"Động cơ sở hữu chéo là giúp các ngân hàng có thể đầu tư rủi ro mà không cần đảm bảo các quy định hoạt động an toàn."
Đó là nhận xét của ông Nguyễn Xuân Thành - Giám đốc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fullbright trong buổi hội thảo "Rủi ro sở hữu chéo và đầu tư chéo: Thực trạng và giải pháp cho thị trường tài chính" do Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia tổ chức ngày 31/7 tại Hà Nội.
Vô hiệu hóa mọi quy định quản lý
Theo ông Nguyễn Xuân Thành, hầu hết các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp nhà nước lớn tại Việt Nam đều đang sở hữu ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP). Các ngân hàng TMCP này lại quay lại cho chính các doanh nghiệp nhà nước là chủ sở hữu vay. Doanh nghiệp nhà nước lúc này vừa là chủ nợ, vừa là chủ sở hữu của các ngân hàng TMCP con. Thanh khoản của các ngân hàng TMCP sẽ được đảm bảo nhờ lượng tiền gửi lớn của chủ sở hữu là doanh nghiệp nhà nước . Nguồn vốn này tạo tiền đề cho việc ngân hàng này sở hữu ngân hàng khác, tạo ra một vòng tròn sở hữu chéo lẫn nhau phức tạp giữa các ngân hàng trong cùng hệ thống.
Ngoài ra, ông Thành cho biết, ở VN có 1 loại hình doanh nghiệp thực chất là định chế tài chính nhưng ko được quản lý theo quy định của một định chế tài chính, đó là các công ty cổ phần đầu tư tài chính. Họ được hoạt động như 1 doanh nghiệp bình thường, không bị điều tiết bởi ai, không cần công bố thông tin, không bị ràng buộc nhưng lại là nhân tố giúp cho ngân hàng sở hữu ngân hàng. Có nhiều chiêu lách luật của các nhà đầu tư này: "Ở nước ngoài chỉ có giám đốc được thuê, còn ở VN ngay cả Chủ tịch HĐQT và Thành viên HĐQT của Ngân hàng cũng được thuê, mục đích để tránh việc phải công bố minh bạch thông tin" – ông Thành nói.
Nhờ nguồn vốn dồi dào, các nhóm nhà đầu tư này vừa sở hữu doanh nghiệp phi tài chính, vừa có thể sở hữu ngân hàng thương mại. Việc sở hữu chéo có thể vô hiệu hóa hoàn toàn các quy định về đảm bảo an toàn vốn đối với hoạt động của một ngân hàng. Theo đó, ngân hàng thương mại (NHTM) có thể tăng vốn ảo để vô hiệu hóa quy định về vốn pháp định của các NHTM; điều chỉnh tài sản "Có" rủi ro, từ đó làm tăng hệ số đủ vốn (CAR) một cách không thực chất; cho vay người có liên quan để vô hiệu hóa các quy định về giới hạn tín dụng của NHTM; chuyển nợ xấu sang các công ty con từ đó vô hiệu hóa quy định về kiểm soát nợ xấu và trích dự phòng rủi ro...
Theo nhận định của ông Sanjay Karla - Trưởng đại diện Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) tại Việt Nam: sở hữu chéo gây ra nhiều vấn nạn và tác động tiêu cực tới nền kinh tế của chúng ta. Nó không phải một giải pháp tái cấu trúc hiệu quả, thường tạo ra các bong bóng tài sản trong thị trường (thị trường BĐS), tạo ra nợ xấu mang tính hệ thống. Ví dụ điển hình là sự thất bại của Vinashinline, chính phủ VN hiện vẫn đang phải vật lộn để giải quyết những khoản nợ xấu liên quan đến doanh nghiệp nhà nước này.
Vẫn loay hoay giải pháp
Với góc nhìn của cơ quan quản lý, ông Nguyễn Thành Long – Vụ trưởng Vụ quản lý quỹ, Ủy ban Chứng Khoán nhà nước cho hay: nếu việc xử lý không khéo, không có một lộ trình hợp lý sẽ gây ra cản trở cho sự phát triển của nền kinh tế. Quá trình tái cấu trúc thị trường chứng khoán đang thực hiện có thể bao hàm một số giải pháp hạn chế sở hữu chéo thông qua các quỹ đầu tư, công ty đại chúng.
Các chuyên gia kinh tế, cơ quan liên quan kiến nghị giải pháp
Ông Bùi Huy Thọ, đại diện Cơ quan giám sát Ngân hàng – Ngân hàng nhà nước Việt nam kiến nghị bổ sung quy định pháp luật về "người sở hữu cuối cùng" của một Tổ chức tín dụng và trao Cơ quan Thanh tra của Ngân hàng nhà nước quyền thực hiện. "Cần kiểm soát chặt chẽ vấn đề vốn ảo trong hệ thống và xác định danh sách cổ đông cần đặc biệt quan tâm và giám sát chặt chẽ quan hệ tín dụng của các đối tượng này." – Ông Thọ nói.
Trao đổi trong buổi hội thảo, ông Vũ Viết Ngoạn, Chủ tịch Ủy ban giám sát tài chính quốc gia đồng quan điểm về tác hại lâu dài của tình trạng sở hữu chéo, đầu tư chéo. Ông Ngoạn cho rằng: cần tăng cường quyền truy soát nguồn gốc tài sản đầu tư vào để sở hữu các ngân hàng, việc này có thể sẽ giảm được các hiện tượng lách luật thâu tóm ngân hàng của các đại gia bí ẩn.
"Các tổ chức tài chính phụ thuộc lẫn nhau trong sở hữu chéo làm giảm tính năng động, tạo ra sức ỳ, ban đầu chỉ xuất hiện ở một công ty, một tập đoàn nhưng khi xuất hiện sở hữu chéo, sẽ lan truyền nhanh chóng tới cả nền kinh tế, tạo ra những hệ lụy lan tỏa nguy hiểm" – Ông Ngoạn nói rõ
Vấn đề sở hữu chéo và đầu tư chéo là đi ngược lại với nền kinh tế thị trường. Khi các nhà đầu tư đó liên kết với nhau, tạo nên một thế lực thao túng thị trường, thao túng lãi suất bất hợp pháp. Vấn đề sở hữu chéo, đầu tư chéo còn liên quan đến lợi ích nhóm. Đây là những vấn đề cơ bản nhất của bất cứ nên kinh tế nào. - Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu – Người thành lập ngân hàng Việt Nam đầu tiên tại Mỹ chia sẻ trong hội thảo.
“Ma trận” sở hữu chéo, đầu tư chéo trên thị trường ngân hàng
Sở hữu chéo, đầu tư chéo là cụm từ không còn xa lạ gì với mọi người khi nói đến hệ lụy đang xảy ra với hệ thống ngân hàng (NH), gây ảnh hưởng lớn tới cả nền kinh tế. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng bết bát cho nhiều NH, mà không sớm loại bỏ, sẽ gây rủi ro cho toàn hệ thống.
Thực ra, trong rất nhiều vụ án thuộc ngành NH được phanh phui, hầu hết đều có bóng dáng của “tội đồ” sở hữu chéo. Vụ án “bầu” Kiên là một ví dụ điển hình. Với vai trò là cổ đông có ảnh hưởng lớn ở một số NH, ông Nguyễn Đức Kiên (tức “bầu” Kiên) đã qua mặt cơ quan quản lý tạo ra một “ma trận” về vốn ảo, gây ảnh hưởng xấu đến chính sách tài chính, tiền tệ của Nhà nước.
Chỉ tính riêng ở ACB, bằng thủ đoạn lấy “mỡ nó rán nó”, Nguyễn Đức Kiên đã vay số tiền hơn 2.400 tỷ đồng; sau đó sử dụng để mua cổ phần, cổ phiếu của một số NH; rồi dùng số cổ phần, cổ phiếu đó để thế chấp lại các khoản vay ban đầu tại ACB. Dù phía Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã khẳng định ông Nguyễn Đức Kiên không liên quan trực tiếp tới ACB, nhưng đánh giá về hiện tượng "bầu Kiên" và các vấn đề tại ACB, chính lãnh đạo NHNN cũng cho rằng, "câu chuyện của ông Kiên và ACB liên quan đến vấn đề sở hữu chéo và lợi ích cục bộ".
Trên thị trường NH, có thể “điểm danh” rất nhiều hiện tượng của sở hữu chéo. Đơn cử tại NH Bưu điện Liên Việt, Công ty Bưu chính Việt Nam chiếm tỷ lệ sở hữu 12,5%; Công ty Him Lam sở hữu 10,4%; Công ty Chứng khoán Liên Việt chiếm 9,5%; và 62,6% phần quản trị còn lại dành cho các cổ đông khác kể cả ông Dương Công Minh – Chủ tịch Công ty Him Lam. Tại Ngân hàng An Bình, số liệu cập nhập từ tháng 4-2013 cũng viện dẫn ra thành phần quản trị còn phức tạp hơn. Tập đoàn Điện lực EVN chiếm tỷ lệ sở hữu 21,3%; Geleximco chiếm 7,7%, May bank chiếm 20%, IFC chiếm 10% cổ phần sở hữu, ông Vũ Văn Tiền và gia đình chiếm tỷ lệ sở hữu 8%, rồi VNDirect chiếm chỉ lệ sở hữu 3%...
Trong khi đó, theo quy định hiện hành, một cá nhân không thể sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ của một NH. Một cổ đông là tổ chức không được sở hữu vượt quá 15% vốn điều lệ của một NH. Thêm vào đó, cổ đông và những người có liên quan với cổ đông đó như là ông bà, cha mẹ, vợ chồng... thì không được sở hữu quá 20% vốn điều lệ của một NH. Thế nhưng, nếu chỉ cần nhìn vào thực trạng hội đồng quản trị của nhiều NH, các quy định hiện hành bị “ngó lơ”, không phát huy tác dụng và thay vào đó là mạng nhện sở hữu chéo chằng chịt.
Theo ông Nguyễn Xuân Thành, giảng viên Chương trình Giảng dạy kinh tế Fullbright, không ít NHTM đã tận dụng các mối quan hệ đó để lách hầu hết các quy định về đảm bảo an toàn vốn, quy định về giới hạn tín dụng cấp cho 1 khách hàng. Hệ thống tài chính vì vậy bị khuynh đảo. Đặc biệt, cản trở quá trình tái cấu trúc hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD).
Theo TS Vũ Viết Ngoạn - Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính thì sở hữu chéo dễ bị lạm dụng bởi nó tạo cơ hội để cổ đông chi phối định chế tài chính và sử dụng định chế tài chính như một công cụ để đầu tư, cấp vốn theo mục đích riêng của họ. Hệ quả là dẫn tới những giao dịch tài chính vượt ra ngoài khuôn khổ an toàn theo quy định của pháp luật, thoát ly khỏi vòng kiểm soát của các cơ quan quản lý.
Để xử lý vấn đề sở hữu chéo, đầu tư chéo trong hệ thống TCTD, ông Bùi Huy Thọ - Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng (NHNN) cho biết: NHNN đã, đang triển khai đồng bộ 6 giải pháp như xác định chủ sở hữu đích thực của TCTD, hay kiểm soát vấn đề “vốn ảo” trong hệ thống… Đây là vấn đề hết sức phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến quyền, nghĩa vụ, lợi ích của nhiều bên và mất nhiều thời gian thanh tra để xác định rõ thực trạng tài chính cũng như cơ cấu cổ đông của TCTD
Làm rõ việc sử dụng 30.000 tỷ đồng dành cho bất động sản
Đến nay, cả nước đã có 47 dự án đăng ký chuyển đổi từ nhà ở thương mại sang nhà ở xã hội. Bộ Xây dựng cũng đã có ý kiến chính thức làm rõ việc sử dụng nguồn vốn 30.000 tỷ đồng trước một số thông tin đăng trên báo chí gần đây.
47 dự án nhà ở thương mại chuyển đổi thành nhà ở xã hội
Bộ Xây dựng vừa có báo cáo lên Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải về tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ về gói tín dụng 30.000 tỷ đồng cho vay hỗ trợ nhà ở.
Theo đó, tính đến trung tuần tháng 7/2013, cả nước đã có 47 dự án đăng ký chuyển đổi từ nhà ở thương mại sang nhà ở xã hội, với quy mô xây dựng khoảng 33.000 căn hộ, tổng mức đầu tư khoảng 19.000 tỷ đồng; 16 dự án nhà ở thương mại đăng ký điều chỉnh cơ cấu căn hộ, với quy mô thiết kế ban đầu khoảng 4.700 căn hộ, nay xin điều chỉnh tăng lên 6.600 căn hộ.
Bộ Xây dựng cũng đã có văn bản đề xuất 30 danh mục dự án nhà ở xã hội và dự án chuyển đổi nhà ở thương mại sang nhà ở xã hội để Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng thương mại được giao triển khai thực hiện việc cho vay xem xét, thẩm định theo quy định.
Đến thời điểm này, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản xác nhận đăng ký hợp đồng cho vay đối với 02 doanh nghiệp (Công ty cổ phần Vicoland là chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội tại tỉnh Thừa Thiên - Huế với số tiền là 117,7 tỷ đồng và Công ty cổ phần Tư vấn - Thương mại - Dịch vụ Địa ốc Hoàng Quân là chủ đầu tư dự án chuyển đổi sang nhà ở xã hội tại TP Hồ Chí Minh với số tiền là 540 tỷ đồng); ngoài ra đã giải ngân cho Công ty cổ phần Vicoland với số tiền là 34 tỷ đồng.
Dự báo về thị trường bất động sản 2013
Nên đọc Đối với hộ gia đình, cá nhân, các ngân hàng thương mại đã giải ngân được khoảng 11 tỷ đồng cho 56 khách hàng.
Hiện nay, các ngân hàng được giao thực hiện Nghị quyết 02/NQ-CP đã nhận được nhiều hồ sơ xin vay và đang tích cực triển khai tiến hành việc thẩm định để cho vay theo quy định.
Làm rõ việc sử dụng nguồn vốn 30 nghìn tỷ đồng
Cũng tại báo cáo này, Bộ Xây dựng đã làm rõ quan điểm của ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản thành phố Hồ Chí Minh đã trả lời trên báo chí rằng: “Xây dựng nhà ở xã hội là rất đáng hoan nghênh nhưng phải sử dụng nguồn vốn khác. Theo Nghị quyết số 02/NQ-CP thì gói 30.000 tỷ đồng chỉ dùng để giải phóng hàng bất động sản tồn kho, tạo điều kiện cho đối tượng chính sách, dân nghèo tiếp cận được nhà ở dưới 70 m2, giá dưới 15 triệu đồng/m2”.
Bộ Xây dựng khẳng định ý kiến này là không đúng với nội dung quy định của Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ. Bởi Nghị quyết 02 đã quy định rõ đối tượng được vay vốn của gói tín dụng 30.000 tỷ đồng từ nguồn cho vay tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước là hộ gia đình, cá nhân được vay vốn để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội và thuê, mua nhà ở thương mại có diện tích nhỏ hơn 70 m2, giá bán dưới 15 triệu đồng/m2.
Nghị quyết cũng quy định đối tượng được vay vốn là doanh nghiệp xây dựng nhà ở xã hội, doanh nghiệp chuyển đổi công năng dự án nhà ở thương mại sang thành nhà ở xã hội.
Trước ý kiến về việc chỉ nên dành gói hỗ trợ 30.000 tỷ để hỗ trợ việc giải phóng hàng tồn kho bất động sản và cho các chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại có quy mô dưới 70 m2, giá bán dưới 15 triệu đồng/m2 đang xây dựng được vay, Bộ Xây dựng cũng cho rằng việc này không phù hợp với Nghị quyết 02.
Bởi theo Bộ Xây dựng, hàng tồn kho bất động sản không chỉ bao gồm các sản phẩm nhà ở thương mại đã hoàn thành hoặc đang xây dựng dở dang mà còn bao gồm cả các dự án đã triển khai việc giải phóng mặt bằng, đã đầu tư hạ tầng kỹ thuật hoặc đã đầu tư xây dựng một phần công trình...
Hầu hết các dự án nhà ở xã hội được triển khai đều được xây dựng trên quỹ đất 20% của các dự án nhà ở thương mại, khu đô thị mới. Để có quỹ “đất sạch” 20%, các doanh nghiệp (và cả khách hàng góp vốn) đã đầu tư chi phí để giải phóng mặt bằng, đầu tư các công trình hạ tầng thiết yếu.
“Như vậy, việc sử dụng gói hỗ trợ để cho vay đối với các chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội, dự án nhà ở thương mại chuyển đổi sang nhà ở xã hội là giải pháp nhằm thực hiện “mục tiêu kép”, đó là vừa góp phần giải quyết nhà ở cho các đối tượng gặp khó khăn, đồng thời vừa giải quyết tồn kho bất động sản, vật liệu xây dựng và các hàng hoá khác” – đại diện lãnh đạo Bộ Xây dựng khẳng định.
From : Tin moi,Dân tri;....