Publicité

“Là người gốc Hoa nhưng tôi thấy Trung Quốc hành động như vậy là không đúng, không chỉ vi phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam mà còn đe dọa hòa bình và an ninh của 2 nước. Trung Quốc nên sớm rút giàn khoan ra khỏi thềm lục địa Việt Nam”...
Việc Trung Quốc đặt giàn khoan trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam những ngày qua đã tạo nên làn sóng dư luận bất bình không chỉ với người Việt mà trong cả cộng đồng người Việt gốc Hoa định cư ở Việt Nam.
 

Những ngày này, ở tổ dân phố 9, phường Tự An, TP Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk, nơi có 148 hộ Hoa kiều đang sinh sống và làm việc, đâu đâu cũng thấy bà con bàn luận về vấn đề nóng bỏng đang xảy ra ngoài vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.


Ông Lai Nhục Phí mong muốn Trung Quốc nhanh chóng rút giàn khoan về để bà con yên tâm sản xuất 

Ông Lai Nhục Phí (SN 1957, sống ở tổ dân phố 9) bày tỏ quan điểm: “Là người gốc Hoa nhưng tôi cũng như hơn trăm hộ dân ở đây đã gắn bó với mảnh đất này mấy chục năm; quanh năm chăm chỉ, cặm cụi làm ăn trong yên bình. Giờ bỗng nhiên Trung Quốc đem giàn khoan Hải Dương 981 vào đặt ở vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, dù là người gốc Hoa nhưng tôi thấy Trung Quốc hành động như vậy là không đúng, không chỉ vi phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam mà còn đe dọa hòa bình và an ninh của 2 nước. Tôi nghĩ Trung Quốc nên sớm rút giàn khoan về nước. Mong sao nhà nước, khối ASEAN và quốc tế sớm giải quyết ổn thỏa để bà con chúng tôi yên tâm sinh sống, sản xuất, cho đời con, đời cháu chúng tôi mãi được sống trong hòa bình”.
 

Bức thư ông Xáng gửi Đại sứ quán CHND Trung Hoa tại Việt Nam 

Ông Xú A Xáng (SN 1959) còn tự mình viết thư "can gián" gửi đến Đại sứ quán nước CHND Trung Hoa. Thư có đoạn: “Hiện nay chúng tôi đang rất lo ngại tình hình tranh chấp tại biển Đông, đặc biệt là sau khi Chính phủ Trung Hoa cho lắp đặt giàn khoan Hải Dương 981, thuộc vùng biển của Việt Nam, tạo nên sự phản ứng gay gắt trong nước Việt Nam và dư luận quốc tế. Chúng tôi đề nghị Chính phủ Trung Hoa kiềm chế mọi hành động và rút ngay giàn khoan Hải Dương 981 cũng như các loại tàu thuyền hộ tống giàn khoan để khỏi ảnh hưởng đến hình ảnh của Trung Hoa và giữ gìn mối quan hệ hữu hảo giữa Chính phủ và nhân dân hai nước”.
 

Ông Trần Văn Công, Bí thư Đảng ủy phường Tự An, cho biết, trên địa bàn tổ dân phố 9, phường Tự An hầu hết là bà con người Việt gốc Hoa sinh sống với 148 hộ, 522 nhân khẩu. Trong những năm qua, cộng đồng người Hoa luôn đoàn kết, chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách, đồng thời luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Người dân luôn yên tâm sản xuất, phát triển kinh tế. Trước việc chính quyền Trung Quốc đưa giàn khoan trái phép vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cộng đồng người Việt gốc Hoa sinh sống trên địa bàn đều cực lực phản đối

 

Người gốc Hoa ở TP.HCM bất bình trước hành động của Trung Quốc“Chúng tôi chỉ muốn làm ăn, buôn bán bình thường và không muốn xảy ra xung đột giữa hai nước. Vì như vậy hai bên đều sẽ không được lợi ích gì, chỉ có người dân như chúng tôi là khổ”.
Tại TP.HCM, cộng đồng người Hoa sinh sống nhiều và tập trung tại các quận 5, 6, 11. Trong đó khu vực Chợ Lớn (Q.6) được xem là nơi có nhiều người Hoa sinh sống nhất với nghề buôn bán là chủ yếu.


Theo tìm hiểu của PV Dân Việt, những ngày qua, diễn biến vụ Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam luôn thu hút sự quan tâm của người dân nơi đây.

 

 

*************

**************************

 

 

************

*************************

 

Người dân TP.HCM tuần hành phản đối Trung Quốc ngày 11.5
“Chúng tôi chỉ muốn làm ăn, buôn bán bình thường và không muốn xảy ra xung đột giữa hai nước. Vì như vậy hai bên đều sẽ không được lợi ích gì, chỉ có người dân như chúng tôi là khổ”, một người Hoa buôn bán trên đường Lê Quang Sung (Q.6) nói.


Không chỉ lo lắng, nhiều người Việt gốc Hoa thực sự tỏ ra bất bình trước việc làm ngang ngược của Trung Quốc.
Chị Kiều Liên (cựu sinh viên trường Đại học KHXHNV TP.HCM) cho biết rất bất ngờ và bất bình trước hành động của Trung Quốc. Suốt những ngày qua, chị luôn theo dõi rất sát tình hình vụ Trung Quốc lắp đặt trái phép giàn khoan HD 981 tại vùng biển Việt Nam.


Theo chị, việc lắp đặt giàn khoan HD 981 cùng với việc dùng máy bay, tàu chiến đụng độ với tàu cảnh sát biển Việt Nam là không thể chấp nhận được. Cũng theo chị Liên, cộng đồng người Hoa đã sinh sống nhiều đời tại thành phố và luôn xem đây là quê hương thứ 2 của mình.


Tương tự, một số người Hoa tại đây cho biết họ không đồng tình với cách làm như hiện nay của Trung Quốc. Đồng thời họ mong muốn vụ việc cần được giải quyết theo luật pháp quốc tế và giải quyết vụ việc bằng hình thức hòa bình, hữu nghị, tránh các hành động làm cho sự việc ngày càng xấu đi

 

 

Đồng bào Hoa tại Long An phản đối Trung Quốc hạ đặt giàn khoan
Sáng 10.6, Ban Trị sự chùa Ông (TP.Tân An) của đồng bào Hoa tỉnh Long An đã tổ chức họp mặt phản đối hành động Trung Quốc (TQ) hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou-981) trong vùng biển của VN. Buổi họp mặt thu hút hàng trăm người tham gia, tất cả đều bày tỏ bức xúc trước hành động vô lý của TQ và mong muốn góp sức mình để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.


Đồng bào người Việt gốc Hoa ở Tân An quyên góp tiền ủng hộ quỹ “Vì biển đảo” 

 

nguoi-hoa.jpg

 

Nhân dịp này, Ban Trị sự chùa đã kêu gọi mọi người tham gia góp quỹ “Vì biển đảo”. Ông Huỳnh Nghiệp Tân, Trưởng ban Trị sự chùa Ông, Phó chủ nhiệm Câu lạc bộ Lân Sư Rồng của đồng bào Hoa đang sinh sống và làm việc tại tỉnh Long An, chia sẻ: “Là một thành viên của cộng đồng người Hoa, tôi mong muốn mọi người trong cộng đồng hiểu rõ hơn về tình hình biển Đông, về hành động sai trái của TQ, để từ đó cùng nhau tán thành lẽ phải, cùng nhau kiên quyết chống lại hành vi của TQ, vì VN là quê hương của chúng tôi, một dân tộc sống có trước, có sau”.

Theo ông Tân, sau buổi họp bàn với cộng đồng người Hoa  tỉnh Long An, thông điệp phản đối sẽ được truyền bằng nhiều hình thức qua người thân, bạn bè đến đất nước và người dân TQ. “Nếu TQ không rút giàn khoan trái phép thì chúng tôi sẽ cùng nhau ký tên kháng nghị với nội dung phản đối TQ để gửi Ủy ban MTTQ VN”, ông Tân nhấn mạnh.

Ông Tân cũng chính là người đã chuẩn bị, thu thập, tổng hợp những tài liệu thông tin về tình hình biển Đông trong thời gian gần đây từ các cơ quan thông tin đại chúng để trình bày cho đồng bào Hoa ở TP.Tân An hiểu rõ những lý lẽ của VN cùng những việc làm ngang ngược của TQ.

Cộng đồng người Hoa trên địa bàn TP.Tân An, tỉnh Long An hiện có trên 120 hộ, với hơn 1.000 người 

 

 

 Tâm tình của một người Việt gốc Hoa

Kính gửi quý báo, kính nhờ quý báo chuyển đăng đôi dòng tâm sự của tôi, một người Việt gốc Hoa đến đồng bào người Việt gốc Việt và người Việt gốc Hoa khác.
 

Trước hết, xin đừng gọi chúng tôi là người Trung Quốc, tôi rất buồn khi đọc một số bài báo có cách gọi nhầm lẫn người Việt gốc Hoa là người Trung Quốc. Cũng như bao nhiêu người gốc Hoa ở các quốc gia khác, tổ tiên chúng tôi đã di cư bao nhiêu đời, nhiều người không nhớ nổi quê quán tổ tiên ở nơi nào bên Trung Quốc, chỉ biết mình là người gốc Triều Châu, Quảng Phủ, Phúc Kiến, Hẹ hay Hải Nam qua ngôn ngữ truyền lại thôi. Người Trung Quốc vẫn gọi chúng tôi là người Việt Nam và chúng tôi vẫn tự nhận mình là người Việt Nam khi giao tiếp với người Trung Quốc. Còn để tự nhận tên gọi của mình, chúng tôi tự gọi mình là Đường Nhân (Từng Nán trong tiếng Triều Châu và Thòng Dành trong tiếng Quảng Phủ). Xin cứ gọi chúng tôi là người Đường, người Minh Hương hay người Việt gốc Hoa, chứ đừng gọi chúng tôi là người Trung Quốc. Và cũng xin lưu ý là người Việt gốc Hoa không phải là Hoa Kiều, và Hoa Kiều cũng không phải là người Trung Quốc. Người Trung Quốc là những người mang quốc tịch của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. 

Tổ tiên chúng tôi đến Việt Nam và bén rễ qua nhiều đời, bạn bè, hàng xóm, vợ, chồng, bà con, họ hàng, chúng tôi đều có người Việt gốc Hoa lẫn người Việt gốc Việt, nhiều khi chúng tôi còn không phân biệt được đâu là người Đường, đâu là người gốc Việt. Ai còn nói được tiếng nói của tổ tiên thì xem là người Đường, không còn nói được nữa thì xem là người gốc Việt. 
  
Chúng tôi đã được sự bảo vệ rất tốt của luật pháp và nhà nước Việt Nam, nên chúng tôi cũng không cần nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa phải lên tiếng bảo vệ chúng tôi. Chúng tôi chỉ cần chính quyền Trung Quốc rút giàn khoan 981 và lực lượng ra khỏi vùng biển Việt Nam ngay lập tức!   
 
Chúng tôi sinh ra, lớn lên, được nuôi dưỡng, trưởng thành và thành đạt trên mảnh đất Việt Nam này, chúng tôi cũng mang tình yêu quê hương nồng nàn như bao người Việt Nam khác. Khi biển đảo bị xâm phạm, chúng tôi cũng sục sôi căm phẫn như bao người Việt Nam khác. Trong tình yêu nước dâng trào đó, chúng tôi cũng sẵn sàng dốc hết sức người, sức của và tính mạng của mình để bảo vệ quê hương Việt Nam. Chúng tôi chỉ có một quê hương là Việt Nam, nơi chúng tôi đã sinh ra và trưởng thành, cùng ăn chung một loại gạo, cùng uống chung một nguồn nước, cùng đi chung con đường, cùng chia sẻ vinh nhục, buồn vui với 53 dân tộc khác trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Trong sinh hoạt hằng ngày, chúng tôi đã hòa mình vào cộng đồng dân tộc Việt Nam, cái ranh giới dân tộc Kinh hay Đường cũng không còn tồn tại trong ý thức chúng tôi, người Việt gốc Việt và người Việt gốc Hoa khi nói chuyện với nhau đều tự nhận “Người Việt mình!”. Đến khi Trung Quốc kéo giàn khoan 981 vào xâm phạm lãnh hải Việt Nam, chúng tôi vẫn hòa mình vào dòng cảm xúc Việt để đấu tranh cho chủ quyền lãnh thổ. Rồi đến khi sự kiện diễu hành yêu nước ngày 13.5 ở Bình Dương bị những kẻ xấu kích động, họ đồng hóa tất cả những gì có liên hệ đến văn minh Trung Hoa đều là Trung Quốc, và có những hành động đáng tiếc, làm chúng tôi rất buồn, xót xa và hoang mang.

Chúng tôi mong muốn được tham gia, góp sức hết mình vào công cuộc bảo vệ quê hương, chủ quyền biển đảo. Và bổn phận công dân khi Tổ quốc lâm nguy của chúng tôi cần được nhìn nhận một cách tự nhiên, bình thường như bao người Việt Nam khác đã làm.

Tôi xin chia sẻ cùng đồng bào người Việt gốc Hoa, mong đồng bào đừng lo lắng, hoang mang mà mắc mưu của kẻ xấu muốn phá hoại kinh tế, làm rối loạn xã hội, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc và làm suy yếu sức mạnh của đất nước. Lợi ích của chúng ta hòa chung với lợi ích của 53 dân tộc khác trên đất nước Việt Nam này, đồng tiền chúng ta kiếm được là đồng tiền Việt Nam, những người bạn xung quanh và những người cộng sự của chúng ta đều là người Việt Nam. Họ mới chính là người hiểu, giúp đỡ, che chở chúng ta chứ không phải nhà cầm quyền Bắc Kinh. Cho nên chúng ta phải chung tay bảo vệ kinh tế đất nước, tiếp sức cho cuộc đấu tranh của các chiến sĩ ngoài biển khơi.

Cuối cùng, chúng tôi phản đối việc chính phủ Trung Quốc đặt giàn khoan dầu khí 981 trên thềm lục địa Việt Nam. Chúng tôi yêu cầu chính phủ Trung Quốc phải nhanh chóng rút giàn khoan và tàu bè ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Thật là buồn cười cho những tuyên bố chủ quyền về đường 9 đoạn, nhìn vào cái bản đồ của Trung Quốc tự vẽ lên, chỉ nhìn thấy trong đó sự ngang ngược và bá đạo. Lãnh thổ nằm tận phía cực bắc biển Đông mà chiếm lãnh hải đến sát cực nam biển Đông, chỉ chừa lại cho các nước xung quanh mỗi nước một ít. Thuyết phục người ta chấp nhận cái sự vô lý ấy không xong thì dùng vũ lực để cưỡng đoạt. Cái cách hành xử ngược ngạo này trái hẳn những gì mà tiền nhân Trung Hoa đã dạy trong Tứ Thư, Ngũ Kinh!

Chúng tôi đã được sự bảo vệ rất tốt của luật pháp và nhà nước Việt Nam, nên chúng tôi cũng không cần nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa phải lên tiếng bảo vệ chúng tôi. Chúng tôi chỉ cần chính quyền Trung Quốc rút giàn khoan 981 và lực lượng ra khỏi vùng biển Việt Nam ngay lập tức!

 

 

 

Dân tộc Hoa (Trung văn giản thể: 华; Trung văn phồn thể: 華) là những người gốc Trung Quốc định cư ở Việt Nam và đa số có quốc tịch Việt Nam. Các tên gọi khác: Khách Trú, người Hán, người Tàu, Ba Tàu[a]. Nếu xếp theo phân loại của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thì họ là dân tộc Hán. Đây là một trong các dân tộc tại Việt Nam có dân số giảm trong 10 năm (1999-2009) theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam.

 
Hội quán Triều Châu, Hội An.Người Trung Quốc đã qua lại làm ăn, sinh sống và chung đụng với người Việt đã từ lâu đời, tùy theo từng thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh tiếp xúc hoặc nguyên nhân di cư mà người Trung Quốc đã tự xưng về tên dân tộc của mình khác nhau, cũng như người Việt đã gọi họ theo các tên khác nhau. Thường người Trung Quốc tự gọi mình là dân các triều đại mà họ cho rằng văn minh, tự hào hoặc cho rằng nó phổ biến và được người bản xứ biết rõ, hoặc đã biết từ lâu như "người Đường" (Thoòng dành), "người Thanh", "người Bắc" (quốc). Người Hoa còn tự gọi họ theo quê quán: "người Quảng" (Quảng Đông), "người Tiều" (Tiều Châu/Triều Châu), "người Hẹ", "người Khách", "người Hải Nam"... Người Việt còn có lệ gọi người Hoa là "người Ngô". Lệ này bắt nguồn từ lịch sử thời Xuân Thu có "nước Ngô" và "nước Việt". Điển hình là bản Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi vào thế kỷ 15 sau khi Bình Định Vương Lê Lợi đuổi được giặc nhà Minh.

 

Từ phổ thông người Việt hay dùng là "người Tàu"; từ "chệt" hàm ý miệt thị; từ "các chú" nay không thông dụng nữa nhưng là đọc trại từ chữ "khách trú" vì người Hoa không được nhìn nhận là cư dân mà chỉ là dân ở trú mà thôi. Bản báo sau đây đưa ra nguồn gốc khác cho "các chú" nhưng không có cơ sở.

Theo Gia Định báo, đăng trong số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16 tháng 2 năm 1870: phần tạp vụ (một bài thuộc vào loại phiếm luận ngày nay)

Người bên Tàu thường gọi là người Trung-Quốc nghĩa là nước ở giữa vì thuở xưa bên ấy có 18 nước chư hầu; chỗ Kinh thành Hoàng-đế ở lại vô ở giữa các nước chư hầu nên gọi là Trung Quốc. Người bên Tàu thường kêu mình là Đường-nhơn hay Thanh-nhơn, nghĩa là người nhà Đường nhà Thanh. An-nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu v.v... Từ Ba Tàu có cách giải thích như sau: Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm an và sinh sống: vùng Cù Lao Phố (Đồng Nai), Sài Gòn Chợ Lớn,Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang An Nam,nhưng dần từ Ba Tàu lại mang nghĩa miệt thị. Còn có cách giải thích khác: Người Việt thường xưng hô theo thứ tự như anh Hai (con cả) anh Ba (con thứ)... Vì lý do đó mà người Tàu thường lễ phép gọi thân mật người Việt đang làm ở các cơ quan Pháp thời đó là anh Hai (cậu Hai) và xem mình là em (anh Ba). Từ đó người Việt mới gọi anh Ba (Tàu) là vậy.

Người Bắc thì kêu là Ngô, nghĩa là nước Ngô, có kẻ lại cắt nghĩa rằng vì bởi nó hay xưng mình là Ngô nghĩa là tôi. Từ này không còn còn phổ biến nữa.

Kêu Các-chú là bởi người Minh-hương mà ra; mẹ An-nam cha Khách nên nhìn người Tàu là anh em, bằng không thì cũng là người đồng châu với cha mình, nên mới kêu là Các-chú nghĩa là anh em với cha mình. Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm vậy.

Còn kêu là Chệc là tại tiếng Triều Châu kêu tâng Chệc nghĩa là chú. Người bên Tàu hay giữ phép, cũng như An-nam ta, thấy người ta tuổi đáng cậu, cô, chú, bác thì kêu tâng là chú là cậu vân vân. Người An-nam ta nghe vậy vịn theo mà kêu các ảnh là Chệc.. Nay không còn phổ biến nữa. [5]

Nếu xếp theo phân loại của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thì họ là dân tộc Hán

 

Lịch sử[

Một người Hoa ở Hà Nội năm 1885Người Trung Quốc bắt đầu di cư vào Việt Nam kể từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Trong 2 thiên niên kỷ kể từ đó, nhiều làn sóng người Trung Quốc, gồm lính, quan, dân, tội phạm... đã đến định cư tại Việt Nam. Nhiều thế hệ người Trung Quốc định cư tại Việt Nam đã có quan hệ hợp hôn với người Việt bản xứ và con cháu họ trở thành người Việt Nam.

Vào thế kỷ 17 tại Trung Quốc, sự sụp đổ của nhà Minh dẫn đến làn sóng người Hoa trung thành với nhà Minh và không thần phục nhà Thanh bỏ quê hương di dân sang vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.

Năm 1671, Mạc Cửu và gia đình đến vùng đất Mang Khảm (nay là Hà Tiên), khi đó vẫn thuộc quyền kiểm soát của vương quốc Khmer. Mạc Cửu đã mở rộng quyền kiểm soát ra các vùng lân cận, và quy thuận chúa Nguyễn.

Năm Kỷ Mùi 1679, Tổng binh thành Long Môn tỉnh Quảng Tây tên là Dương Ngạn Địch, Phó tướng Huỳnh Tấn (Hoàng Tiến) và Tổng binh châu Cao, châu Lôi và châu Liêm tỉnh Quảng Đông là Trần Thượng Xuyên, Phó tướng Trần An Bình cử binh chống đánh nhà Thanh nhằm khôi phục nhà Minh (bị nhà Thanh tiêu diệt hoàn toàn vào năm 1766) không địch nổi, hai Tổng binh đem tướng sỹ xuống thuyền chạy sang hải phận nước Nam, ban đầu cầu cứu Chúa Trịnh, sau đó dẫn tuỳ tùng quân lính theo đường thuỷ đến Đà Nẵng đầu hàng Chúa Nguyễn và xin Chúa Nguyễn nhận làm dân Việt (đúng hơn là xin giúp Chúa Nguyễn khai hoang vùng đất phía Nam, vì thời đó dân số Việt Nam còn ít. Hơn nửa dãi đất phía nam cũng còn thuộc quản lý của người khơme. Chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần cho họ vào miền Nam khai khẩn đất hoang Dương Ngạn Địch và Huỳnh Tấn theo dòng sông Cửu Long cắm trại ở Định Tường (Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang), Trần Thượng Xuyên vào cửa Cần Giờ ngược dòng sông Đồng Nai cắm trại ở đất Ban Lân Cù Lao Phố (Biên Hòa), và Đông Phố (Gia Định) chuyên lo việc thương mãi và canh nông. Những cộng đồng người Hoa này được gọi là người Minh Hương. Chữ "hương" ban đầu dùng chữ 香 có nghĩa là "thơm" khi kết hợp với chữ Minh 明 có nghĩa là hương hỏa nhà Minh (明香), đến năm 1827 thì vua Minh Mạng cho đổi chữ Hương 明 sang chữ Hương 鄉 nghĩa là "làng" để tránh đụng chạm với nhà Thanh,[6] từ đó Minh Hương (明鄉) có thể hiểu là "làng của người Minh" và cũng có thể hiểu là "làng sáng sủa".

 

Năm 1698, ở vùng Phiên Trấn - Bến Nghé - Sài Gòn đã hình thành nên làng Minh Hương ở Gia Thạnh, Chợ Lớn cũ. Từng có câu ca dao nói về phong hóa làng Minh Hương:

 

Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng
Đố ai lịch sự bằng làng Minh Hương.
 
Đình Minh Hương Gia Thạnh, quận 5, TP. HCMĐến thế kỷ 19, người Pháp tạo điều kiện cho người Hoa vào định cư ở Sài Gòn, Chợ Lớn. Thời kì này người Hoa sang Việt Nam theo các đợt tuyển mộ phu đồn điền của người Pháp. Năm 1949, một số người Hoa chạy sang Việt Nam khi Trung Quốc Quốc dân Đảng thua ở lục địa.

Tuy thu lợi từ những người Hoa định cư tại Việt Nam, nhưng các vị vua chúa Việt Nam chưa bao giờ cảm thấy yên tâm về lòng trung thành của họ. Tại thời điểm xấu nhất của quan hệ giữa hai bên, 10 ngàn người Hoa vùng cù lao Phố đã bị quân Tây Sơn tàn sát vào thế kỷ 18. Những khi khác, người Hoa làm ăn rất có khiếu và hưởng tự do và sự giàu có. Nhưng họ luôn bị phân biệt bởi người Việt trong đối xử.[7]

 

Thế kỉ 20

Từ trước năm 1949, người Hoa ở Việt Nam vẫn giữ quốc tịch Trung Quốc, chính phủ Trung Hoa Dân quốc tuyên bố rằng tất cả người Hoa ở nước ngoài đều là công dân Trung Quốc, rằng Trung Quốc có quyền ngoài-lãnh thổ: quyền can thiệp vào các quốc gia khác để bảo vệ công dân của mình. Đến thập kỉ 1950, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức thu hồi lời tuyên bố trên.

Ở miền Bắc, năm 1955, hai chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thống nhất rằng người Hoa ở Việt Nam do chính quyền Việt Nam quản lý và được hưởng đầy đủ quyền lợi của công dân Việt Nam, quá trình bỏ dần quốc tịch Trung Quốc để thành công dân chính thức của Việt Nam sẽ kéo dài nhiều năm. Trong thời gian Chiến tranh Việt Nam, người Hoa ở miền Bắc được hưởng tất cả các quyền của công dân Việt Nam, kể cả quyền bầu cử, nhưng lại không phải chịu nghĩa vụ quân sự. Thập kỉ 1960, do ảnh hưởng của Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc khi một số người Hoa bắt đầu các hoạt động "Hồng Vệ binh" của mình và tố cáo Đảng Cộng sản Việt Nam theo chủ nghĩa xét lại, áp lực của chính quyền tăng lên đối với việc chuyển đổi quốc tịch của người Hoa sang quốc tịch Việt Nam. Năm 1970, để giảm khả năng thao túng tiềm tàng của Trung Quốc đối với người Hoa, chính phủ bắt đầu giảm các bài học lịch sử và ngôn ngữ tại các trường học của người Hoa. Từ vài năm trước đó, các biển hiệu bằng tiếng Trung bắt đầu biến mất tại các thành phố Hà Nội và Hải Phòng.

 

Ở miền Nam, từ năm 1956, chính phủ Ngô Đình Diệm đã buộc tất cả người Hoa phải nhập quốc tịch Việt Nam hoặc bị trục xuất. Tháng 5 năm 1957, Bắc Kinh phản đối rằng đây là "sự xâm phạm tàn nhẫn các quyền hợp pháp của người Hoa".[8] Trong khi ở miền Bắc, Hoa kiều không đóng vai trò đặc biệt trong nền kinh tế nhà nước quản lý tập trung, thì ở miền Nam, Hoa kiều kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối, và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện...và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường.[9]

 

Sau năm 1975[

Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, khoảng 4% dân số Việt Nam là người Việt gốc Hoa, trong đó có hơn 1,5 triệu Hoa kiều sinh sống chủ yếu ở khu vực Chợ Lớn, Sài Gòn, và chỉ có khoảng 300.000 người Việt gốc Hoa sống ở miền Bắc[10]. Vấn đề về người Hoa càng thêm phần trầm trọng khi họ treo quốc kỳ Trung Quốc và ảnh Mao Trạch Đông trong vùng Chợ Lớn [11], làm chính phủ Việt Nam nghi ngờ lòng trung thành của họ (Tự thân người Hoa không tham gia vào chính trị, nhưng chỉ vì bị bắt buộc mà họ (đa số người Triều Châu) phải làm cách mạng và lo hậu cần cho cộng sản. Tháng 1 năm 1976, chính phủ lệnh cho người Hoa ở miền Nam đăng ký quốc tịch. Đa số đăng ký là quốc tịch Trung Quốc mặc dù họ đã chuyển sang quốc tịch Việt Nam từ những năm 1956-1957. Tháng 2 năm đó, người Hoa được lệnh đăng kí lại theo quốc tịch đã nhận thời Việt Nam Cộng hòa. Những người vẫn tiếp tục đăng kí là quốc tịch Trung Quốc sau đó bị mất việc và giảm tiêu chuẩn lương thực. Cuối năm đó, tất cả các tờ báo tiếng Trung bị đóng cửa, tiếp theo là các trường học của người Hoa. Với những hành động này, chính phủ Việt Nam đã lờ đi thỏa thuận rằng sau khi thống nhất sẽ tham khảo ý kiến của Trung Quốc về vấn đề người Hoa ở Việt Nam. Chính sách của Việt Nam năm 1976 (đánh tư sản những người Hoa và tịch thu tài sản mà họ đã có được bằng mồ hội nước mắt cả đời) đã bị ảnh hưởng bởi thay đổi nhanh chóng của mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, với nỗi e ngại rằng Trung Quốc có thể sử dụng Hoa kiều để ép Việt Nam theo các chính sách của mình. Vấn đề Hoa kiều được chính phủ Việt Nam xem là một thử thách đối với chủ quyền quốc gia hơn là một vấn đề nội bộ đơn giản.[11]

 

Năm 1977, lạm phát 80% cùng với vấn đề tiếp diễn của sự thiếu thốn và nạn đầu cơ lương thực, Chính phủ Việt Nam sợ rằng Hoa kiều có thể bị lôi kéo theo các mục tiêu của Trung Quốc.[11] Kèm theo đó là sự ngừng trệ nghiêm trọng của các vùng kinh tế phía Tây Nam do các xung đột tại biên giới với Campuchia. Người Hoa ở Chợ Lớn tổ chức biểu tình đòi giữ quốc tịch Trung Quốc. Những điều này làm cho chính phủ Việt Nam lo lắng về nguy cơ đất nước bị rối loạn cả từ bên trong lẫn từ bên ngoài và coi người Hoa kiều là một tổ chức bí mật hoạt động ở Việt Nam và sẵn sàng tiếp tay với Trung Quốc để phá hoại. Mặc dù không có bằng chứng cụ thể về các hoạt động phá hoại, nhưng sự giàu có của cộng đồng Hoa kiều đã trở thành mục tiêu hấp dẫn đối với những người chiến thắng trong cuộc chiến tranh Việt Nam[10]. Trong các tháng 3, 4 năm 1978, khoảng 30.000 doanh nghiệp lớn nhỏ của Hoa kiều bị quốc hữu hóa. Vị thế kinh tế của đa số tư sản Hoa kiều bị hủy bỏ, nhà nước thắt chặt kiểm soát nền kinh tế. Quan hệ ngày càng xấu đi giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng làm tăng thêm số người Hoa rời Việt Nam. Phía Việt Nam đã xua đuổi người Hoa sống ở phía Bắc về Trung Quốc. Đầu tiên là những vụ di cư nhỏ lẻ, sau đó là trào lưu ồ ạt người di tản đi đến những bờ biển của các nước láng giềng. Kết quả là số người di tản từ Việt Nam tăng gấp đôi trong 6 tháng đầu năm 1979, trong những người di tản trong những năm 1978-1979, Hoa kiều chiếm số lượng rất lớn. Cộng thêm vào đó là khoảng 250.000 Hoa kiều sang Trung Quốc qua biên giới phía Bắc từ tháng 4 năm 1978 đến mùa hè năm 1979.[12]. Trung Quốc đã gọi đây là vấn đề "nạn kiều". Đến năm 1982, do kinh tế và chính sách bất công của chính quyền Việt Nam mà người Hoa ở miền Nam đã phải vượt biên qua đường biển, đường bộ để trốn qua nước thứ ba. 2/3 trong số nửa triệu người tị nạn sống sót qua những cơn bão và những vụ tấn công của cướp biển là người gốc Hoa[10].

 

Dân số, nơi cư trú và ngôn ngữ

Theo thống kê của cuộc điều tra dân số năm 1999, tổng số người Hoa ở Việt Nam là 862.371 (1,13% dân số ở Việt Nam), được xếp hạng thứ tư, trong đó có khoảng 50% người Hoa sinh sống tại vùng Chợ Lớn của Thành phố Hồ Chí Minh. Họ tập trung đông nhất ở các khu thương mại trong Quận 5, 11 (khoảng 45% dân số mỗi quận), 6, 8, 10 với 5 nhóm ngôn ngữ chính: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và tiếng Khách Gia (Hakka, đôi khi còn gọi là tiếng Hẹ). Số người Hoa còn lại sinh sống ở các tỉnh toàn quốc, mà hầu hết là ở nhiều tỉnh miền Tây Việt Nam. Nhiều ngôi đền và nhà cửa của người Hoa ở khu Chợ Lớn và cảng thương mại Hội An từ thế kỷ 17 đã được khôi phục và xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia và quốc tế, giờ đây mỗi năm đón hàng triệu lượt khách du lịch. Kể từ năm 2007, chính quyền Tp. Hồ Chí Minh đã cho tổ chức Lễ hội Văn hóa Trung Quốc định kỳ hàng năm.

Tuy nhiên, đây là những ngoại lệ, hầu hết đời sống văn hóa Trung Quốc đã ăn sâu. Đa số các cửa tiệm kinh doanh vàng ở miền Nam là người gốc Hoa đã bị đồng hóa. Con cái của những người này ít biết tiếng Quan thoại.

Trong những khía cạnh quan trọng, người Việt gốc Hoa đã trở nên không thể phân biệt được khi sinh sống trong cộng đồng, và họ đã thành công đến mức, mặc dù các đám đông có thể phản đối những hành động của Trung Quốc ở Biển Đông, nhưng không ai nghĩ đến việc trả thù nhằm vào các gia đình người gốc Hoa sống cạnh nhà mình[10].

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Hoa ở Việt Nam có dân số 823.071 người, có mặt tại tất cả 63 tỉnh, thành phố. Người Hoa cư trú tập trung tại: thành phố Hồ Chí Minh (414.045 người, chiếm 50,3% tổng số người Hoa tại Việt Nam), Đồng Nai (95.162 người), Sóc Trăng (64.910 người), Kiên Giang (29.850 người), Bạc Liêu (20.082 người), Bình Dương (18.783 người), Bắc Giang (18.539 người)

 

 

 

From : Mân Việt , Thanh niên , Dân tri ,Wikipedia ,Dân lam bao ,..........

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Publicité
Tag(s) : #Dư Luận Chính Trị VN
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :