Trung Quốc ngụy biện chủ quyền về cái gọi là “Tây Sa“
Căn cứ luật pháp quốc tế về quyền thụ đắc lãnh thổ, lập luận "chủ quyền lịch sử" của Trung Quốc liệu có đứng vững được không?
Bất chấp dư luận quốc tế, bất chấp những nỗ lực ngoại giao của Việt Nam, Trung Quốc vẫn không rút giàn khoan Hải Dương 981 hạ đặt trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Hơn 1 tháng nay, Trung Quốc ngang ngược sử dụng vũ lực tấn công các tàu thực thi pháp luật của Việt Nam đang làm nhiệm vụ trên biển và tàu cá của ngư dân Việt Nam.
Ngày 8/6, Bộ Ngoại giao Trung Quốc lại công bố tài liệu biện minh cho yêu sách “chủ quyền” của nước này đối với quần đảo Hoàng Sa, biện hộ cho hoạt động phi pháp của giàn khoan Hải Dương 981 trong thềm lục địa của Việt Nam. Mặc dù lớn tiếng khẳng định chủ quyền với cái gọi là Tây Sa (mà thực chất là quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) nhưng Trung Quốc không đưa ra được chứng cứ thuyết phục nào. Giới lãnh đạo Trung Quốc cũng như các học giả nước này luôn né tránh hoặc giải thích quanh co khi được yêu cầu làm rõ về chủ quyền mà Trung Quốc đã tuyên bố. Trong khi đó, Việt Nam có đầy đủ những bằng chứng pháp lý cũng như lịch sử để chứng minh chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.
Ba Hoa xuan oanh
Để làm rõ những chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, Nhóm phóng viên Đài TNVN thường trú khu vực Miền Trung thực hiện loạt bài “Hoàng Sa muôn đời của Việt Nam”.
Bài 1: Trung Quốc ngụy biện về chủ quyền " Tây Sa"
Trung Quốc yêu sách chủ quyền đối với quần đảo “Tây Sa”, tức quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, theo nguyên tắc “chủ quyền lịch sử”. Lập luận của nước này là: Người Trung Quốc đã phát hiện ra các đảo này sớm nhất và đã đặt tên cho chúng; Ngư dân Trung Quốc đã khai thác các đảo này từ hàng nghìn năm nay. Điều đó chứng minh chủ quyền của Trung Quốc; Trung Quốc đã thực hiện các hành động cai quản ở quần đảo này từ lâu đời…
Căn cứ nguyên tắc của luật pháp quốc tế về quyền thụ đắc lãnh thổ cho đến nửa cuối thế kỷ XIX, lập luận này của Trung Quốc liệu có đứng vững được không?
Ảnh chụp từ bộ Atlas thế giới Bruxelles – 1827 khẳng định cực Nam của Trung Quốc giới hạn ở đảo Hải Nam.
Từ cuối thế kỷ XV, luật quốc tế công nhận các hành vi tượng trưng của việc sáp nhập lãnh thổ do quốc gia phát hiện ra thực hiện như là danh nghĩa nguyên thủy của việc chiếm hữu. Nhưng phát hiện với ý định sở hữu là chưa đủ để tạo ra quyền sở hữu đối với lãnh thổ vô chủ cho quốc gia phát hiện. Yếu tố tinh thần này phải được củng cố bằng yếu tố vật chất qua việc chiếm hữu thực sự, hiệu quả và quản lý hành chính trong một thời gian hợp lý, mà độ dài phụ thuộc vào hai yêu cầu: một là, sự khẳng định quyền lực trong vùng đó đối với không chỉ các chủ thể trong nước mà cả với các chủ thể ngoài nước; hai là, không có tranh chấp từ phía quốc gia khác. Tóm lại, quốc gia đó cần phải chứng minh được rằng, việc chiếm hữu là rõ ràng, hòa bình, liên tục và không có tranh cãi.
Đáng chú ý, riêng quyền phát hiện không được coi là đủ để đảm bảo quyền chiếm hữu xác định. Nó phải được củng cố bằng sự chiếm cứ thực sự do Nhà nước thực hiện. Việc một cá nhân hoặc nhiều cá nhân là công dân của một nước thực hiện hành vi chiếm hữu với tư cách cá nhân sẽ không tạo ra một danh nghĩa chủ quyền cho Nhà nước đó.
Về danh nghĩa lịch sử hay quyền phát hiện, Sách trắng của Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 30 tháng 1 năm 1980 với nhan đề Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên các đảo Tây Sa và Nam Sa khẳng định: “Từ thời Hán Vũ đế trước Công lịch hai thế kỷ, nhân dân Trung Quốc đã bắt đầu đi lại trên biển Nam. Trải qua thực tiễn hàng hải lâu dài, nhân dân Trung Quốc đã lần lượt phát hiện các quần đảo Tây Sa và Nam Sa ”. Để chứng minh danh nghĩa lịch sử của họ, phía Trung Quốc đã dựa trên những cuốn sách chính như: Nam châu dị vật chí; Vũ kinh tổng yếu; Mộng Lương Lục; Đảo di chí lược; Đông Tây dương khảo; Độc sử phương dư kỷ yếu,…
Tuy nhiên, các sách này hoàn toàn không phải là các chính sử do các cơ quan của Nhà nước Trung Quốc ấn hành. Không phải là những phát hiện với ý định sở hữu, nguồn tài liệu này đều là các chuyên khảo, tài liệu địa dư hoặc các sách hàng hải do các nhà địa lý hoặc nhà hàng hải chép về các chuyến đi, mô tả về các lãnh thổ, thể hiện những nhận biết chung về địa lý liên quan không chỉ tới lãnh thổ Trung Quốc mà còn là lãnh thổ của các nước khác. Những tài liệu này không đưa ra cơ sở khoa học vững chắc để kết luận rằng những địa điểm được đề cập trong các tác phẩm đó là Hoàng Sa mà Trung Quốc đã sở hữu hơn 2000 năm.
Theo ông Phạm Hoàng Quân, nhà nghiên cứu độc lập chuyên về cổ sử và cổ địa dư Trung Quốc, những tài liệu do phía Trung Quốc đưa ra không có hiệu lực pháp lý: “Thời xưa, Trung Quốc có những nhà du hành, hàng hải, những thương thuyền,… Họ đi giao thiệp về chuyện buôn bán ở phía Nam. Trong quá trình đi, họ thấy những vùng đảo. Họ ghi chép lại. Đó là dạng sách du ký, không phải tư liệu chính thống của chính quyền Trung Quốc. Để xác lập chủ quyền, những điều được biên chép phải nằm trong chính sử, sách địa chí, Trung Quốc gọi là phương chí, những phương tiện được Nhà nước thừa nhận.”
Nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân: Những tài liệu do phía Trung Quốc đưa ra không có hiệu lực pháp lý
Mặt khác, sự tiếp xúc riêng rẽ của những cư dân Trung Quốc đối với Hoàng Sa liệu có đủ để thiết lập chủ quyền của nước này tại đó không?
So sánh với các tiêu chuẩn quốc tế về thụ đắc lãnh thổ, các ghi chép mà Trung Quốc viện dẫn không đủ chứng minh rằng quyền phát hiện đã được xác lập. Một đảo hoặc một quần đảo có thể là đối tượng nhận biết từ lâu đời của các nhà hàng hải, các ngư dân, các nhà địa lý,… nhưng chúng vẫn chỉ được coi là lãnh thổ vô chủ một khi quốc gia của họ chưa tiến hành một hành động Nhà nước nào tại đó. Các hoạt động tư nhân của các ngư dân Trung Quốc không thể mang lại hiệu lực pháp lý của “quyền phát hiện” và nó không thể được đánh đồng với quyền chiếm hữu.
Ông Hồ Bạch Thảo, nhà nghiên cứu về Biển Đông người Mỹ, gốc Việt, một chuyên gia cổ sử chỉ rõ, việc “chiếm cứ” này thiếu hẳn ý định của Nhà nước sáp nhập các đảo đó vào lãnh thổ quốc gia: “Tôi nghiên cứu tất cả các sử liệu thời Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh cho đến nhà Thanh thì chưa bao giờ thấy các nhà vua Trung Quốc xác nhận chỗ đó là lãnh thổ Trung Quốc. Chuyện ngư dân Trung Quốc khai thác cá, đánh bắt hải sản có thể xảy ra bất cứ thời nào. Chuyện đó không thể là căn cứ để khẳng định chủ quyền được. Chủ quyền phải do quốc gia thiết lập.”
Mặt khác, các thủy thủ và ngư dân Trung Quốc không phải là những người duy nhất qua lại các quần đảo. Biển Đông từ lâu đời đã có thuyền bè của người Ấn Độ, Ả Rập, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp và nhiều nước khác lai vãng tới.
Có thể các hoạt động của ngư dân sẽ kéo theo sự chú ý và ý định của Nhà nước trên lãnh thổ vô chủ. Tuy nhiên, yếu tố ý chí này không đủ khi còn thiếu yếu tố vật chất của các hoạt động Nhà nước trên thực địa.
Để chứng minh sự quản lý của Trung Quốc trên các đảo này từ hàng nghìn năm, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đưa ra ba sự kiện:
Sự kiện thứ nhất: Từ thời nhà Tống (960-1127), hải quân Trung Quốc đã đi tuần tra quân sự đến vùng biển quần đảo Hoàng Sa. Sự khẳng định này dựa trên cơ sở đoạn văn trích từ Vũ Kinh tổng yếu.
Về vấn đề này, Sách trắng năm 1981 của Việt Nam chỉ rõ, đoạn trích từ Vũ Kinh tổng yếu là sự kết hợp từ ba đoạn riêng rẽ khác nhau trong một đoạn sau lời tựa. Theo đó, trong đoạn trích này, có đoạn nêu Bắc Tống “lệnh cho quân nhà vua đi trấn giữ đặt dinh lũy thủy quân tuần biển ở Quảng Nam”, “đóng tàu chiến đao ngư”, có đoạn mô tả vị trí địa lý của đồn binh, đoạn khác tả lộ trình đi từ cảng Quảng Nam tới tận Ấn Độ Dương. Đó là hành trình khảo sát địa lý hơn là tuần tra lãnh thổ của Trung Quốc. Đó không thể là bằng chứng đầy đủ để nói rằng, ngay từ thời nhà Tống, quần đảo Hoàng Sa đã thuộc quyền quản lý của Trung Quốc.
Sự kiện thứ hai, đó là vào thế kỷ thứ XIII, Hoàng đế nhà Nguyên đã ra lệnh cho một nhà thiên văn học nổi tiếng là Quách Tử Kính đo đạc thiên văn, mà một trong những điểm quan trắc trong đó được thực hiện từ Hoàng Sa.
Thực ra, theo Nguyên Sử, bộ sử chính thức của nhà Nguyên, việc đo đạc thiên văn được ghi chép như sau: “Việc đo bóng mặt trời bốn biển ở hai mươi bảy nơi. Phía Đông đến Cao Ly, phía Tây đến Điền Trì, phía Nam qua Chu Nhai, phía Bắc đến Thiết Lặc.”
************
**************************
*************
***********************
Nguyên Sử chép rõ tên 27 nơi đo đạc thiên văn, trong đó có những địa danh hoàn toàn không thuộc cương vực Trung Quốc như Cao Ly (Triều Tiên), Thiết Lặc (Siberia). Các quan trắc thiên văn này có phần tiến hành trên lãnh thổ Trung Quốc, có phần nằm ngoài cương vực Trung Quốc. Do đó, nó không thể tạo ra bằng chứng xác đáng cho chủ quyền Trung Quốc. Hơn nữa, một hành động nghiên cứu khoa học chưa đủ để tạo nên một danh nghĩa chủ quyền.
Sự kiện thứ ba, người Trung Quốc đưa ra tài liệu về một cuộc tuần biển được tổ chức trong khoảng các năm 1710-1712 dưới triều nhà Thanh. Ngô Thăng, Phó tướng thủy sư Quảng Đông chỉ huy chuyến đi này.
Nghiên cứu nghiêm túc cho thấy, những địa danh nêu trong đoạn trích này đều nằm xung quanh đảo Hải Nam. Quỳnh Nhai ở phía Bắc đảo Hải Nam. Đồng Cổ ở mỏm Đông Bắc đảo Hải Nam. Thất Châu Dương là vùng biển có bảy hòn đảo gọi là Thất Châu, nằm ở phía Đông đảo Hải Nam. Tứ Canh Sa là bãi cát ở phía Tây đảo Hải Nam. Rõ ràng, dõi theo hành trình này trên bản đồ, dễ dàng nhận thấy đó là một con đường đi vòng quanh đảo Hải Nam.
TS. Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Ban Biên giới của Chính phủ, nay là Ủy ban Biên giới Quốc gia thuộc Bộ Ngoại giao cho rằng, các văn kiện mà phía Trung Quốc trích dẫn không thể hiện được đã có việc kiểm soát quần đảo. Nó thiếu các yếu tố mà luật quốc tế thời đó đòi hỏi.
“Trung Quốc dựa vào cái gọi là chủ quyền lịch sử, danh nghĩa lịch sử. Căn cứ vào các sự kiện, các dữ liệu trong lịch sử để chứng minh chủ quyền là hết sức mơ hồ. Lịch sử có thể giúp tìm ra các bằng chứng có giá trị pháp lý để chứng minh chủ quyền, chứ không có nghĩa dùng các sự kiện được ghi trong lịch sử để chứng minh chủ quyền. Cho nên người ta căn cứ vào nguyên tắc thực sự: Đó là việc chiếm hữu với tư cách Nhà nước và thực thi chủ quyền đó rõ ràng, hoà bình, liên tục và có hiệu quả. Trung Quốc không có điều đấy”, TS Trần Công Trục phân tích.
Thủ tướng Đức Angela Merkel đã tặng cho Chủ tịch Tập Cận Bình tấm bản đồ cổ Trung Quốc không có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của VN, nhân
chuyến thăm châu Âu của lãnh đạo Trung Quốc trong tuần vừa qua.
Tấm bản đồ cổ
Trong hai ngày 1 và 2-4 một số tờ báo uy tín trên thế giới như Time, Foreign Policy, The Sydney Morning Herald… đã đăng bài phản ánh sự kiện này. Đây là tấm bản đồ vẽ lãnh thổ Trung Quốc thời Càn Long (1736 - 1795) do nhà bản đồ học người Pháp là Jean-Baptiste Bourguignon d'Anville vẽ, được 1 nhà xuất bản ở Đức xuất bản năm 1735.
Trên tấm bản đồ này lãnh thổ Trung Quốc không bao gồm các vùng Tibet (Tây Tạng), Xinjiang (Tân Cương), Manchuria (Mãn Châu Lý). Các đảo Hải Nam và Đài Loan trên bản đồ này thì được tô màu khác với lãnh thổ Trung Hoa.
Tất nhiên, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam cũng không hề có trong bản đồ này.
Giáo sư Carlyle A. Thayer: Trung Quốc đưa ra đòi hỏi chủ quyền dựa trên quyền lịch sử không được xác định rõ
Ông Carlyle A. Thayer, Giáo sư Học viên Quốc phòng Australia bình luận: “Trung Quốc đưa ra đòi hỏi chủ quyền dựa trên quyền lịch sử không được xác định rõ. Đúng là các ngư dân Trung Quốc đã đến khai thác, Trung Quốc đã vẽ các quần đảo này lên bản đồ. Tuy nhiên, theo luật pháp quốc tế, việc phát hiện và đặt tên không có nghĩa là được sở hữu. Nếu theo cách suy luận của Trung Quốc thì liệu Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha có thể ra yêu sách với toàn bộ Đại Tây Dương hay không vì họ đã phát hiện ra nó từ thế kỷ XVI? Câu trả lời tất nhiên là không! Họ chỉ đi thuyền qua và phát hiện ra nó, chứ không sở hữu nó. Điều Trung Quốc nói rất ngang ngược.”
Các viện dẫn của Trung Quốc còn mâu thuẫn với chính các nguồn tư liệu của nước này. Có nhiều tài liệu địa lý cổ mô tả và phân định rõ lãnh thổ của Thiên triều kết thúc ở điểm cực Nam của đảo Hải Nam, như: Quỳnh Châu phủ chí (1731), Hoàng Triều di tông tâm lĩnh (1894), Đại Thanh di đồ (1905),…; hay các sách, bản đồ cổ khác của người Trung Quốc. Cụ thể, điểm mút phía nam của lãnh thổ Trung Quốc nằm ở Nhai Châu, thuộc phủ Quỳnh Châu, tỉnh Quảng Đông, tại vĩ độ 18013’ Nam. Sách Trung Quốc Địa lý Giáo khoa thư, Thượng Vụ Ấn Thư quán, Thượng Hải năm 1906 xuất bản cũng khẳng định: “Phía Nam bắt đầu là vĩ độ 18013’ Nam lấy bờ biển Châu Nhai đảo Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam) làm điểm mút”.
Tháng 5 năm 2014, Việt Nam đã tiếp nhận và công bố bộ Atlas thế giới Bruxelles – 1827. Bộ Atlas này gồm 6 tập do nhà Địa lý học Philippe Vandemaelen, người sáng lập Viện Địa lý Hoàng gia Bỉ, xuất bản năm 1827. Theo đó, Việt Nam được giới thiệu trong các tấm bản đồ số 97, 105, 106, 110. Tấm bản đồ số 106 vẽ đường bờ biển miền Trung từ vĩ tuyến 12 tới vĩ tuyến 16 (thuộc khu vực Trung kỳ, Đàng Trong của Việt Nam lúc bấy giờ). Trong tấm bản đồ này, quần đảo Hoàng Sa được vẽ rất cụ thể, chi tiết và chính xác. Nó được đặt trong mối tương quan với các đảo và khu vực ven bờ như Lý Sơn, Cù Lao Chàm, Cù Lao Ré, Quy Nhơn, Nha Trang. Đáng chú ý, trong phần chú thích trên tấm bản đồ 106, Philippe Vandermaelen ghi rõ “Đế chế An Nam”, thể hiện rất rõ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.
Nhà sử học Dương Trung Quốc, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cho rằng, bản đồ cổ chính là những yếu tố khách quan có từ xa xưa đã phản ánh đúng thực tế lịch sử: “Bản đồ là hết sức khách quan của những người phương Tây hoặc từ những tác giả từ rất xa xưa khi mà chưa nảy sinh những vấn đề tranh chấp của ngày hôm nay. Tất cả những yếu tố khách quan đó càng chứng minh được, chủ quyền của chúng ta đã được xác lập từ xưa, cộng với những nguồn sử liệu trong nước, đặc biệt là những sử liệu thể hiện việc thực thi quyền quản lý liên tục, hòa bình, kể cả trách nhiệm đối với hàng hải thế giới. Những yếu tố xa xưa ấy lại là những giá trị rất thời sự cho ngày hôm nay.”
GS. TS Đỗ Tiến Sâm, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Viện Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng, lập luận của Trung Quốc trên cơ sở quyền phát hiện và sự quản lý là không đúng sự thật: “Những yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa với những chứng cứ lịch sử mà họ đưa ra hoàn toàn không đúng đắn. Những tài liệu, sử sách mà Trung Quốc viết đều không đề cập đến quần đảo Hoàng Sa. Có thể nói, chứng cứ lịch sử mà Trung Quốc đưa ra là không đúng sự thật.”
Rõ ràng, lập luận rằng, người Trung Quốc đã phát hiện, khai phá, khai thác và quản lý quần đảo Hoàng Sa từ cách đây 2000 năm là không thể đứng vững trước ánh sáng của Luật pháp quốc tế và thực tiễn hiện nay.
Những lời khẳng định rườm rà trong nhiều sách hay bài viết của Trung Quốc khẳng định một danh nghĩa lịch sử lâu đời của nước này đối với quần đảo Hoàng Sa đều không có giá trị.
Trong khi đó, các tài liệu của nước ta cho thấy, Việt Nam không chỉ hiểu biết từ lâu đời về Hoàng Sa mà đã chuyển hóa sự hiểu biết này thành việc chiếm hữu thực sự ít nhất từ thế kỷ XVII. Nội dung này sẽ được đề cập trong bài 2: “Việt Nam - Nhà nước đầu tiên xác lập chủ quyền tại Hoàng Sa”.
“Gài bẫy” sinh viên nước ngoài
Không những bị nhồi nhét “đường lưỡi bò”, nhiều lưu học sinh cho biết kiến thức phi lý về cực nam Trung Quốc còn được đưa vào đề thi kết thúc môn. Không ít sinh viên tỏ ra vô cùng bức xúc trước sự bịa đặt trắng trợn trong giáo trình địa lý Trung Quốc.
“Câu hỏi về các cực của Trung Quốc là nội dung chính trong phần khái quát địa lý nước này. Nếu không trả lời cực nam nằm ở bãi ngầm Tăng Mẫu, chúng tôi bị mất điểm. Nếu chọn cực nam Trung Quốc nằm ở bãi ngầm Tăng Mẫu, chúng tôi gián tiếp thừa nhận đường lưỡi bò do Trung Quốc ngang ngược công bố” - một sinh viên Việt Nam đang học tập tại Quảng Tây chia sẻ.
Sinh viên này cho biết nhiều bạn bè đã từ chối trả lời câu hỏi về cực nam Trung Quốc hoặc các câu hỏi mang tính chất “gài bẫy” về biển Đông. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một số sinh viên Việt Nam khá mập mờ đối với vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa.
Do vậy, khi được hỏi về cực nam Trung Quốc, các bạn vẫn vô tư trả lời mà không biết rằng mình đang gián tiếp công nhận “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc ra sức tuyên truyền.
Theo một lưu học sinh Việt Nam tại Bắc Kinh, các giáo viên Trung Quốc thường tránh giảng giải chi tiết về “đường lưỡi bò”, đặc biệt khi trong lớp có lưu học sinh Việt Nam hoặc Philippines. Dù vậy, kiến thức về cực nam Trung Quốc vẫn là một phần không thể thiếu trong chương trình học.
Do đó, các giáo viên thường khéo léo đưa vào bài giảng bằng nhiều cách khác nhau. Về vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa, giáo viên không lý giải nhiều. Lưu học sinh do vậy cũng không thắc mắc.
Cũng theo sinh viên này, một lý do nữa khiến các lưu học sinh Việt Nam không phản biện những điều được dạy là vì bản thân các bạn không hiểu rõ về hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa.
“Trong khi ý thức về Trường Sa và Hoàng Sa trở thành tư tưởng thâm căn cố đế của đa số học sinh Trung Quốc thì hiểu biết của các sinh viên Việt Nam về Hoàng Sa - Trường Sa vẫn chưa thật sự thấu đáo. Đây là một điều hết sức nguy hiểm” - sinh viên này nhận định.
Các sinh viên nước ngoài tại Trung Quốc cũng mắc phải “cái bẫy” tương tự. Một sinh viên Trung Đông học tập tại Quảng Đông chia sẻ anh cảm thấy vô lý khi Trung Quốc tuyên bố vùng biển thuộc chủ quyền nước này không những nằm cách rất xa đảo Hải Nam mà còn lấn sát đến vùng biển nước khác: “Tôi không hiểu rõ về tranh chấp lãnh thổ giữa các nước. Nhưng khi nhìn bản đồ, tôi thấy vô lý”. Dù vậy, khi được hỏi cực nam Trung Quốc nằm ở đâu, sinh viên này vẫn trả lời là “bãi ngầm Tăng Mẫu”.
“Đó là những kiến thức chúng tôi được học, thật khó mà thay đổi, bạn chỉ tìm hiểu trừ khi bạn đặc biệt quan tâm các vấn đề về biển. Ở Trung Quốc, Internet được kiểm soát khá nghiêm ngặt, nên việc tìm hiểu các quan điểm trái chiều cũng gặp nhiều khó khăn” - một sinh viên Ấn Độ chia sẻ.
Theo báo Bưu Điện Hoa Nam Buổi Sáng, phó đại sứ Trung Quốc Wang Min đã gửi tập tài liệu “thể hiện quan điểm” về hoạt động phi pháp của giàn khoan Hải Dương 981 tới Tổng thư ký LHQ Ban Ki Moon và đề nghị ông Ban luân chuyển tập tài liệu này tới 193 nước thành viên Đại hội đồng LHQ. Trong tài liệu, Trung Quốc vu khống rằng Việt Nam vi phạm chủ quyền nước này khi cản trở hoạt động của giàn khoan 981.
Đánh lừa dư luận
Tập tài liệu khẳng định giàn khoan nằm cách quần đảo Hoàng Sa 32km, trong khi cách bờ biển Việt Nam 278km và dẫn nhiều “bằng chứng” để khẳng định quần đảo Hoàng Sa “là một phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung Quốc và không có tranh chấp tại đây”. Tuy nhiên Trung Quốc “quên” một thực tế rằng quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền hợp pháp của Việt Nam và bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép bằng vũ lực hồi năm 1974.
Bất chấp sự thật là giàn khoan này nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa chủ quyền của Việt Nam, chính quyền Bắc Kinh trơ tráo nói rằng Tổng công ty Dầu khí hải dương Trung Quốc (CNOOC) đã thực hiện các hoạt động nghiên cứu địa chất tại khu vực này trong 10 năm qua và giàn khoan 981 là “tiếp nối của những quá trình thăm dò đã thành thông lệ và hoàn toàn nằm trong vùng chủ quyền và tài phán của Trung Quốc”.
Trung Quốc còn cáo buộc Việt Nam “đưa người nhái và các thiết bị chìm vào khu vực này, thả nhiều vật cản trở (hoạt động của giàn khoan 981), bao gồm lưới bắt cá và các vật thể nổi khác”. Tập tài liệu vu khống một cách nực cười rằng hành động của Việt Nam “vi phạm chủ quyền Trung Quốc, là mối đe dọa lớn cho các nhân viên Trung Quốc làm việc trên giàn khoan, vi phạm pháp luật quốc tế, bao gồm Công ước Luật biển LHQ (UNCLOS)”.
Trên thực tế, việc gửi tập tài liệu đầy thông tin bịa đặt tới LHQ chỉ là bước tiếp theo trong chiến lược lừa đảo dư luận quốc tế mà Trung Quốc thực hiện trong thời gian qua.
Dư luận và truyền thông thế giới cũng tiếp tục chỉ trích sự hiếu chiến của Trung Quốc. Theo báo Daily Inquirer, hôm qua chính quyền Philippines tuyên bố sẽ điều tra vụ Trung Quốc cải tạo đất ở đảo Gạc Ma và có ý đồ biến một số bãi đá ngầm trên biển Đông thành đảo nhân tạo. “Rõ ràng là Trung Quốc đang cố tìm cách thay đổi hiện trạng”. Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao Philippines khẳng định các hành động đơn phương trên cho thấy Trung Quốc không hề tôn trọng Tuyên bố về quy tắc ứng xử các bên ở biển Đông (DOC) cũng như UNCLOS.
Việt Nam nên tiếp tục có công hàm lên LHQ
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Lê Công Phụng, nguyên thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao, đại sứ Việt Nam tại Mỹ, phân tích đó là hành động mà họ nghĩ cần làm, theo logic và cách nghĩ của Trung Quốc. Việt Nam đã chính thức phản đối Trung Quốc lên LHQ, họ là thành viên thường trực Hội đồng Bảo an, họ sợ bị bẽ mặt nên đưa công hàm phản đối. LHQ không có người nào đứng ra phân xử đúng sai, nên họ cứ đưa công hàm ra, nói loanh quanh chứ thật ra không có lý lẽ nào.
Không cho rằng tài liệu của Trung Quốc có hiệu quả, ông Phụng nói: “Chả lẽ nhận mình sai nên Trung Quốc phải làm thế. Ở khía cạnh nào đó, tôi cho rằng hành động của Trung Quốc mang tính nước lớn, cả vú lấp miệng em. Theo tôi, công hàm đó hiệu quả cũng không cao. Vì thế giới họ đều biết Trung Quốc làm sai, đi ngược lại UNCLOS 1982. Chỉ có điều do Trung Quốc là nước lớn, các quốc gia có lợi ích trong quan hệ với Trung Quốc nên họ không nói thẳng ra thôi, chỉ yêu cầu làm theo luật pháp quốc tế, hoan nghênh cách xử lý, đấu tranh hòa bình của Việt Nam. Nghĩa là họ đã ủng hộ cái đúng của Việt Nam rồi, vì chúng ta làm đúng UNCLOS”.
Về hướng xử lý, sau khi Trung Quốc có công hàm, ông Phụng đề nghị Việt Nam cũng nên có công hàm lên LHQ, tiếp tục nói lại, khẳng định Trung Quốc vu cáo, bịa đặt. Báo chí trong nước cũng nên có những phân tích tính xảo trá, bế tắc của Trung Quốc
From : VOV ,Tuoi tre ,...............