Mở đầu:Trong cuộc sống bon chen vật chất hiện nay, hầu như ai ai cũng nhìn nhận phương pháp Thiền của Phật giáo có khả năng diệt trừ bức xúc và mang đến sự an tịnh trong tâm hồn. Nhưng phần đông người học Thiền chỉ biết sơ qua về cách ngồi kiết già, bán già, sổ tức và tùy tức, chứ người đạt được Sơ thiền thì rất hiếm hoi, vì phần đông chưa biết cách đoạn trừ năm triền cái và cách thực hành năm thiền chi để làm nền tảng cho thiền tập.
Tổ Sư Thiền
Bắt nguồn từ lúc Đức Phật tuyên bố trao « Chánh phápnhãn tạng, niết bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, vi diệu pháp môn» cho ngài Maha Kassapa (Maha Ca Diếp) tại núi Linh Thứu. Nhưng thực ra Tổ Sư Thiền chỉ hiện rõ nét từ khi Tổ Bồ Đề Đạt Ma sang đến Trung Hoa và tuyên bố dạyThiền theo phương pháp «Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật», tức là phương pháp “tâm truyền tâm” và “ấn chứng” chứ không có văn bản, chương trình, thứ lớp nhất định.
Như vậy, muốn học Tổ Sư Thiền có kết quả thì phải thọ giáo với một Thiền sư đã chứng đắc chứ không có cách nào khác. Có người đến hỏi Tổ Bồ Đề Đạt Ma « Thế nào là Đạo ? Thế nào là Tổ ?».
Tổ đáp:« Ngoài dứt muôn duyên, «Trong bặt nghĩ tưởng,«Tâm như vách tường, «Ấy là vào Đạo. «Sáng Phật Tâm tông,«Thảy không sai ngộ ,«Làm hiểu hợp nhau, «Ấy gọi là Tổ. Bài kệ này có thể xem là yếu chỉ của Tổ Sư Thiền
Như Lai Thiền
Là phương pháp Thiền mà Đức Phật đã học với hai vị đạo sư là Alara Kalama (A La Ca Lam) và Uddaka Ramaputta (Uất Đầu LamPhất) từ Sơ Thiền đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng định. Rồi Ngài theo lối tu khổ hạnh trong sáu năm, không được kết quả gì cao hơn. Cuối cùng Ngài lập pháp tu trung đạo là Bát Chánh Đạo và 49 ngày sau đó Ngài vượt khỏi Phi TưởngPhi Phi Tưởng định, nhập Diệt Thọ Tưởng định và thành đạo, đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác dưới cội Bồ đề. Trong suốt 45 năm hành đạo ĐứcPhật đã nói đến pháp Thiền này trên 20 lần trong các kinh điển còn lưu truyền đến ngày nay. Và lúc nhập Đại Bát Niết Bàn Đức Phật cũng thực hành phápThiền này từ Sơ Thiền lên đến Diệt Thọ Tưởng, rồi từ Diệt Thọ Tưởng lần xuống Sơ Thiền, rồi từ Sơ Thiền lên đến Tứ Thiền, sau đó Ngài xuất Tứ Thiền và nhập diệt liền sau đó. Như vậy chúng ta thấy Như Lai Thiền đóng một vai trò rất quan trọng trong cuộc đời và Giáo pháp của Đức Phật. Yếu chỉ của Như Lai Thiền là phải hiểu rõ Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Mười Hai Nhân Duyên,Vô Thường, Vô Ngã, Niết Bàn, rồi dùng hơi thở và phép tập trung tư tưởng để điều chỉnh thân tâm theo thứ lớp từ Sơ Thiền đến Diệt Thọ Tưởng Định.
Nghiên cứu và gom góp các lời Phật dạy về Như Lai Thiền, chúng ta có thể sắp xếp thành chương trình Thiền tập như sau: 1- Đoạn trừ năm Triền Cái là Tham dục, Sân hận, Hôn trầm, Trạo cử và Hoài nghi:Đức Phật nói nếu không đoạn trừ năm triền cái tức là năm chướng ngại về Thiền thì không thể nào đắc Sơ Thiền.
1.1- Đoạn trừ Tham dục(Lobha): Tức là đoạn trừ tham sắc, thanh,hương, vị, xúc, pháp; đoạn trừ tham tài, sắc, danh, thực, thùy. Trong đời sống hằng ngày nên thực hành hạnh bố thí để trừ tâm tham, mỗi khi tâm khởi tham liền biết tâm có tham và bỏ liền, nếu bỏ liền không được thì quán về những tai hại của tâm tham để trừ. Trong lúc ngồi Thiền dùng quán để nhận rõ tánh vô thường của vạn vật, nhận rõ các tướng trạng và các nguy hại của tâm tham.Phải biết rằng sáu trần và năm dục lạc thế gian chính là nguồn gốc của tham dục, đau khổ và sanh tử luân hồi. Đức Phật dạy cách đoạn trừ tham dục như sau: Đối với bất cứ vật gì dù to hay nhỏ, xa hay gần, vô hình hay hữu hình, ta đều nên nghĩ rằng « Vật này không phải là tôi, vật này không phải của tôi»
1.2- Đoạn trừ Sân hận(Vera): Sân bao gồm chê, ghét, không ưa thích, bực tức, muốn đẩy ra xa, muốn làm hại, muốn tiêu diệt, hận thù … Trong đời sống hằng ngày nên thực hành hạnh khiêm cung, kham nhẫn, từ tâm để trừ sânhận, mỗi khi tâm khởi sân hận liền biết tâm có sân và bỏ liền, nếu bỏ liền không được thì quán về những tai hại của tâm sân để trừ. Trong lúc ngồi Thiền dùng quán để nhận rõ các tướng trạng và các nguy hại của tâm sân. Phải biết rằng tâm sân là nguồn gốc của ác kiến, ác hạnh, ác nghiệp, đưa đến đau khổ triền miên nơi địa ngục
1.3- Đoạn trừ Hôn trầm(Thinamiddam):Hôn trầm là lúc ngồi thiền hay buồn ngủ, ngủ gậc. Nên tìm hiểu rõ nguyên nhân bệnh hôn trầm của mình để trừ như mệt mỏi, thiếu dinh dưỡng, bụng no, thiếu ngủ, thiếu vận động, tập thiền không đúng lúc, thiếu hăn hái sốt sắn …
1.4- Đoạn trừ Trạo cử(Uddhacca): Trạo cử là hay thay đổi ý kiến, tâm dao động không an, thiếu quyết tâm. Phải tìm ra nguyên nhân bệnh trạo cử của mình để trị, thường là do thiếu Chánh kiến và Chánh niệm, không hiểu rõ giáo lý và ích lợi của sự tu tập.
1.5- Đoạn trừ Hoài nghi(Vicikitsa): Hoài nghi là do không hiểu rõ Chánh Pháp, không hiểu rõ Pháp môn tu tập, thiếu tin tưởng nơi bậc đạo sư.Phải học giáo lý, tham vấn các vị Thiện tri thức để tìm cách giải nghi. Trong năm triền cái thì Tham và Sân là hai phiền não lâu đời lâu kiếp khó đoạn trừ nhất, cần nhiều quyết tâm và cố gắng.
* Sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Năm dục lạc thế gian là tài, sắc, danh, thực, thùy
2- Thực tập năm Thiền Chi là Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc và Nhất Tâm:
Muốn thực tập thiền, trước hết phải có tọa cụ và bồ đoàn. Kế đó phải biết cách ngồi bán già , cách ngồi kiết già và cách thở
Tọa cụ là một tấm thảm vuông, mỗi cạnh độ 80cm để lót chỗ ngồi cho sạch. Bồ đoàn là một cái gối hình trụ, đường kính độ 25cm, chiều cao độ 15cm, bên trong dồn dâm bào nhỏ, để ngồi cho êm và thẳng lưng.
Ngồi bán già là ngồi trên bồ đoàn, co chân trái vào, đầu gối chân trái bẹt ra để sát xuống tọa cụ, gót chân trái co sát vào bồ đoàn, rồi bẹt đầu gối chân phải ra sát xuống tọa cụ,dùngtay trái kéo bàn chân phải co lại đặt lên đùi trái,gót chân phải sát vào bụng. Nên nhớ hai đầu gối phải chấm sát xuống tọa cụ,cột xương sống và cổ phải thẳng đứng.
Ngồi kiết già là ngồi trên bồ đoàn, hai chân co lại, hai đầu gối bẹt ra để sát xuống toạ cụ, dùng tay phải kéo bàn chân trái để lên đùi phải, gót chân tráisát vào bụng, rồi dùng tay trái kéo bàn chân phải để lên đùi trái, gót chân phảisát vào bụng. Nên nhớ hai đầu gối phải chấm sát xuống tọa cụ, cột xương sống và cổ phải thẳng đứng.
Hai cánh tay buông thỏng thoải mái,hai bàn tay để ngửa trước bụng,dưới rốn độ 3cm, bàn tay phải trên lòng bàn tay trái, hai đầu ngón tay cái chạmnhau.Đôi khi cũng có thể để hai bàn tay úp trên đùi cho thế ngồi được cân bằng, hai vai ngang nhau, cột xương sống và cổ thẳng đứng.
Về hơi thở thì có nhiều cách :
« Sổ tức thô » là ngồi kiết già hay bán già, hai bàn tay để úp trên đùi, hít hơi vào bằng mũi mạnh và dài, nghe tiếng kêu trong sống mũi như tiếng ngáy ngủ, đưa hơi lên não bộ rồi vòng xuống bụng, bụng phồng lên ; kế đó nín thở,trong khi nín thở đếm thầm theo nhịp tim độ 30 tiếng ; rồi thở ra như bong bóng xì hơi bằng miệng hé mở, bụng xẹp xuống.
« Sổ tức tế » là ngồi kiết già hay bán già, bàn tay phải để trên lòng bàntay trái trước bụng, dưới rốn độ 3cm, hai đầu ngón tay cái chạm nhau,hít hơi vào bằng mũi, nghe tiếng kêu trong sống mũi như tiếng ngáy ngủ, dài độ tiếng đếm, bụng phồng lên; ngưng một lúc rồi thở ra bằng miệng hé mở, bụng xẹp xuống.
« Hơi thở phát sanh Hỷ Lạc » là ngồi kiết già hay bán già, bàn tay phảiđể trên lòng bàn tay trái trước bụng, dưới rốn độ 3cm, hai đầu ngón tay cái chạm nhau ; lưỡi cong lại nhẹ nhàng, đầu lưỡi chạm vòm hàm trên;hít hơi vào bằng mũi dài độ 3 tiếng đếm, nghe tiếng hơi thở vào ra nơi mũi, bụng phồng lên ; rồi thở ra cũng bằng mũi, bụng xẹp xuống. Nếu có thể, bạn nên tự tìm raloại hơi thở làm phát sanh hỷ lạc cho mình thì tốt hơn.
« Hơi thở phát sanh lạc» là ngồi kiết già hay bán già, bàn tay phải để trên lòng bàn tay trái trước bụng, dưới rốn độ 3cm, hai đầu ngón tay cái chạm nhau ; lưỡi cong lại nhẹ nhàng, đầu lưỡi chạm vòm hàm trên;hít hơi vào bằng mũi dài độ 2 tiếng đếm, không nghe tiếng, chỉ cảm thấy hơi thở vào ra nơi mũi;rồi thở ra cũng bằng mũi. Nếu có thể, bạn nên tự tìm ra loại hơi thở làm phátsanh lạc thọ cho mình thì tốt hơn.
« Hơi thở phát sanh thanhtịnh»là ngồi kiết già hay bán già, bàn tay phải để trên lòng bàn tay trái trước bụng, dưới rốn độ 3cm, hai đầu ngón tay cái chạm nhau ; lưỡi cong lại nhẹ nhàng, đầu lưỡi chạm vòm hàm trên, để hơi thở vào ra thật nhẹ nơi mũi hầu như không cảm thấy.
2.1- Tầm (Vitakka) là hướng tâm đến định tướng.Thực hành tập trung tư tưởng vào đỉnh đầu, tam tinh (giữa hai chânmày), chóp mũi, tim hay rốn. Khi tập trung tư tưởng vào đỉnh đầu hay tam tinh thành công thì cảm thấy nơi đó rần rần, hoặc như có mạch máu nhảy, hoặc xoáy mạnh. Khi tập trung tư tưởng vào tim thành công thì ý thức rõ ràng tiếng và nhịp tim đập. Khi tập trung tư tưởng vào chóp mũi thì cảm giác rõ ràng hơi thở ra vào. Khi tập trung tư tưởng vào rốn thì ý thức rõ ràng bụng phòng xẹp theo hơi thở vào ra.
2.2- Tứ (Vicara) là tâm bám sát vào định tướng trong một thời gian dài,không lo ra, xao lãng, gián đoạn. Nếu là thực hành Chỉ thì Tứ là tâm bám sát vào một điểm trên cơ thể. Nếu là thực hành Quán thì Tứ là tâm bám sát vào một đề tài đang suy niệm. Dùng Tầm và Tứ để ly dục, ly bất thiện pháp, đoạn trừ vọng tưởng và phiền não trong tâm. Khi thực hành Tầm Tứ thành công là đã được Nhất tâm.
2.3-Hỷ (Piti) là cảm thọ mừng, thỏa mãn (tâm vui mừng) :Phải nhận xét kỹ khi Hỷ (vui mừng) khởi lên trong tâm thì hơi thở như thế nào, nhịp tim nhưthế nào , nét mặt như thế nào, cơ thể như thế nào ; rồi khi ngồi thiền muốn khởi tâm Hỷ cũng phải điều chỉnh hơi thở, nhịp tim , nét mặt, cơ thể và tư thế ngồi như thế. (Có thể làm như một kịch sĩ biểu lộ tâm vui mừng trên sân khấu,nhưng phải chú trọng đến hơi thở, nhịp tim, nét mặt và thế ngồi).
2.4- Lạc (Sukha) là cảm thọ an vui (thân tâm an lạc): Hỷ thọ (mừng)sanh Lạc thọ (vui). Nhưng Lạc thọ có tánh êm dịu hơn. Phải nhận xét kỹ khi Lạc (thân tâm an lạc) khởi lên thì hơi thở như thế nào, nhịp tim như thế nào, nét mặt như thế nào, cơ thể như thế nào ; rồi khi ngồi thiền muốn khởi Lạc thọ (làm cho thân tâm an lạc) cũng phải điều chỉnh hơi thở, nhịp tim, nét mặt, cơ thể và tư thế ngồi như thế. Nên để ý là hơi thở và nhịp tim trong Lạc thọ nhẹ nhàng và êm dịu hơn trong Hỷ thọ. Nếu muốn có Hỷ và Lạc cùng một lúc thì phải điều chỉnh hơi thở và nhịp tim vào mức trung bình giữa Hỷ và Lạc.
2.5- Nhất tâm (Ekacitta) còn gọi là Nhất điểm tâm (Ekaggatacitta) là tâm an trú vào một điểm hay một đề tài : không lo ra, xao lãng, loạn động. Khi thực hành Tầm Tứ thành công là đã có Nhất tâm.
3- Lục Diệu Pháp Môn là Sổ, Tùy, Chỉ, Quán, Hoàn và Tịnh. Lục Diệu Pháp Môn do các vị Tổ lập ra về sau trong khi dạy Tổ sư thiền
3.1- Sổ tức(Ànàpànasati)là quán niệm hơi thở bằng cách đếm số, gồm hai phần Thô và Tế.Sổ tức thô là ngồi kiết già, hít hơi vào bằng mũi mạnh và dài, đưa hơi xuống bụng rồi nín thở, trong lúc nín thở đếm thầm theo nhịp tim từ 1 đến 25 hay 30hay 35, rồi thở ra như bong bóng xì hơi bằng miệng hé mở;làm như vậy khoảng 10 lần.
Sổ tức tế là ngồi kiết già, hít hơi vào bằng mũi nhẹ và dài (khoảng 6 tiếng đếm), ngưng một lúc rồi thở ra bằng miệng nhẹ và dài,đếm một; lần thứ nhì đếm hai … đến 50 hay 60 lần. Trong khi thực hành sổ tức tế nên áp dụng hơi thở nào làm cho thân tâm nhẹ nhàng thoải mái. Trên đây chỉ nói đến hai loại sổ tức đơn giản nhất, ngoài ra các vị Tổ còn dạy nhiều cách quán sổ tức khác.
3.2- Tùy tức (Anussati) là theo dõi hơi thở ra vào nhẹ nhàng bằng mũi tùy theo nhu cầu của cơ thể, không dụng tâm điều khiển, không đếm số. Lưỡi cong lại nhẹ nhàng, đầu lưỡi chạm vòm hàm trên. Nếu có chảy nước bọt trong miệng cứ nuốt vào bụng, rất tốt vì rất bổ dưỡng. Vẫn tiếp tục Tùy tức trong khi thực hành Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh.
3.3- Chỉ(Samatha) làtập trung tư tưởng vào một điểm trên cơ thể nhưđỉnh đầu, tam tinh, chóp mũi, tim, rốn … Tu chỉ để được Định.
3.4- Quán (Vipassanà)có nhiều cách:Quán sát (hay Minh sát) là nhận xét và suy nghiệm để tìm hiểu về các giai đoạn sinh, trụ, dị, diệt của một vật, của các vọng tưởng, của các phiền não,của các trạng thái tâm lý như vui, buồn, hòa, giận …, là suy nghĩ để tìm hiểu về Chánh pháp như Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, 12 nhân duyên … Tu quán đểđược Tuệ. Quán tâm (hay Hoàn) là nhận thức rõ ràng sự sanh khởi, biến dạng,chấm dứt của các vọng tưởng và phiền não trong tâm. Khi tâm khởi tham, biết tâm có tham; khi tâm khởi sân, biết tâm có sân; khi tâm khởi định, biết tâm có định ; khi tâm khởi hôn trầm, biết tâm khởi hôn trầm ; … Quán tưởng (hay Quán niệm) là nhắm mắt tưởng nhớ lại rõ ràng các hình tượng và màu sắc mà mình đã biết lúc mở mắt như hình tượng Phật, ánh sángmặt trời rạng đông, … ; hoặc các hình tượng và màu sắc mà mình được biết qua sự mô tả trong các đoạn kinh như cõi Cực lạc, đức Quán Thế Âm, đức Đại Thế Chí, …
3.5- Hoàn là trở lại quán cái tâm năng quán của chính mình. Sau khi nhận biết có vọng tưởng hay phiền não sanh khởi trong tâm và đã tìm cáchđoạn trừ, liền Hoàn tức là trở lại Quán tâm mình xem đã hết vọng tưởng và phiền não đó chưa. Quán xem tâm có định hay không có định.
3.6-Tịnh là giữ tâm an lạc thanh tịnh, không phiền não, không vọng tưởng, không Chỉ, không Quán. Tịnh là tâm Xả, không cố chấp, không vướngmắc, là tâm bình đẳng giữa muôn loài chúng sanh .
From : Minh Thiện & Diệu Xuân.
Tham Thiền, Niệm Phật
Tại sao chúng ta không nhận ra cội gốc, khuôn mặt thật của mình? Ðó là vì chúng ta chưa dẹp bỏ ngã tướng và tâm ích kỷ của mình.
Tham Thiền tức là quán chiếu. Quán chiếu gì? Quán chiếu Bát Nhã. Trong mỗi niệm, chúng ta hãy quán chiếu lại chính mình, chớ không phải quán chiếu những người khác--quán chiếu xem mình có ở đó hay không.
Người tham Thiền phải thấu suốt những vấn đề căn bản. Ðó là những việc gì? Tức là thói quen tật xấu của mình. Khi đả Thiền Thất tức là chúng ta cố gắng dẹp trừ hết những tập khí xấu xa và lỗi lầm của mình.
Trong Thiền Ðường, mọi người ngồi tham Thiền. Ðó là để thử nghiệm xem ai có thể trúng tuyển quả vị Phật. Làm sao để trúng tuyển? Cần phải "bên trong không chấp thân tâm, bên ngoài không thấy có thế giới."
Nhiều người tham Thiền phạm phải hai khuyết điểm: thứ nhất là điệu cử, thứ hai là hôn trầm--nếu họ không khởi vọng tưởng thì cũng ngủ gục trong Thiền Ðường.
Tham Thiền, quan trọng là phải có tâm nhẫn nhục, tâm bền bỉ. Bí quyết tham Thiền là nhẫn. Không nhẫn nổi nữa cũng vẫn cứ cố nhẫn. Nhẫn cho đến cực điểm thì tự nhiên sẽ quán thông, sáng suốt, khai ngộ.
Khi tham Thiền đến độ chín muồi thì không những hết vọng tưởng, mà còn bớt dần nóng giận, bớt dần phiền não, phẩm cách cao thượng hơn, khí phách mạnh mẽ thêm.
Tại sao chúng ta không tương ưng với Ðạo? Vì tâm cuồng loạn chưa ngừng nghỉ.
Tham Thiền cần có lòng nhẫn nại, bởi vì đó là vốn liếng của sự khai ngộ.
Khi tham Thiền, chúng ta có cơ hội khai ngộ, tự tánh quang minh hiện rõ như mùa xuân về lại trên trái đất, vạn vật đều sinh sôi nẩy nở.
Người chân chánh tham Thiền là người chân chánh niệm Phật. Người chân chánh niệm Phật cũng là người chân chánh tham Thiền. Kẻ chân chánh trì Giới cũng là kẻ chân chánh tham Thiền.
Chân ngã là gì? Tức là tự tánh, cũng tức là thành Phật. Thành Phật mới là chân ngã. Trước khi thành Phật thì tất cả đều là giả.
Thân thể ai không nhiễm ô thì người ấy là Phật; thân thể ai nhiễm ô thì người ấy là chúng sanh. Nhiễm ô là gì? Nói vắn tắt thì "nhiễm ô" tức là nhìn không thông, xả không được, giờ giờ phút phút luôn sanh khởi vọng tưởng.
Dụng công cho đến lúc thành thục rồi thì chúng ta sẽ ăn mà không biết là mình đang ăn, mặc mà không chấp trước vào y phục mình đang mặc, còn nói chi đến những vật ngoài thân--tất cả đều xả bỏ hết!
Tu hành không chỉ hạn hẹp trong việc tham Thiền, tụng Kinh mà thôi. Phải tùy nơi tùy lúc mà tu hành. Ðừng móng tâm phân biệt nhiều. Chớ tranh đấu vì quyền lợi, giành chức lãnh đạo để sai khiến người khác, và cũng chớ nên biểu diễn, thi thố tài năng trước mặt Thầy mình.
Ðạo quý tại chuyên nhất. Tướng tài do mưu lược chứ không tại hùng dũng. Binh lính cần tinh nhuệ chứ không cần nhiều.
Chân thật niệm Phật là luôn luôn niệm trong từng giây từng phút; vọng tưởng hay ý nghĩ gì về ăn uống cũng không có cả--cái gì cũng quên bẵng thì đó mới là chân thật niệm Phật.
Chúng ta niệm Phật, Phật cũng niệm chúng ta--giống như đánh điện tín đến Phật A-Di-Ðà vậy. Ðó gọi là cảm ứng Ðạo giao. Nếu chúng ta không niệm Phật thì Phật không có cách gì để nhiếp thọ được; thế nên, chúng ta phải trì niệm danh hiệu Phật.
Niệm Chú, cần phải niệm cho đến lúc Chú lưu xuất từ tâm ra và đồng nhập trở vào tâm. Chú và tâm, tâm và Chú cùng hợp nhất vào một âm thanh, không thể phân biệt. Niệm mà không niệm, không niệm mà niệm.
Chúng ta lễ Phật, Phật nhận lễ, thì phước huệ của chúng ta tăng trưởng. Thế nên, lễ Phật là "cảm," nhận lễ là "ứng"; đó là Ðạo giao.
From : HT Tuyên Hoa
**************
****************