn, niệm: "gắp".
- Khi đem đồ ăn lên miệng, niệm "đem,
đang đem".
- Khi cúi đầu xuống gần đồ ăn, niệm:
"cúi, đang cúi".
- Khi há miệng ra, niệm: "há, đang há
miệng".
- Khi để đồ ăn vào miệng, niệm: "để,
đang để".
- Rút đũa ra, ngậm miệng lại, niệm:
"ngậm, đang ngậm".
- Rút tay về để lại trên bàn, niệm: "rút,
đang rút tay".
- Khi tay đụng xuống bàn, niệm:
"đụng".
- Bắt đầu ngẩng cổ lên lại ngay thẳng,
niệm: "ngẩng, đang ngẩng".


- Khi nhai đồ ăn, niệm: "nhai, nhai,
nhai..." (niệm tối đa trong lúc nhai).
- Khi nuốt đồ ăn, niệm: "nuốt".
Sau khi đọc những hàng trên, đọc giả
có thể buồn cười, cho rằng đó là một
việc làm "kỳ cục", ăn thì cứ việc ăn tội
gì phải để ý làm chậm chạp mất thì giờ
và phải niệm tới niệm lui. Trong số
chúng ta đây, có rất nhiều người ăn mà
không biết mình đang ăn. Vì trong bữa
ăn, miệng nói chuyện, mắt nhìn "ti vi",
đầu óc nghĩ chuyện này, chuyện nọ, tay
gắp đồ ăn mà mắt chẳng nhìn, rồi bỏ
vào miệng nhai như một cái máy. Tất
cả những hành động đều "vô ý thức",
được làm như một cái máy, và ta cho
đó là một cái gì rất tự nhiên. Chính cái

rất tự nhiên này là nghiệp dẫn dắt ta đó.


Những người nào có thiện chí và ý
thức được là từ xưa đến nay mình đã
làm không biết bao nhiêu hành động
"vô ý thức", thì hãy bắt đầu từ bây giờ
trở về làm chủ lại tất cả những hành
động cũng như ý nghĩ của mình, hãy
tập sống giác tỉnh như đức Phật.
Ban đầu thực tập chánh niệm, hành giả
sẽ nhận thấy có rất nhiều động tác bị
quên niệm, nhưng với sự kiên nhẫn và
tinh tấn, dần dần những động tác bị
quên niệm đó sẽ bớt lần.
Trong cuộc sống thường ngày, khi lục
căn tiếp xúc với lục trần, hành giả phải
tập niệm:
- Khi mắt thấy một vật hay hình dáng
gì, hành giả không cần biết nó đẹp hay
xấu, chỉ cần niệm: "thấy, thấy, thấy".
- Khi có một âm thanh gì lọt vào tai,
không cần biết nó hay hay dở, dễ chịu
hay khó chịu, chỉ cần niệm: "nghe,
nghe, nghe".
Lâu lâu hành giả có thể nhắc nhở mình
bằng cách tự hỏi:
- Thân bây giờ đang làm gì, ở trong tư
thế nào?
- Có cảm giác gì không?
- Tâm đang nghĩ gì?
- Có nghe thấy gì không?


Cứ như vậy, trong lúc ngồi cũng như
khi đi, đứng, tiếp xúc, hành giả phải
luôn luôn nhớ niệm. Ðó gọi là chánh
niệm.
Vì thế, hành thiền này không cố định ở
ngồi mà trong tất cả các thời khác, đi,
đứng, nằm, hành giả đều có thể tu tập
được.
Những khó khăn ban đầu:
- Chân sẽ bị đau nhức như có ai lấy dao
chặt chân mình, như xương sắp gẫy lìa
v.v...
- Cảm giác khó chịu: như bọ hay kiến
làm ngứa ngáy...
- Ngồi lâu mệt mỏi, buồn ngủ, ngủ
gục...

- Vọng tưởng, ý nghĩ khởi lên tới tấp,
không ngừng.
Còn nhiều những hiện tượng khác nữa,
đó là tùy theo dòng nghiệp của mỗi
người, không thể tả hết được. Tuy
nhiên hành giả chỉ cần nhớ giữ chánh
niệm, theo dõi và ghi nhận thôi. Tất cả
những gì đến thì sẽ phải đi, không sợ
hãi, cũng không vui mừng. Sau một
thời gian cố gắng, hành giả sẽ vượt qua
mọi trở ngại trên.


Những điều nên tránh:
- Bỏ qua không suy nghĩ đến Bản lai
diện mục, tánh giác, hay những lý
Thiền..., đó chỉ là những danh từ gắng
gượng diễn tả những gì không thể diễn
tả được. Những gì bất khả tư nghì mà
cứ được đem ra bàn luận, giảng giải thì
nó không thực là bất khả tư nghì, và
chỉ gây thêm những thành kiến sai lầm
về nó.
- Sự mong cầu. Hành Thiền này không
có gì để mong cầu cả, mà chỉ ghi nhận
một cách khách quan tất cả những gì
xẩy đến, không bám víu mà cũng
không xua đuổi. "Gặp Phật biết Phật,
gặp Ma biết Ma", chỉ cần biết và ghi
nhận, rồi sau đó liền trở về với thực tại.
Không cần phải quá hung bạo như
Thiền Tông "gặp Phật giết Phật, gặp
Ma giết Ma".
- Vì không có sự mong cầu, bám víu
hay xua đuổi nên người hành thiền này
không thể điên được, vì lúc nào cũng
làm chủ được mình.
- Tránh những cuộc đàm luận không
ích lợi. Xưa kia đức Phật có dạy: "Này
các Tỳ Khưu, khi gặp nhau, các ngươi
có 2 việc nên làm: một là nói về Phật
Pháp, hai là giữ 'sự im lặng'...". Ngay
cả về sự hành Thiền này cũng vậy, có
ai hỏi mới nói, không hỏi thì thôi.
Những điều cần biết:
Trong khi tọa thiền, nếu có những trở
ngại về phần thể xác (sắc), hành giả có
thể nhận biết dễ dàng, nhưng về phần
tâm thức (danh) thì hành giả cẩn thận
để ý những điều sau:
- Khi có những ý nghĩ khởi lên tới tấp,
hành giả phải giác tỉnh nhận diện ra.
liền, nếu không thế thì hành giả có thể
trở nên khổ sở, khó chịu về chúng.
- Có nhiều hành giả cố gắng bắt tâm
ngưng suy nghĩ, để đầu trống rỗng, sau
một thời gian sẽ rơi vào hai trạng thái
hôn trầm.
( * ngủ gục hay ngủ ngồi, thân tuy còn
ngồi đó mà chẳng khác gì người ngủ
trên giường.
* mơ mơ màng màng, không tỉnh hẳn,
cũng không ngủ hẳn, thân thì không
còn cảm giác, tâm thì không khởi ý
nghĩ, như ngưng hoạt động, cùng lúc
hành giả cũng không còn niệm, không
còn ý thức được mình đang làm gì,
quên niệm thân, niệm hơi thở, niệm "
phồng xẹp ", niệm tâm..... Nếu hành giả

nào mà trụ ở trạng thái này lâu thì chỉ
mất thì giờ ngồi thiền, không lợi ích gì
cả, vì trí huệ không phát sanh, cùng lúc
tâm ngưng làm việc, có thể làm nhân
đời sau sanh ra làm súc sanh...)
- Có hành giả sau một thời gian tu tập
quán niệm hơi thở, dần đà thân tâm trở
nên yên tịnh, rồi cảm thấy an lạc và trụ
ở đó, quên đi việc niệm và ghi nhận.
Ðó là hành giả đang đi vào Thiền Ðịnh
hay Chỉ (Samatha). Hơn 90% người tu
thiền, sau khi điều phục được hôn trầm
và loạn tưởng đều rơi vào một trạng
thái an lạc, rồi cố gắng kéo dài sự nhập
định (từ hai ba tiếng đồng hồ cho tới
một ngày hoặc hơn nữa) để hưởng an
lạc.

 

Khi đến trạng thái an lạc này, cần
phải đi tìm Thầy hoặc thiện tri thức,

trình chỗ sơ đắc của mình để được chỉ
dẫn thêm.
Tứ Niệm Xứ thuộc về Thiền Tuệ hay
Thiền Minh Sát (Vipassanà-Bhàvanà).
Chỉ có Thiền Tuệ mới làm phát sinh trí
tuệ, giúp cho hành giả thấy rõ được
thực tướng của vạn hữu, diệt trừ tận
gốc của vô minh, đưa đến giải thoát.
Còn Thiền Ðịnh (Samatha) chỉ đưa
hành giả đến những cơn định
(Samàdhi) trong đó hành giả hưởng sự
an lạc nhất thời, không tạo thêm nghiệp
mới, nhưng trí huệ không phát triển, và
những phiền não gốc vẫn còn nguyên
chưa diệt trừ, do đó không thể đưa đến
giải thoát.

 

*
8. Kết luận

 

Pháp hành Thiền Tứ Niệm Xứ Minh
Sát Tuệ (Satipatthàna-Vipassanà) bao
hàm việc thành tựu tri kiến bằng cách
quan sát trực tiếp, thấy sự vật đúng
theo thực tướng của nó (yathàbhutam).
Tri kiến này vượt ra ngoài mọi lý luận
hay quán niệm được có do trí thức, và
tiến đến những chứng nghiệm thật sự
về đời sống cùng sự vật liên quan đến
cuộc sống.
Hoàn toàn thấu triệt được thực tướng
của vạn pháp như vậy, hoàn toàn nhận
thức bản chất thật sự của ngũ uẩn, hành
giả sống độc lập, không cố bám vào sự
vật gì trên thế gian.

 

 

 

From :  Thich T ri Sieu ,....

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Publicité
Tag(s) : #Tâm linh - Tôn giáo
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :