Publicité

Ngày 25/6/2013, tại hội trường Thành ủy TP.HCM, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng Tổ Ðại biểu QH đơn vị bầu cử số 1, TP.HCM đã có buổi tiếp xúc lắng nghe ý kiến, kiến nghị của cử tri doanh nhân đại diện các DN trên địa bàn thành phố.


Tham dự buổi tiếp xúc đặc biệt này có Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Thị Hồng; Phó Chủ tịch Thường trực UBMTTQVN TP.HCM Võ Thị Dung cùng đại diện nhiều sở ngành của TP và gần 300 doanh nhân hoạt động trong nhiều ngành nghề.


Tại buổi tiếp xúc, các đại biểu đã nghe đại diện Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố thông báo một số kết quả kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa 13, trong đó nhấn mạnh về lĩnh vực thực hiện chính sách kinh tế như biện pháp kiềm chế lạm phát, sửa đổi luật Thuế giá trị gia tăng, luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, luật Doanh nghiệp…


15 ý kiến phát biểu của các doanh nhân tại buổi tiếp xúc bày tỏ sự đồng tình, đánh giá cao những kết quả mà kỳ họp thứ năm, QH khóa XIII đạt được, đồng thời đề xuất nhiều ý kiến, kiến nghị lên QH, Chính phủ để hoàn thiện một số chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn, phát triển sản xuất, kinh doanh, trong đó có nhiều vấn đề liên quan đến giải pháp tháo gỡ về vốn cho chủ đầu tư, chính sách hỗ trợ để doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn lãi suất thấp, giảm thuế nhập khẩu, kích thích ngành nghề phát triển, vấn đề xóa các dự án treo, vấn đề nông nghiệp.


Đông đảo doanh nhân TPHCM trò chuyện với Chủ tịch nước.


Cử tri Huỳnh Văn Minh - Chủ tịch Hội doanh nghiệp TP.HCM cho rằng, kỳ họp Quốc hội lần này có nhiều nội dung nổi bật, chọn đúng các vấn đề nóng để đưa ra thảo luận, giải quyết. Các đại biểu Quốc hội đều thể hiện thái độ mạnh mẽ, rõ ràng và quyết đoán, nhất là trong việc lấy phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt do Quốc hội bầu, phê chuẩn. Đánh giá về các vấn đề liên quan đến tình hình doanh nghiệp TP.HCM hiện nay, cử tri Huỳnh Văn Minh cho biết, khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp hiện nay không phải là vốn và lãi suất như năm 2011-2012 mà là thị trường. Sức mua của thị trường trong nước giảm mạnh ở hầu hết các mặt hàng, từ hàng tiêu dùng cho đến may mặc, vật liệu xây dựng…Thị trường sụt giảm làm lượng hàng tồn kho ngày càng nhiều, doanh nghiệp không dám đầu tư, mở rộng mà thu hẹp quy mô, sản xuất cầm chừng.


Với gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng dành cho ngành bất động sản, có ý kiến cho rằng, nên phân bổ về từng địa phương để doanh nghiệp sớm tiếp cận được gói này. Ngoài ra, các doanh nghiệp đề nghị cần có chính sách giúp doanh nghiệp sớm tiếp cận được nguồn vốn hỗ trợ, giảm lãi suất cho vay xuống còn 8-10%/năm là phù hợp. Đối với trái phiếu Chính phủ, nên ưu tiên bán cho người dân trước nhằm huy động nguồn lực tiền, vàng trong dân còn rất lớn để đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh.


Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp xúc cử tri là doanh nhân.

http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/07/phat-bieu-cua-doanh-nhan-voi-ong-ctn.html


Cử tri Nguyễn Văn Đực - Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP.HCM cho rằng, thủ tục hành chính trong xây dựng, nhà đất quá nhiêu khê, phức tạp và đó là một trong những nguyên nhân đẩy giá thành sản phẩm lên cao, gây lãng phí và tham nhũng. “Chất lượng công trình không tùy thuộc vào thủ tục nhiều hay ít mà phụ thuộc vào năng lực quản lý, chuyên môn của doanh nghiệp. Nhà nước và người dân mua nhà đòi hỏi doanh nghiệp phải giảm giá bán; Doanh nghiệp bất động sản chúng tôi đòi hỏi Nhà nước phải giảm thủ tục. Bởi thủ tục nhiều càng dễ nhũng nhiễu, tham nhũng”.


Cử tri Nguyễn Văn Dinh nói: “Chúng tôi thấy Quốc hội đã có nghị quyết để ổn định thị trường vàng. Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định và các bộ, ngành đã cho ra nhiều thông tư, hướng dẫn về tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh vàng làm cho chúng tôi bị bội thực, rất lo sợ về chính sách. Sắp tới liệu ngành Mỹ nghệ vàng bạc của chúng tôi có tồn tại song song với các ngành nghề khác tại Việt Nam hay không?”.


Doanh nhân Nguyễn Xuân Thiều - Công ty địa ốc Sài Gòn cho rằng, việc Chính phủ ra Nghị quyết 02 rất phù hợp, nhất là cho vay mua bất động sản nhưng triển khai cho vay ưu đãi quá khó vì quy định không rõ ràng.


Các cử tri doanh nhân cũng nêu lên rất nhiều khó khăn trong lĩnh vực nông nghiệp, phần lớn thiệt thòi thuộc về nông dân khi hàng nông sản khó khăn trong đầu ra mà chưa có bài toán giải quyết khả thi để cứu bà con. Bất cập chính sách thuế đối với doanh nghiệp cơ khí, vì vậy không tạo động lực cho doanh nghiệp ngành cơ khí nghiên cứu chế tạo và tăng khả năng cạnh tranh với hàng nhập nước ngoài.


TS Nguyễn Bách Phúc - Chủ tịch Hội Tư vấn khoa học công nghệ và quản lý TP.HCM cho rằng: Đã có chính sách giảm thuế cho doanh nghiệp nhưng cũng cần xem nông dân - những người đang mua giống, phân bón và sản xuất ra sản phẩm để bán lại - như một dạng doanh nhân, để quan tâm có những chính sách hỗ trợ. “Quốc hội giảm thuế cho doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng thực tế nông dân chẳng được bao nhiêu trong ấy” - TS Nguyễn Bách Phúc cũng đề nghị kỳ họp tới Quốc hội hãy đặt trọng tâm vào nông nghiệp và nông dân. Bởi người nông dân được sống bình đẳng như mọi người chính là nền tảng để ổn định xã hội.


Ðáng chú ý là các doanh nghiệp còn gặp rất nhiều khó khăn, kinh doanh thua lỗ, phải thu hẹp sản xuất, giải thể. Một trong những nguyên nhân là các chính sách của Nhà nước chưa đồng bộ, thống nhất; các chính sách miễn, giảm thuế, giãn thuế mang tính tạm thời; chính sách tỷ giá, lãi suất không ổn định. Sức mua của thị trường trong nước giảm mạnh, làm cho hàng tồn kho lớn. Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố kiến nghị Nhà nước cần tạo hành lang pháp lý thông thoáng, an toàn cho doanh nghiệp hoạt động; kiến nghị các bộ, ngành kịp thời có văn bản hướng dẫn thi hành các nghị quyết, luật, nghị định của Chính phủ để các chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà nước nhanh chóng đi vào cuộc sống.


Bên cạnh đó, hàng loạt các chính sách khác về thuế, phí cũng như quản lý nhà nước về kinh tế, đất đai, chậm ban hành văn bản hướng dẫn luật gây khó khăn trong triển khai thực tế, đã được cử tri doanh nhân phản ánh thẳng thắn tới đoàn đại biểu Quốc hội thành phố.


Thay mặt đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM, Chủ tịch nước hoan nghênh các ý kiến và kiến nghị của cử tri doanh nhân nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Chủ tịch nước nhấn mạnh, đây là những thông tin hết sức quan trọng đối với đại biểu Quốc hội. Kinh tế TP.HCM hiện chiếm 30% GDP cả nước. Nếu doanh nghiệp thành phố gặp khó khăn sẽ ảnh hưởng đến GDP của cả nước, vì vậy chính quyền thành phố cũng cần góp sức cùng các doanh nghiệp để vượt qua khó khăn trước mắt, thúc đẩy tăng trưởng.


Về các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, Chủ tịch nước nêu rõ: Các chính sách của QH, Chính phủ ban hành đã nhiều. Kỳ họp vừa qua, QH đã bổ sung thêm những giải pháp mang tính cấp bách để hỗ trợ các doanh nghiệp. Ngành nông nghiệp nước ta đang có tiềm năng phát triển mạnh, cùng với những thị trường truyền thống, Nhà nước đang đẩy mạnh phát triển thị trường mới như Nga, Bê-la-rút, thị trường EU, Hàn Quốc... Chủ trương của Ðảng, Nhà nước là tiếp tục chống lạm phát quay trở lại, đồng thời ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy nhanh sản xuất phát triển.


Thông báo một số nét về tình hình kinh tế của đất nước, nhất là các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, Chủ tịch nước đề nghị cùng với chính sách hỗ trợ của nhà nước thì các doanh nhân, doanh nghiệp trong nước cần đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với nhau để tìm được lối ra cho chính mình. Chủ tịch nước nhấn mạnh: Các doanh nghiệp phải chủ động hợp tác với nhau; các hiệp hội ngành hàng, hội doanh nghiệp phải hoạt động tích cực hơn nữa, khắc phục phần nào khó khăn của cộng đồng doanh nghiệp, không phân biệt Trung ương, địa phương, không phân biệt quốc doanh hay ngoài quốc doanh để tìm ra giải pháp vượt qua khó khăn.


Chủ tịch nước đề nghị MTTQ, Ðoàn đại biểu QH thành phố tập hợp đầy đủ những ý kiến, kiến nghị cụ thể của cử tri trong buổi tiếp xúc. Từ những ý kiến, kiến nghị này, Tổ đại biểu QH thành phố sẽ trao đổi với các ban, ngành T.Ư để nghiên cứu, bổ sung những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.


Thu Hiền
http://dddn.com.vn/2013062603383690cat111/chu-tich-nuoc-truong-tan-sang-cac-doanh-nghiep-can-doan-ket-hop-tac-chat-che-de-thoat-kho.htm



"30.000 tỷ ưu đãi mua nhà như... xương gà chiên bơ"


"Đưa gói hỗ trợ 30.000 tỷ về ngân hàng thì họ sẽ “vẽ” ra thủ tục này kia, chúng ta không vay được đâu, đừng có trông chờ, nó như món xương gà chiên bơ, ngửi thì thơm ngon nhưng không ăn được đâu”, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp TP.HCM.


Rất nhiều ý kiến, kiến nghị thẳng thắn đã được các doanh nhân TP.HCM gửi đến Chủ tịch nước, đoàn đại biểu Quốc hội trong buổi tiếp xúc vào chiều ngày 25/6, trong đó phần lớn là ý kiến của các doanh nghiệp bất động sản (BĐS).


“Thơm ngon nhưng không ăn được đâu”


Theo ông Nguyễn Phụng Thiều – Tổng giám đốc công ty địa ốc Sài Gòn – Gia Định thì, nguyên nhân dẫn đến việc rất ít người có thu nhập thấp được vay tiền mua nhà xã hội là vì “chúng ta chưa định nghĩa thu nhập thấp, trong khi có rất nhiều người không chứng minh được thu nhập như lái xe ôm, bán hàng rong... nên các ngân hàng không cho vay”.


Chính vì thế ông Thiều đề nghị cho phép người dân được dùng chính hồ sơ căn nhà mình đã mua (mới trả 30%) để thế chấp với ngân hàng vay tiền, và cho rằng “nếu Chính phủ có công văn chỉ đạo thì việc này sẽ được giải quyết ngay”.


“Tôi xin đảm bảo rằng họ không trả tôi sẽ trả, bởi tôi đã từng bán 1000 căn hộ cho người nghèo và 100% đều trả hết, thậm chí là trả trước thời hạn, chúng ta phải có lòng tin” – ông Thiều quả quyết.


 
Rất nhiều ý kiến thẳng thắn đã được gửi đến Chủ tịch nước trong buổi tiếp xúc
Cũng liên quan đến gói tín dụng 30.000 tỉ, ông Huỳnh Văn Minh – Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệpTP.HCM cho rằng nên phân số tiền này về địa phương: “Chia cụ thể TP.HCM bao nhiêu, Hà Nội bao nhiêu, các tỉnh khác bao nhiêu thì sẽ ít sai sót hơn. Nếu đưa về ngân hàng thì họ sẽ “vẽ” ra thủ tục này kia, chúng ta không vay được đâu, đừng có trông chờ, nó như món xương gà chiên bơ, ngửi thì thơm ngon nhưng không ăn được đâu”.


Với những khó khăn về vốn của các danh nghiệp BĐS, ông Trần Văn Thành nếu kiến nghị để chủ đầu tư được vay tư nhân và thế chấp quyền sử dụng đất cho tư nhân với lãi suất thỏa thuận (mức lãi suất này không vi phạm các quy định hiện hành).


“Nếu được như vậy, chủ đầu tư có thể tìm được nguồn vốn từ chính bạn bè của mình, điều này không chỉ giảm nợ xấu cho các ngân hàng mà ngay cả người cho vay cũng sẽ có được những lợi ích tương tự với các ngân hàng” – ông Thành nói.


Trong khi đó, ông Bùi Anh Viên – Giám đốc công ty xây dựng Đại Lợi “xin cho doanh nghiệp được thế chấp tài sản trong dự án treo để tạo vốn, vì đây là số tiền khổng lồ nhưng hiện không sử dụng được”.


Về mức giá căn hộ hiện nay, ông Nguyễn Văn Đực – Phó chủ tịch Hiệp hội BĐS TP.HCM cho rằng thủ tục xây dựng nhà đất hiện nay quá nhiêu khê, “Chất lượng công trình phụ thuộc vào năng lực, sự quản lý của doanh nghiệp chứ không phải do thủ tục nhiều hay ít, càng nhiều thủ tục thì càng tham nhũng, lãng phí từ đó giá nhà sẽ càng tăng. Nhà nước đòi doanh nghiệp giảm giá bán thì doanh nghiệp chúng tôi đòi nhà nước phải giảm thủ tục” – ông Đực phát biểu.


Bên cạnh đó một số ý kiến chất vấn, kiến nghị liên quan đến lãi suất ngân hàng, chính sách về vàng miếng, cơ khí, nông nghiệp cũng đã được nhiều vị gửi đến Chủ tịch Trương Tấn Sang.


“Trước khi trời cứu phải tự cứu”


Nhắc lại câu nói trên của cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Trương Tấn Sang muốn nhắc nhở các doanh nghiệp, trong hoàn cảnh khó khăn của nền kinh tế hiện nay các doanh nhân TP.HCM càng cần phải phát huy sự sáng tạo của mình.


“Thành phố này rất ít khi xin TW bởi thành phố luôn rất năng động, chính địa kinh tế đã tạo ra những con người như vậy” – Chủ tịch nước nhấn mạnh, và đề nghị: “Các doanh nhân hãy phát huy truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau để vượt qua giai đoạn khó khăn này, các doanh nghiệp phải dũng cảm lên”.


Để làm được điều này Chủ tịch Trương Tấn Sang cho rằng: “Các hiệp hội chuyên ngành phải hoạt động tích cực hơn nữa, không phân biệt TW, địa phương, quốc doanh, ngoài quốc doanh mà phải cùng nhau sáng tạo thì nhất định sẽ có lối ra”.


“Các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng cũng phải ngồi lại cùng doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, cái nào dễ làm trước, khó làm sau. Phải cùng nhau tính toán, vì nếu doanh nghiệp chết thì các ngân hàng cũng chết bởi đó là mối quan hệ cộng sinh (...) qua đây cũng sẽ góp thêm cho TW rất nhiều giải pháp, sáng kiến” - Chủ tịch nước kỳ vọng. 


Nguyễn Cường
http://www.baomoi.com/30000-ty-uu-dai-mua-nha-nhu-xuong-ga-chien-bo/126/11328978.epi

 

 

Cá tầm Trung Quốc được “độc quyền” tại Việt Nam?

 

Tại Việt Nam, các giống cá tầm được nuôi hầu hết nhập về từ Nga hoặc châu Âu http://2.bp.blogspot.com/-Eo7lg482vIQ/UdpFF7QeGdI/AAAAAAAAnXc/Sy4vP7LnMJM/s640/0-94271.jpg


Nguyễn Lê (VNEconomy) - Cá tầm Nga được nuôi rất thành công ở Việt Nam, nhưng chỉ có cá tầm Trung Quốc được phép lưu hành...

 

“Thông minh như thế mà tại sao làm những chuyện như thế, nói thực là tôi không hiểu”, Phó chủ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) Nguyễn Hữu Dũng nói tại cuộc gặp gỡ báo chí sáng 5/7.


Nội dung trao đổi tại cuộc gặp gỡ này đã cho thấy sự khó hiểu về không ít ứng xử của cơ quan quản lý nhà nước trước nguy cơ chưa kịp lớn có thể đã chết yểu của nghề nuôi cá tầm, được cho là có nhiều triển vọng tại Việt Nam.


Khó hiểu thứ nhất, theo quan chức VASEP nói trên, do Việt Nam trước đây không có cá tầm giống bản địa, nên khi nhập ngoại phải có thủ tục nuôi thử nghiệm một thời gian sau đó mới có giấy phép lưu hành trong nước một cách hợp pháp. Nhưng, "khổ một nỗi, trong 27 loài cá tầm thì ở Việt Nam mới có giấy phép cho nuôi một loài thôi, mà loài này chả có giá trị gì cả, là loài cá tầm Trung Hoa", ông Dũng nhấn mạnh.


Trong khi đó, vẫn thông tin từ cuộc gặp gỡ báo chí trên cho thấy, tại Việt Nam các giống cá tầm được nuôi hầu hết nhập về từ Nga hoặc châu Âu. Chẳng hạn, vào năm 2010, giống cá tầm Beluga lần đầu tiên được Tập đoàn Cá tầm Việt Nam nhập vào Việt Nam, tạo nên đàn cá Beluga lớn nhất thế giới hiện nay. Từ tháng 4/2012, tập đoàn này đã nhân giống thành công giống cá tầm Osetra từ đàn cá bố mẹ nuôi ở Việt Nam. Và đến nay tại Tây Nguyên, nhiều trang trại và doanh nghiệp đang nuôi giống cá này, Chủ tịch Tập đoàn Cá tầm Việt Nam Lê Anh Đức cho biết.


Hiện nay ngoài loài cá tầm Trung Hoa thì tất cả đều phải xin phép, mà cá tầm Trung Hoa thì chả ai nuôi cả.
Ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP)


Khẳng định giống cá tầm nhiều doanh nghiệp trong nước đang nuôi có thể mang lại giá trị kinh tế rất cao, song theo ông Dũng thì vì đang nuôi thử nghiệm, nên không thể phát tán rộng rãi, vì chưa được phép lưu hành.


“Hiện nay ngoài loài cá tầm Trung Hoa thì tất cả đều phải xin phép, mà cá tầm Trung Hoa thì chả ai nuôi cả”, ông Dũng than thở.


Chủ tịch Hiệp hội Cá nước lạnh Việt Nam, ông Trần Hào cũng tỏ ra ngạc nhiên, khi trong danh mục chính thức, cá tầm Trung Quốc thì có phép mà cá tầm Nga thì không, trong khi cá tầm Nga đã nuôi cả chục năm rồi.


Nhưng đó chưa phải là khó khăn lớn nhất.


Tại buổi gặp gỡ báo chí, ông Trần Yên, theo lời ông tự giới thiệu, là người nuôi cá tầm đầu tiên ở Việt Nam, hiện là Giám đốc Công ty Thủy sản Tây Bắc, đã rất bức xúc khi kể lại một câu chuyện liên quan đến sự đe dọa của cá tầm Trung Quốc với cá tầm Việt Nam.


"Đầu tháng 5/2013, tôi có phát hiện tại tỉnh Lai Châu một cơ sở nhập cá tầm giống Trung Quốc về Việt Nam và đưa cả người Trung Quốc về nuôi, như vậy là trái công ước quốc tế", ông Yên cho biết. Sau khi báo cáo cả chính quyền xã, huyện và Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lai Châu mà vẫn không nhận được ý kiến gì, ông đã viết thư cho một vị thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Vị thứ trưởng này bèn cho biết, sẽ cử đoàn thanh tra của Tổng cục Thủy sản lên làm việc.


Sau đó, đoàn có lên làm việc, nhưng đến ngày 27/5, trong buổi họp tại Hà Nội thì Tổng cục Thủy sản vẫn chưa có ý kiến gì. Đến ngày 29/5, ông Yên đã gửi thư cho Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát, thư đó lại được chuyển về Tổng cục Thủy sản, và đến ngày 11/6/2013, Tổng cục liền có công văn đề nghị ông Yên về làm việc với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh... Long An.


“Tôi thực sự không hiểu được, tôi làm việc với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Long An để làm gì?”, ông Yên nói.


Vị giám đốc này cũng không giấu được bức xúc, khi đề cập đến hiện tượng một số người Việt Nam mang cá tầm Trung Quốc về “rửa” tại trang trại được lập ở Việt Nam, sau đó chuyển đi tiêu thụ tại thị trường nội địa.


"Tôi biết một trường hợp tại Cao Bằng, ao nuôi chỉ có 400 - 500 m2, mà mỗi năm xuất hàng trăm tấn cá tầm có đầy đủ giấy tờ", ông Yên quả quyết.


Mình không nên trách người Trung Quốc, bởi chính người Việt Nam nhập lậu cá tầm về bán, thậm chí có doanh nghiệp trong hiệp hội cũng nhập.
Ông Trần Hào, Chủ tịch Hiệp hội Cá nước lạnh Việt Nam


Các ý kiến từ Hội Nghề cá Việt Nam và các chủ doanh nghiệp đang trực tiếp sản xuất cũng hết sức lo ngại, khi cá tầm Trung Quốc được nhập lậu vào Việt Nam bằng nhiều con đường đang gây tác động tiêu cực đến cả người sản xuất và người tiêu dùng trong nước, bởi giá rẻ hơn rất nhiều nhưng chất lượng kém.


Khẳng định mỗi ngày vẫn có ít nhất 3 đến 5 tấn cá tầm nhập lậu được chuyển vào Tp.HCM qua đường hàng không. Lượng hàng này chỉ đi qua cửa khẩu và sân bay Nội Bài, và chỉ có một hãng hàng không là Vietnam Airlines được vận chuyển mà tại sao vẫn chưa ngăn chặn được thì “tôi thực sự không biết”, ông Đức trả lời câu hỏi về tiến độ lập trạm kiểm dịch tại sân bay để ngăn cá tầm nhập lậu.


"Mình không nên trách người Trung Quốc, bởi chính người Việt Nam nhập lậu cá tầm về bán, thậm chí có doanh nghiệp trong hiệp hội cũng nhập", ông Trần Hào, Chủ tịch Hiệp hội Cá nước lạnh Việt Nam giãi bày.


Quay trở lại câu chuyện quản lý, hầu hết các ý kiến đều khẳng định đây không phải là việc quá khó. Theo ông Dũng, chỉ cần áp dụng quy định truy xuất nguồn gốc thực phẩm cho cá tầm trên thị trường nội địa. Vì người mua cá ở chợ có thể không biết nguồn gốc nhưng người bán cá tầm cho bà bán cá phải biết họ lấy ở đâu.


Về trường hợp công ty mà ông Yên phát hiện mang cá tầm Trung Quốc về Việt Nam, Phó chủ tịch VASEP nói: “Chúng tôi chỉ đề nghị ông thanh tra của Bộ hỏi công ty kia về giấy tờ nhập cá ở đâu, qua cơ quan nào, cỡ cá là bao nhiêu, nhập ngày tháng năm nào thì ra ngay, nhưng cái khó hiểu nhất là Bộ không làm những chuyện đó”.


Nguyễn Lê
http://vneconomy.vn/20130707085646426P0C19/ca-tam-trung-quoc-duoc-doc-quyen-tai-viet-nam.htm

 

 

Nhập cảnh vào Việt Nam, lấy trộm thông tin ở máy ATM
Ngày 10.7, TAND TP.Hà Nội xét xử sơ thẩm, tuyên phạt 30 tháng tù đối với Ngô Văn Tống (32 tuổi, quốc tịch Trung Quốc) về tội “chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước”.
Theo cáo trạng, rạng sáng 29.8.2012, khi Tống đang tháo dỡ các thiết bị sao chép trộm thông tin dữ liệu thẻ tín dụng tại máy rút tiền của Ngân hàng TMCP Đông Á ở 361 Trường Chinh thì bị Công an P.Khương Trung (Q.Thanh Xuân, Hà Nội) bắt quả tang.

Tống khai nhận ngày 22.8.2012, Tống và Hồ Tử (quốc tịch Trung Quốc) mang theo nhiều thiết bị đọc trộm dữ liệu thẻ, camera để ghi lại thao tác nhập mã pin của khách hàng, thiết bị in thẻ ATM, 20 phôi thẻ từ trắng… nhập cảnh vào Việt Nam.

Ngày 26.8.2012, Tử đến máy ATM của Ngân hàng TMCP Đông Á trên đường Trường Chinh lắp thiết bị sao trộm thông tin. Tối cùng ngày, Tống ra tháo các thiết bị này đem về. Từ thông tin lấy trộm được, chúng đã làm 5 thẻ giả để đi rút tiền nhưng đều bị máy ATM nuốt thẻ. Đến ngày 28.8.2012, Tử quay lại máy ATM đã từng lấy trộm thông tin để lắp đặt thiết bị. Sáng hôm sau, Tống ra tháo thiết bị đem về làm thẻ giả thì bị bắt quả tang, còn Tử đã bỏ trốn .

 

 

 Họ nghĩ rằng có thể dựa vào Trung Quốc để tiếp tục thống trị đất nước. Nhưng còn tệ hơn tội phản quốc, đây đồng thời cũng là một sai lầm lớn cho chính họ. Trung Quốc không vững vàng như họ tưởng mà chỉ là một sự phá sản chưa tuyến bố.

Chuyến viếng thăm chính thức Trung Quốc ba ngày của ông Trương Tấn Sang nhân danh nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã phá mọi kỷ lục về số lượng hiệp ước được ký kết. Bản tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc sau chuyến viếng thăm này cho biết hai bên đã đồng ý và thỏa thuận trên nhiều điểm rất quan trọng và đã ký kết tám hiệp ước và "nhiều văn kiện hợp tác kinh tế khác". Nhiều là bao nhiêu? Chắc chắn phải là quá dài để có thể kể hết dù đòi hỏi cơ bản của một thông cáo chung quan trọng như vậy là phải đầy đủ và chính xác. Nhưng dầu sao thì những hiệp ước được ký kết cũng không quan trọng bằng những thỏa thuận mà bản tuyên bố chung tiết lộ. Không biết những thỏa thuận này có được viết thành văn bản hay không.


Câu hỏi đầu tiên là ông Trương Tấn Sang đã ký kết và cam kết những gì? Nội dung các thỏa hiệp không hề được công bố, ngay cả trên trang báo điện tử của bộ ngoại giao nơi trên nguyên tắc các văn kiện đối ngoại được trình bày đầy đủ nhất. Người ta chỉ được nghe ông bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh qua một cuộc "phỏng vấn báo chí" sau chuyến công du, nhưng bài phỏng vấn này không giải thích gì cả, nó còn sơ sài hơn hẳn bản tuyên bố chung. Vả lại bộ trưởng ngoại giao Việt Nam không phải là người có tiếng nói quyết định trong chính sách đối ngoại, ông không phải là thành viên bộ chính trị, cũng không phải là trưởng ban đối ngoại trung ương và cũng không phải là phó thủ tướng. Riêng trong quan hệ đối với Trung Quốc ông còn ở dưới ông Nguyễn Thiện Nhân, người đại diện Việt Nam trong Ủy Ban Chỉ Đạo Hợp Tác Song Phương Việt Nam - Trung Quốc; sự kiện ông Nhân vừa được bầu bổ sung vào bộ chính trị là một chỉ dấu rằng quan hệ với Trung Quốc trở thành ưu tư hàng đầu của lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Nghiêm trọng hơn là Quốc hội, theo hiến pháp là cơ quan quyền lực cao nhất và quyết định chính sách đối ngoại (điều 83), cũng không được thông báo. Chắc chắn sẽ không có đại biểu quốc hội nào phản đối, hay thậm chí bày tỏ sự thắc mắc. Ai cũng biết cái gọi là quốc hội của chế độ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chỉ là một cơ chế bù nhìn, nhưng lần này từ bù nhìn thật là quá nhẹ. Tất cả những thỏa thuận và hiệp ước trong chuyến đi này đều hoàn toàn do một vài người trong ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam bàn bạc với nhau và quyết định một cách kín đáo. Đây là một sự dấm dúi rất nghiêm trọng và cũng là một thách đố xấc xược với nhân dân Việt Nam, cũng như với đại bộ phận cán bộ và quan chức của chế độ, khi ta nhìn vào nội dung các thỏa thuận.


Điều chắc chắn là ông Trương Tấn Sang chỉ tới Bắc Kinh để ký nhận chính thức những gì đã được quyết định từ trước và do Trung Quốc áp đặt. Bằng cớ là sau đó ông đã im lặng một cách bẽ bàng. Chính quyền cộng sản Việt Nam cũng im lặng ngoại trừ cuộc "phỏng vấn báo chí" của ông Phạm Bình Minh do bộ ngoại giao tự soạn. Báo nào, nhà báo nào đặt câu hỏi? Hình ảnh tiêu biểu nhất của chuyến công du này là tấm hình ông "chủ tịch nước" Trương Tấn Sang cúi rạp mình trước đội vệ binh danh dự Trung Quốc bên cạnh một Tập Cận Bình ung dung đứng thẳng.


Điều cũng chắc chắn không kém, dù nội dung các thỏa hiệp không được công bố và người ta chỉ có thể dựa trên bản tuyên bố chung, là ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã đem đất nước vào hẳn quỹ đạo Trung Quốc.


Ai cũng biết quan hệ hiện nay giữa Trung Quốc và Việt Nam không phải là một quan hệ hợp tác mà là một quan hệ lệ thuộc. Từ "lệ thuộc" không phải là của những người đối lập mà do chính ông Trần Quang Cơ, người từng đại diện Việt Nam trong đàm phán thiết lập quan hệ Việt Trung hồi thập niên 1980, nói ra. Quan hệ lệ thuộc này thể hiện rõ ràng qua cách ứng xử của chính quyền cộng sản Việt Nam đối với Trung Quốc mà mọi người đều đã thấy. Sau mỗi lần tàu hải giám Trung Quốc bắn giết, đánh đập, bắt giam ngư dân Việt Nam và sau đó bắt nộp phạt, thậm chí bạo hành tàu thăm dò địa chấn của Việt Nam ngay trong hải phận Việt Nam, chính quyền Hà Nội đã không bao giờ dám triệu tập đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam để chất vấn mà chỉ dám "giao thiệp" bằng cách đem thư đến sứ quán Trung Quốc để than phiền và để nhận những câu trả lời rất trịch thượng. Nhân dân Việt Nam, nhất là giới trẻ Việt Nam, đã rất phẫn nộ. Họ sẽ còn phải phẫn nộ hơn nữa vì sự lệ thuộc đó nay đã trở thành toàn diện và triệt để sau những gì mà ông Trương Tấn Sang vừa ký kết và cam kết bởi vì nó còn được "thúc đẩy", "mở rộng", "tăng cường" và "làm sâu sắc thêm". Những ai nghi ngờ có thể đọc lại bản tuyên bố chung. Những cụm từ "thúc đẩy", "mở rộng", "tăng cường" và "làm sâu sắc thêm" được lặp lại hơn 60 lần trong một văn kiện dài khoảng 3700 chữ. Cụm từ "hợp tác chiến lược toàn diện" được nhấn mạnh bốn lần, từ "hợp tác" được nhắc lại 61 lần. Ngược lại hai chữ "bình đẳng" hoàn toàn vắng mặt.


Có ba điều đặc biệt nghiêm trọng cần được chú ý.


Một là Việt Nam đã cam kết "điều phối" và "phối hợp" với Trung Quốc, nói cách khác nhận mệnh lệnh của Trung Quốc, trong các quan hệ đối với thế giới, kể cả với Liên Hiệp Quốc, đặc biệt là đối với khối ASEAN và trong các diễn đàn khu vực. Chúng ta mất chủ quyền và không còn tiếng nói độc lập.


Hai là chúng ta cũng có nguy cơ mất cả lãnh thổ bởi vì chính quyền cộng sản Việt Nam đã chấp nhận để bảy tỉnh biên giới Việt Nam - Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh - "hợp tác" và "cùng phát triển" với bốn khu tự trị của Trung Quốc ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Vân Nam. Muốn cùng phát triển thì phải có chế độ chính trị tương tự nghĩa là tự trị, điều mà chắc chắn Trung Quốc sẽ khuyến khích, xúi giục và tài trợ, như là bước đầu của ly khai. Đất nước đang bị đặt trước một tình trạng rất phức tạp và hiểm nghèo.


Ba là chính quyền cộng sản Việt Nam còn vừa bóp chết khả năng hợp tác chặt chẽ với các nước dân chủ, nghĩa là với hầu như cả thế giới. Vào lúc mà Trung Quốc đang được nhìn như một mối nguy có hy vọng gì để Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật và các nước dân chủ chuyển giao cho Việt Nam những vũ khí và kỹ thuật hiện đại khi Việt Nam đã trở thành một chư hầu của Trung Quốc với cam kết "làm sâu sắc thêm hợp tác giữa quân đội hai nước" và "làm sâu sắc thêm giao lưu hợp tác trong lĩnh vực khoa học công nghệ, lập phòng thí nghiệm chung, chuyển giao công nghệ" để tiến tới thế liên kết "hai hành lang, một vành đai" ?


Hậu quả tức khắc đã có thể nhìn thấy. Ông Trương Tấn Sang ngay sau đó đã sang thăm viếng chính thức Indonesia trong hai ngày và đã chỉ được tiếp đón lạnh nhạt trong một chuyến đi hoàn toàn vô tích sự. Sau buổi hội kiến hình thức bắt buộc với tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono, kết thúc bằng một cuộc họp báo chung không có gì để tường thuật vì hai bên không có gì để nói, ông gặp xã giao chủ tịch quốc hội Indonesia, người ít có lý do để gặp ông nhất vì Việt Nam không có quốc hội đúng nghĩa, sau đó đến thăm Văn phòng ASEAN tại Djakarta, cuối cùng thăm đại sứ quán Việt Nam trước khi về nước kết thúc chuyến công du nhạt nhẽo. Indonesia và Việt Nam không có gì để hợp tác về văn hóa, khoa học và kỹ thuật, ngoại thương giữa hai nước không đáng kể. Hợp tác giữa hai nước rất cần thiết nhưng trong một tương lai còn khá dài chủ yếu là hợp tác để tăng cường sự liên đới trong khối ASEAN và bảo đảm hòa bình trong vùng, đặc biệt trên Biển Đông nơi cả hai nước cùng chia sẻ những lo âu trước tham vọng bá quyền lộ liễu của Trung Quốc. Sự hợp tác này đã trở thành vô nghĩa khi Việt Nam đã chấp nhận làm tai mắt của Trung Quốc trong khối ASEAN. Chuyến thăm viếng Hoa Kỳ và Pháp của thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, tổng tham mưu trưởng quân đội, cũng đã chỉ là một chuyến du lịch thuần túy. Ai còn muốn nói chuyện và hợp tác với một con cờ của Trung Quốc mà thế giới đang nhìn như một đe dọa cho hòa bình và những giá trị phổ cập ?


Không có gì đáng ngạc nhiên nếu từ nay quan hệ kinh tế của nước ta với Hoa Kỳ và Châu Âu cũng sẽ sút giảm vì một lý do giản dị là họ không muốn tiếp sức cho một chính quyền vi phạm nhân quyền đồng thời cũng là một vệ tinh của Trung Quốc. Lệ thuộc Trung Quốc như vậy không chỉ khiến Việt Nam mất chủ quyền và có nguy cơ mất thêm đất, biển và đảo, nó còn khiến chúng ta mất những nguồn đầu tư và những thị trường lớn. Kinh tế Việt Nam đang khốn đốn và sẽ còn khốn đốn hơn nữa trong những ngày sắp tới. Thật là vô duyên khi ông Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố tại hội nghị Shangri-la, Singapore, ba tuần trước đó rằng Việt Nam sẵn sàng thiết lập quan hệ đối tác chiến lược Mỹ, Anh và Pháp với điều kiện là họ không can thiệp vào các vấn đề nội bộ của chế độ. Ai muốn thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với chính quyền cộng sản Việt Nam trong lúc này ? Lời nói của ông Dũng khiến người ta nhớ lại chuyện chính quyền cộng sản Việt Nam từng đặt điều kiện để chấp nhận bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ chỉ để khám phá ra sau đó là Hoa Kỳ chưa sẵn sàng. Cánh cửa hợp tác tuy vẫn còn mở nhưng chỉ mở để chờ đợi một nước Việt Nam dân chủ và thực sự có chủ quyền.


Chúng ta có thể tự hỏi tại sao những người lãnh đạo cộng sản lại có thể bất chấp quyền lợi đất nước đến như thế ? Đó trước hết là vì họ quyết tâm giữ chính quyền bằng mọi giá. Các lãnh tụ cộng sản Việt Nam, ngày trước cũng như bây giờ, dù xung đột với nhau đến đâu cũng đều đồng ý với nhau là phải bám vào Trung Quốc để giữ chính quyền, ngay cả nếu vì thế mà đất nước bị thiệt hại. Về điểm này, họ đều như nhau. Ai còn hy vọng gì ở ông Trương Tấn Sang sau chuyến đi này ? Kể cả ông Nguyễn Thiện Nhân mà nhiều nhân sĩ từng đánh giá là một người mới và cởi mở. Họ quên rằng từ hơn hai năm qua ông Nhân là chủ tịch Ủy Ban Chỉ Đạo Hợp Tác Song Phương Việt Nam-Trung Quốc của phía Việt Nam và đã là kiến trúc sư của chính sách đưa Việt Nam vào hẳn quỹ đạo Trung Quốc. Ông vừa được thưởng công bằng một ghế trong Bộ chính trị, rất có thể do áp lực của Bắc Kinh. Phải nhìn thẳng vào sự thực : Đảng Cộng Sản Việt Nam không phải là một đảng yêu nước và không ai trong số những người có quyền nhất trong chế độ đặt quyền lợi của đất nước và dân tộc lên trên hết cả. Họ ứng xử không khác gì một lực lượng chiếm đóng. Tất cả đều chủ trương đàn áp thẳng tay mọi khát vọng dân chủ và không một ai mảy may xúc động trước những bản án nặng một cách dã man đối với những thanh niên chỉ có tội yêu nước, đòi dân chủ và phản đối chính sách xâm lược của Trung Quốc. Đàn áp chính trị đã rất thô bạo trong hơn ba năm qua và sẽ còn hung bạo hơn nữa trong những ngày sắp tới.


Họ nghĩ rằng có thể dựa vào Trung Quốc để tiếp tục thống trị đất nước. Nhưng còn tệ hơn tội phản quốc, đây đồng thời cũng là một sai lầm lớn cho chính họ. Trung Quốc không vững vàng như họ tưởng, mà chỉ là một sự phá sản chưa tuyến bố. Nó sẽ không thể duy trì lâu mức tăng trưởng kinh tế giả tạo bằng những chi tiêu công cộng, bằng cách sản xuất rồi tồn kho vì không bán được, bằng cách xây dựng những thành phố không người ở và những cầu đường không cần thiết. Nếu cách quản lý kinh tế này mà không dẫn tới phá sản thì phải vất bỏ tất cả mọi kiến thức và kinh nghiệm về kinh tế. Sự phá sản của mô hình Trung Quốc là chắc chắn và càng che dậy lâu bao nhiêu sự sụp đổ sẽ càng đau đớn bấy nhiêu.


Với một cái nhìn bình tĩnh, ta có thể nhận định rằng tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đã có được nhờ hai yếu tố ; một là vì thế giới hy vọng sự hợp tác sẽ khiến Trung Quốc chuyển hóa về dân chủ và hòa nhập vào thế giới ; hai là vì trong gần ba thập niên lý thuyết kinh tế thời thượng tại các nước giàu đã là lý thuyết kích thích tăng trưởng bằng tiêu thụ tối đa và nhập khẩu thả cửa. Nhưng hiện nay tình thế đã thay đổi hẳn. Trung Quốc đang trở thành một đe dọa cho hòa bình và một thách thức đối với các giá trị phổ cập, thế hợp tác đang nhường chỗ cho thế kình địch. Mặt khác, chính sách phát triển kinh tế bằng tiêu thụ và nhập khẩu đã được nhận diện là rất sai và, từ nay, ưu tư hàng đầu của mọi chính quyền là giữ cân bằng ngân sách và cán cân thương mại. Trung Quốc đã cố che giấu những khó khăn bằng một chính sách tín dụng liều lĩnh và bằng cách gia tăng chi tiêu công cộng với kết quả là khối tín dụng phình lên một cách nguy hiểm. Vào năm 2008, khi cuộc khủng hoảng bắt đầu, khối tín dụng của Trung Quốc được ước lượng là 9.000 tỷ USD, ngày nay con số này là 23.000 tỷ USD, nghĩa là gấp bốn lần tổng sản lượng nội địa (GDP), trong đó một nửa là nợ khó đòi. Chưa kể khối tín dụng mà các công ty quốc doanh lớn cho các công ty nhỏ vay được ước lượng vào khoảng 200% GDP. Đó là những dấu hiệu rất báo động. Sự phá sản của Trung Quốc không còn che giấu được bao lâu nữa. Thực ra nó đã bắt đầu xuất hiện. Ngay lúc ông Trương Tấn Sang đang ở Trung Quốc thì ngân hàng lớn thứ tư của Trung Quốc, Trung Quốc Ngân Hàng, đã hết khả năng hoàn trả và chỉ được cứu nguy nhờ sự can thiệp khẩn cấp của Ngân hàng trung ương. Trong cùng thời gian, lần đầu tiên Trung Quốc đã phải bỏ một dự án phát hành công khố phiếu vì không có người mua. Hiện nay, mười lăm (15) trong số mười sáu (16) ngân hàng lớn nhất của Trung Quốc có trị giá chứng khoán thấp hơn trị giá kế toán, nói nôm na là lỗ và nguy ngập. Dư luận đã rất xôn xao khi Hoa Kỳ và Pháp bị mất điểm AAA và tụt xuống hàng AA+, nhưng ngày nay mức độ tín nhiệm của kinh tế Trung Quốc chỉ còn là A- với qui chế "theo dõi quan ngại" (negative watch), nghĩa là còn có thể giảm nữa theo các định chế đánh giá (rating agency).


Và Trung Quốc không chỉ sắp phá sản về mặt kinh tế mà còn đang bị hủy diệt về môi trường. Sông cạn, đất khô, nước không uống được, không khí không thở được. Chính sự tồn tại của Trung Quốc đang bị đe dọa.


Cũng có những dấu hiệu cho phép nghĩ là chính Tập Cận Bình và ban lãnh đạo mới của Trung Quốc đã nhìn thấy nguy cơ của họ và đang tìm cách thích nghi với bối cảnh thế giới mới, nghĩa là thay đổi bản chất của chế độ. Nếu quả như thế thì tương lai của Việt Nam không đến nỗi quá đen tối, nhưng sự mù quáng của ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam lại càng lố bịch hơn : đi thần phục một kẻ đang chuẩn bị đầu hàng.


Những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam chỉ cần nhìn lại kinh nghiệm của chính họ. Cho tới giữa thập niên 1980 họ đã tưởng Liên Xô chỉ có thể toàn thắng, họ đã hung hăng đặt tất cả niềm tin vào sự che chở của Liên Xô và thách thức cả thế giới. Để rồi kinh hoàng khi Liên Xô đột ngột tan vỡ. Điểm chung của các đế quốc bạo ngược là chúng tỏ ra rất mạnh vào lúc sắp sụp đổ, vì lý do đơn giản là lúc đó cũng là lúc chúng gồng mình nhất. Lịch sử sắp lặp lại. Chỉ có một điều là lần này chế độ cộng sản Việt Nam không còn quan thầy nào để dựa.


Trên một mặt khác, lịch sử cũng hình như đang lặp lại. Điều đáng ngạc nhiên nhất trong lúc này là sự im lặng điếc tai của trí thức Việt Nam. Cũng như ba mươi năm trước, vào lúc mà ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam lấy quyết định chuyển hướng 180 độ để thần phục Trung Quốc, đã hầu như không có một phản ứng nào sau chuyến đi Trung Quốc của Trương Tấn Sang. Một giả thuyết là vì các nhân sĩ phản biện phần lớn được sự khuyến khích của ông Sang và do đó nể nang ông Sang. Nếu như vậy thì quá tệ, họ đã đặt một liên hệ cá nhân lên trên vận mệnh của đất nước. Một giả thuyết khác là trí thức Việt Nam chỉ dám phản biện ở mức độ mà họ nghĩ là được phép, nhưng lần này chính quyền cộng sản đã quả quyết theo hẳn Trung Quốc và mọi tiếng nói ngược lại sẽ không còn được dung túng. Nếu như vậy thì còn tệ hơn. Cũng có thể họ không ý thức được một cách đầy đủ sự nghiêm trọng của tình thế dù nhiều người đã báo động (1) vì Việt Nam thực ra không có trí thức chính trị. Nhưng dù không muốn, không dám hay không biết thì cũng rất đáng buồn. Các thế hệ mai sau sẽ phải chua chát tự hỏi trí tuệ và phẩm giá của cha chú họ ở đâu.


Trong khi chờ đợi, thế hệ trẻ hôm nay sẽ phải rút ra kết luận khẩn cấp là họ không thể chờ đợi gì ở thế hệ trước cả. Và như vậy cũng không còn lý do gì để nể nang.


Nguyễn Gia Kiểng ( e thong luan )
 

 

 

 

 

 

   

 

 

 

 

 

 

 

 

Publicité
Tag(s) : #Dư Luận Chính Trị VN
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :