Publicité

Trung Quốc lo sợ Việt Nam và các nước láng giềng kiện ra Tòa án quốc tế ?
Bắc Kinh ngày càng lo ngại bị Việt Nam và các quốc gia láng giềng trong khu vực kiện ra Tòa án quốc tế, trong khi đó, dư luận quốc tế tiếp tục ủng hộ chủ trương của Việt Nam nhằm tìm kiếm các biện pháp hòa bình để giải quyết căng thẳng hiện nay theo Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.


Philippines vạch trần trò gian lận lịch sử của Trung Quốc

Theo báo South China Morning Post (SCMP, Hong Kong) ngày 10-6, ông Antonio Carpio, một thẩm phán cao cấp Philippines, đã sử dụng 72 bản đồ cổ - trong đó 15 bản đồ xuất xứ từ Trung Quốc - trong một bài nói chuyện tại Đại học De La Salle (Philippines) để phủ nhận tuyên bố chủ quyền muốn chiếm phần lớn biển Đông của Trung Quốc.

 

"Thư viện Quốc hội Mỹ lưu trữ những bản đồ trên và không hạn chế tiếp cận. Tất cả đều cho thấy biên giới phía nam Trung Quốc kết thúc tại Hải Nam, với các tên cổ xưa như Zhuya, sau đó là Qiongya và Qiongzhou", ông Carpio nhấn mạnh.

 

Ảnh chụp một bản đồ khắc đá cổ do thẩm phán Antonio Carpio giới thiệu để khẳng định đảo Hải Nam là biên giới cực nam của Trung Quốc.

 

 

Tư liệu đầu tiên ông Carpio giới thiệu là ảnh chụp một bản đồ khắc đá vẽ lãnh thổ Trung Quốc vào thời nhà Tống năm 1136 sau Công nguyên. Bản đồ này cho thấy đảo Hải Nam là cực nam của lãnh thổ Trung Quốc.

 

ban-do-co.JPG


Mười năm trước, Đại sứ quán Trung Quốc tại Philippines trích dẫn dòng chữ trên ngôi mộ một vị tướng thời nhà Minh đóng tại Hải Nam, tên Quian Shicai, làm bằng chứng cho tuyên bố của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa. Nội dung trích dẫn như sau: "Quảng Đông tiếp giáp với phần lớn biển Đông, và các vùng lãnh thổ bên ngoài vùng biển đều thuộc về nhà Minh".


Tuy nhiên, ông Carpio trình ra 5 bản đồ chính thức của triều đại nhà Minh ghi nhận "Hải Nam là cực nam của lãnh thổ Trung Quốc".


Chưa dừng lại ở đó, Đại sứ quán Trung Quốc từng rêu rao dưới triều đại nhà Thanh, Trung Quốc đánh dấu quần đảo Nam Sa (tên Bắc Kinh tự đặt với quần đảo Trường Sa của Việt Nam) trên một bản đồ hợp pháp và đã thực thi quyền tài phán hành chính đối với các quần đảo.


Nhưng ông Carpio tiếp tục viện dẫn những bản đồ chính thức của triều đại nhà Thanh để tiếp tục khẳng định chứng cứ đảo Hải Nam là lãnh thổ cực nam của Trung Quốc. Kết thúc bài nói chuyện, ông Carpio khẳng định, “đường lưỡi bò” là “trò gian lận lịch sử khổng lồ” của Trung Quốc.


Trung Quốc sợ bị kiện ra tòa án quốc tế ?
Ngày 9-6, Trung Quốc đã đệ trình lên Liên Hiệp Quốc (LHQ) một văn bản liên quan đến giàn khoan Hải Dương 981 vu khống Việt Nam một cách trắng trợn.


Theo tạp chí The Diplomat, tạp chí chuyên bình luận các vấn đề chính trị - an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương, việc Trung Quốc quyết định đệ trình “bản tuyên cáo lập trường” ra LHQ cho thấy, Bắc Kinh ngày càng quan ngại bị Việt Nam và các quốc gia láng giềng trong khu vực kiện ra tòa án quốc tế, dùng luật pháp quốc tế để phản đối những tuyên bố chủ quyền phi lý “đường lưỡi bò” của Trung Quốc, nuốt trọng gần cả biển Đông.

 

Càng hung hăng hiếu chiến, Trung Quốc càng khiến các quốc gia Đông Nam Á đẩy mạnh hợp tác an ninh hàng hải với cả Mỹ lẫn Nhật Bản và hợp tác với nhau chặt chẽ hơn

 

The Diplomat cũng nhận định, động thái trên của Trung Quốc là nhằm “quốc tế hóa” vấn đề chủ quyền lãnh thổ để củng cố tuyên bố chủ quyền phi lý tại quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.


Với chiến lược này, Bắc Kinh định khẳng định chủ quyền tại Hoàng Sa với LHQ để ngăn cản Việt Nam và các nước láng giềng kiện Bắc Kinh ra tòa án quốc tế, tờ The Diplomat viết.


Tờ The Diplomat cũng nói rằng, Trung Quốc đang chơi một ván bài nguy hiểm, bởi vì không có luật pháp quốc tế nào công nhận “đường lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc.


Philippines đã làm đơn kiện “đường lưỡi bò” của Trung Quốc ra tòa án quốc tế và Việt Nam cũng đang cân nhắc biện pháp tương tự sau khi tàu Trung Quốc ngang ngược bắn vòi ròng, đâm húc các tàu chấp pháp Việt Nam và đâm chìm tàu cá Việt Nam tại khu vực giàn khoan.


The Diplomat cho rằng, nếu Việt Nam kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, Việt Nam sẽ nhận được sự ủng hộ hoàn toàn từ Nhật Bản, Úc, Mỹ và các nước khác.


Đài Tiếng nói Hoa Kỳ ngày 9/6 dẫn phát biểu của Giáo sư Carl Thayer nêu rõ tại thực địa ở khu vực Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 gần quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, số lượng tàu của Trung Quốc, bao gồm cả tàu hải giám, tàu cá và tàu quân sự, đều đông gấp nhiều lần so với số lượng tàu của lực lượng chấp pháp Việt Nam.
Hơn nữa, cho tới nay, Trung Quốc vẫn chưa đưa ra được bằng chứng thuyết phục bằng hình ảnh về việc tàu Việt Nam tìm cách tấn công tàu của họ. Trong khi Việt Nam đã công bố các hình ảnh rõ ràng cho thấy tàu Trung Quốc hung hăng, liên tiếp va húc và đâm chìm tàu cá của Việt Nam.
Theo ông Thayer, các phát biểu vu khống của phía Trung Quốc là cách thức điển hình mà Bắc Kinh thường sử dụng để lật ngược sự thật.
Về thông cáo ngày 9/6 của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Giáo sư Thayer cũng cho rằng Bắc kinh đã cho thấy rõ sự mâu thuẫn của mình khi một mặt tuyên bố các giải pháp cho tình hình căng thẳng hiện nay trên Biển Động là cần dựa theo luật pháp quốc tế, trong khi mặt khác lại đồng thời khẳng định sẽ không lùi bước và không áp dụng bất cử giải pháp nào được nêu ra.

 

 

Ngày 10/6/2014, tại trụ sở Liên Hợp Quốc tại New York, Đại sứ Lê Hoài Trung, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Liên Hợp Quốc đã gặp Ngài John Ashe, Chủ tịch Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc (Khóa 68) để tiếp tục trao đổi về việc Trung Quốc từ ngày 1/5/2014 hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở Biển Đông.

Tại cuộc gặp, Đại sứ Lê Hoài Trung đã nêu rõ từ khi hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981, Trung Quốc sử dụng nhiều tàu và phương tiện, kể cả tàu quân sự, nhằm ngăn cản các cơ quan Việt Nam thực thị pháp luật tại vùng biển của Việt Nam, thậm chí còn chủ động đâm húc, sử dụng vòi rồng tấn công tàu thực thi pháp luật và tàu cá của Việt Nam, gây thương tích cho một số cán bộ kiểm ngư và mới đây nhất còn đâm chìm một tàu cá của Việt Nam đang hoạt động tại ngư trường truyền thống.


Đại sứ cũng trình bày các cơ sở để khẳng định rõ hành động của Trung Quốc vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế theo quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), đồng thời vi phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) cũng như thỏa thuận giữa lãnh đạo cấp cao hai nước về vấn đề này, đe dọa hòa bình, ổn định khu vực cũng như an ninh, an toàn và tự do hàng hải. Vì vậy, Việt Nam yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan, các tàu và phương tiện ra khỏi vùng biển của Việt Nam, đề nghị Trung Quốc giải quyết tranh chấp trên biển cũng như liên quan đến việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép thông qua đối thoại và các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982.

Đại sứ Lê Hoài Trung cũng khẳng định rõ Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, đồng thời bác bỏ những lý lẽ trái với thực tế, không có cơ sở pháp lý quốc tế về các vấn đề trên trong các tài liệu Trung Quốc đã lưu hành tại Liên Hợp Quốc, trong đó có những nội dung được đề cập tại Tuyên bố ngày 8/6/2014 của Bộ Ngoại giao Trung Quốc.

 

 

Tại Hội thảo quốc tế “Hoàng Sa: Trường Sa – Sự thật lịch sử” do ĐH Đà Nẵng và ĐH Phạm Văn Đồng tổ chức ngày 20/6 tại Đà Nẵng.  Hàng chục học giả đến từ Mỹ, Nga, Pháp, Úc, Nhật Bản, Ấn Độ… đều cho rằng, trong hoàn cảnh hiện nay, kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế là việc cần thiết nhất mà Việt Nam phải làm, để khẳng định chủ quyền trên biển Đông, đòi lại Hoàng Sa và yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ “đường 9 đoạn”.

Các học giả phân tích, những sự thật lịch sử, chứng cứ mà phía Việt Nam đưa ra cùng những bước đi từ xưa đến nay của phía Trung Quốc cho thấy nước này ngày càng lộ rõ mưu đồ thôn tính không chỉ Hoàng Sa – Trường Sa mà toàn bộ biển Đông

 

 

 

Bộ ngoại giao TQ công bố 5 bằng chứng bán nước của ĐCSVN
CTV Danlambao 

http://danlambaovn.blogspot.fr/2014/06/bo-ngoai-giao-tq-cong-bo-5-bang-chung.html

Hôm 8/6/2014, trang web của Bộ ngoại giao Trung Quốc đã cho đăng một bản tuyên bố mang tên "Giàn khoan 981 hoạt động: Sự khiêu khích của Việt Nam và lập trường của Trung Quốc". Trong đó, phía Trung Quốc đã chính thức cho công bố 5 bằng chứng bán nước không thể chối cãi của chế độ cộng sản Việt Nam dưới quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.


Những bằng chứng động trời này một lần nữa khẳng định: đảng cộng sản Việt Nam chính là một tập đoàn Việt gian phản quốc. Thậm chí, đến cả những ai còn mù quáng nhất cũng không thể phủ nhận hành vi bán nước ô nhục của đảng cộng sản Việt Nam.


Bản tuyên bố được viết bằng tiếng Anh trên trang web Bộ ngoại giao Trung Quốc, sau đó lập tức được Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc-CRI chuyển sang tiếng Việt.


Trong phần IV của bản tuyên bố, phía Trung Quốc đưa ra các bằng chứng cho thấy chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do đảng cộng sản cầm đầu đã thừa nhận quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) thuộc chủ quyền Trung Quốc.


"Trước năm 1974, các khóa Chính phủ Việt Nam không hề đưa ra bất cứ nghị dị đối với chủ quyền quần đảo Tây Sa của Trung Quốc, bất cứ trong tuyên bố, công hàm của Chính phủ Việt Nam hay là trên báo chí, tạp chí, bản đồ và sách giáo khoa của Việt Nam đều chính thức công nhận quần đảo Tây Sa từ xưa đến nay là lãnh thổ của Trung Quốc", bản tuyên bố ngày 8/6/2014 của Bộ ngoại giao Trung Quốc viết.


Dưới đây là trích đoạn phần nói về 5 bằng chứng bán nước của đảng cộng sản Việt Nam do Bộ ngoại giao Trung Quốc công bố:


Bằng chứng số 1:
Ngày 16/5/1956, trong buổi tiếp Đại biện lâm thời Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam Lý Chí Dân, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ung Văn Khiêm trịnh trọng bày tỏ: "Căn cứ vào những tư liệu của Việt Nam và xét về mặt lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là thuộc về lãnh thổ Trung Quốc".

Vụ trưởng Vụ châu Á Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Lộc còn giới thiệu cụ thể hơn những tư liệu của phía Việt Nam và chỉ rõ: "Xét từ lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa đã thuộc về Trung Quốc ngay từ đời Nhà Tống".


Bằng chứng số 2: 
Ngày 4/9/1958, Chính phủ Trung Quốc ra tuyên bố, tuyên bố chiều rộng của lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý, dứt khoát nêu rõ: "Quy định này áp dụng cho tất cả mọi lãnh thổ của nước Cộng hoa Nhân dân Trung Hoa, trong đó bao gồm quần đảo Tây Sa". Ngày 6/9, trên trang nhất của "Báo Nhân Dân"-cơ quan Trung ương của Đảng Lao động Việt Nam đã đăng toàn văn bản tuyên bố lãnh hải của Chính phủ Trung Quốc. Ngày 14/9, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Văn Đồng đã gửi Công hàm cho Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Chu Ân Lai, trịnh trọng bày tỏ: "Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận và tán thành tuyên bố về quyết định lãnh hải công bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa", "Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định này".


Bằng chứng số 3:


Ngày 9/5/1965, Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra tuyên bố về việc Chính phủ Mỹ lập "khu tác chiến" của quân Mỹ tại Việt Nam, chỉ rõ: "Việc Tổng thống Mỹ Giôn-xơn xác định toàn cõi Việt Nam và vùng ngoài bờ biển Việt Nam rộng khoảng 100 hải lý cùng một bộ phận lãnh hải thuộc quần đảo Tây Sa của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoà là khu tác chiến của lực lượng vũ trang Mỹ", đây là đe dọa trực tiếp "đối với an ninh của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước láng

giềng".

 

Annex3-5VN.jpg


Bằng chứng số 4:


Tập "Bản đồ Thế giới" do Cục Đo đạc và Bản đồ Phủ Thủ tướng Việt Nam in ấn xuất bản tháng 5/1972 đã ghi chú quần đảo Tây Sa bằng tên gọi Trung Quốc.

 

Annex4-5-2.jpg

Annex4-5-3.jpg


Bằng chứng số 5:
Trong sách giáo khoa "Địa lý" lớp 9 Trung học phổ thông do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản, có bài giới thiệu "Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa" viết: "Từ các đảo Nam Sa, Tây Sa đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan, các đảo Bành Hồ, quần đảo Châu Sơn..., các đảo này có hình vòng cung, tạo thành bức 'Trường Thành' bảo vệ Trung Quốc đại lục".

Annex5-5-2.jpg 

Annex5-5-3

Annex5-5-4.jpg

 

 

Cũng trong bản tuyên bố ngày 8/6, phía Trung Quốc cũng nêu cáo buộc nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam "đã nuốt lời cam kết của mình" khi tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cho đến thời điểm này, nhà cầm quyền CSVN chưa hề đưa ra bất cứ tuyên bố chính thức nào trước việc Trung Quốc cho công bố 5 bằng chứng bán nước như trên.

Một sự im lặng nhục nhã đối với tập đoàn Việt gian bán nước

 

 

Bằng chứng của TQ vô giá trị’
Một nhà nghiên cứu về Biển Đông của Việt Nam nói rằng các bằng chứng mà Bộ Ngoại giao Trung Quốc đưa ra để chứng minh cho ‘chủ quyền không thể chối cãi’ của họ đối với quần đảo Hoàng Sa là ‘không có giá trị pháp lý’.

Hôm Chủ nhật ngày 8/6, trang chủ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã có bài viết lên án Việt Nam ‘quấy nhiễu’ hoạt đông của giàn khoan Hải Dương 981 đính kèm với một loạt bằng chứng mà họ cho rằng cho thấy ‘Chính phủ Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa’.

Bắc Kinh lâu nay vẫn một mực cho rằng không tồn tại tranh chấp ở quần đả mà họ gọi là Tây Sa này và vẫn luôn cự tuyệt đàm phán với Việt Nam.

Vùng biển đặt giàn khoan theo Bắc Kinh lập luận thì gần với quần đảo ‘Tây Sa thuộc chủ quyền của họ’ hơn rất nhiều so với bờ biển Việt Nam.


Các bằng chứng mà Bắc Kinh mới đưa ra bao gồm công hàm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng công nhận Tuyên bố về Lãnh hải của Trung Quốc vào năm 1958 trong đó khẳng định ‘Tây Sa’ và ‘Nam Sa’ là ‘lãnh thổ của Trung Quốc’.

Ngoài ra còn có bản chụp Tập bản đồ Thế giới do Cục Đo đạc Bản đồ, cơ quan in bản đồ chính thức của Chính phủ Việt Nam trực thuộc Phủ thủ tướng, xuất bản năm 1972, trong đó hai quần đảo Hoàng Sa và Trường theo cách gọi của Trung Quốc là 'Tây Sa' và 'Nam Sa'.

Một bằng chứng khác là một đoạn được cho là trích trong sách Địa lý lớp 9 do Nhà Xuất bản Giáo dục của miền Bắc phát hành năm 1974 có ghi: "Vòng cung từ các đảo Nam Sa, Tây Sa đến các đảo Hải Nam... làm thành một bức trường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc'.

"Nhà nước thống nhất khác hoàn toàn với nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không phải là nhà nước của một miền. Trách nhiệm của nó khác hẳn với trách nhiệm của nhà nước một miền."

 

Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn dẫn phát ngôn của Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Đại biện lâm thời Trung Quốc Lý Chí Dân vào năm 1956 rằng ‘căn cứ vào những tư liệu của Việt Nam và xét về mặt lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là thuộc về lãnh thổ Trung Quốc’.

Trung Quốc còn lập luận rằng từ trước năm 1974, các đời Chính phủ Việt Nam (Bắc Việt) ‘không hề có bất cứ dị nghị gì đối với chủ quyền quần đảo Tây Sa của Trung Quốc’ và rằng họ là bên ‘phát hiện, khai thác, kinh doanh và quản lý sớm nhất’ đối với quần đảo này từ thời Bắc Tống (960 - 1126)

“Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đã nuốt lời cam kết của mình, đưa ra yêu sách lãnh thổ đối với quần đảo Tây Sa của Trung Quốc, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc luật pháp quốc tế về 'cấm nuốt lời cam kết' và nguyên tắc cơ bản trong quan hệ quốc tế,” Bộ Ngoại giao Trung Quốc viết.

‘Suy diễn’Tuy nhiên, trao đổi với BBC hôm thứ Năm 12/6/2014, Tiến sỹ Nguyễn Nhã, một nhà nghiên cứu của Việt Nam, nói rằng những ‘chứng cứ’ này của Trung Quốc ‘không có giá trị pháp lý quốc tế’ mà chỉ có tác dụng về ‘tâm lý’ và ‘chính trị’.

“Học giả Trung Quốc khi thì nói thời Minh, khi thì nói thời Tống, có khi nói đời Đường, có khi nói đời Hán,” ông nói, phản bác lập luận của Trung Quốc nói rằng họ quản lý Hoàng Sa tờ thời Bắc Tống.


Trung Quốc hiện đang kiểm soát và phát triển quần đảo Hoàng Sa
“Tất cả chứng cứ họ đưa ra hoàn toàn mang tính suy diễn thôi,” ông nói thêm.

Khi Đề đốc Lý Chuẩn của tỉnh Quảng Đông đời nhà Thanh ra đảo cắm cờ tuyên bố chủ quyền hồi năm 1909 thì họ cho rằng quần đảo này là ‘đất vô chủ’, theo Tiến sỹ Nguyễn Nhã.

“Tuy nhiên, nó đâu có vô chủ,” ông phản bác.

“Họ viện cớ là tại sao năm 1909 họ hành động như thế thì không ai phản đối,” ông nói.

“Đến năm 1921 khi chính quyền phía nam của Trung Quốc quyết định sáp nhập Hoàng Sa vào Hải Nam thì chính quyền Pháp lúc đó mới quan tâm và dư luận báo chí Đông Dương và Pháp quốc mới lên tiếng phản đối.”

“Không phải phản ứng trễ là mất chủ quyền,” ông nói, “Sau khi chính quyền Quảng Đông khảo sát và cắm cờ chủ quyền thì Cách mạng Tân Hợi nổ ra năm 1911 họ cũng đâu có quan tâm?”

Về các bằng chứng của Trung Quốc nói rằng Chính phủ Bắc Việt thừa nhận chủ quyền Hoàng Sa của họ, Tiến sỹ Nhã nói: “Dù Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có nói gì, làm gì đi chăng nữa, đó chỉ là đối sách về ngoại giao và chính trị lúc đó thôi.”

 

‘Tính chất pháp lý khác’
Trung Quốc cáo buộc Việt Nam quấy nhiễu hoạt động 'thăm dò bình thường' của họ

“Hiệp định Geneva (năm 1954 về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Đông Dương) đã quy định rất rõ rằng Hoàng Sa và Trường thuộc chính quyền phía nam quản lý,”

Ông Nhã cho rằng Trung Quốc là một bên ký Hiệp định Geneva nên chỉ cần ‘sử dụng Hiệp định Geneva’ để phản bác lập luận của Trung Quốc ‘là đủ’.

“Họ (Chính phủ Bắc Việt) có tuyên bố bất cứ cái gì thì không liên quan đến từ bỏ chủ quyền. Họ có trách nhiệm pháp lý đâu mà từ bỏ?” ông nói.

"Theo luật pháp quốc tế, một khi điều gì đã được ghi ra văn bản chính thức của Nhà nước thì không thể nói lại. Tuy nhiên, cũng chính cái Chính phủ đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc vào năm 1958 nay lại trắng trợn phủ nhận và thách thức chủ quyền của Trung Quốc."

 

Trương Quốc Thổ, trưởng khoa Đông nam Á tại Đại học Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến
Ông cũng phân tích chính quyền nước Việt Nam thống nhất hiện nay có ‘tính chất pháp lý khác hẳn’ chính quyền ở Bắc Việt trước đây vốn đã có những hành động thừa nhận ‘chủ quyền’ của Trung Quốc.

“Nhà nước thống nhất khác hoàn toàn với nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó không phải là nhà nước của một miền. Trách nhiệm của nó khác hẳn với trách nhiệm của nhà nước một miền,” ông nói.

“Chính quyền thống nhất này khẳng định chủ quyền (đối với Hoàng Sa và Trường Sa) tức là tiếp tục kế thừa những gì của chính quyền miền Nam Việt Nam quản lý,” ông nói thêm.

Tờ Hoàn cầu Thời báo hôm 10/6 dẫn lời ông Trương Quốc Thổ, trưởng khoa Đông nam Á tại Đại học Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến, nói:

"Theo luật pháp quốc tế, một khi điều gì đã được ghi ra văn bản chính thức của Nhà nước thì không thể nói lại.

"Tuy nhiên, cũng chính cái Chính phủ đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc vào năm 1958 nay lại trắng trợn phủ nhận và thách thức chủ quyền của Trung Quốc.”

 

 

Việt Nam đưa ra bằng chứng thuyết phục bác vu cáo của Trung Quốc
 Việt Nam khẳng định, những thông tin mà Bộ Ngoại giao Trung Quốc cung cấp thời gian gần đây là hoàn toàn sai sự thật.

Ngày 16/6, trong cuộc họp báo quốc tế lần thứ 5 kể từ khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép do Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức, Việt Nam đã lên tiếng bác bỏ những lập luận vô căn cứ của Trung Quốc về chủ quyền các quần đảo trên Biển Đông, cung cấp bằng chứng cho thấy Trung Quốc đã đưa các tàu và máy bay quân sự, đồng thời tiếp tục dùng tàu công vụ tấn công tàu Việt Nam.

 

 
Ông Lê Hải Bình, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết trong những ngày qua Trung Quốc vẫn duy trì hoạt động trái phép của giàn khoan Hải Dương - 981 trong vùng biển của Việt Nam, bất chấp quy định luật pháp quốc tế. Các tàu của Trung Quốc vẫn hung hăng ngang ngược tấn công, đâm va và dùng súng phun nước cường độ mạnh, khống chế tấn công đánh đập ngư dân.

Trung Quốc liên tục đưa ra luận điệu sai trái vu khống và đổ lỗi cho Việt Nam về những căng thẳng hiện nay trên thực địa. Trong khi đó, ông Trần Duy Hải, Phó chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia khẳng định Việt Nam trước sau như một kiên quyết phản đối mọi hành động của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền, xâm phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.

Về tình hình trên thực địa, ông Ngô Ngọc Thu, Phó tư lệnh cảnh sát biển Việt Nam, cho biết trong những ngày qua phía Trung Quốc  duy trì khoảng 100 tàu trong đó có 6 tàu chiến, và các máy bay quân sự để thực thi cái gọi là bảo vệ giàn khoan Hải Dương – 981 hạ đặt trái phép trong vùng biển của Việt Nam.

Đại diện cảnh sát biển Việt Nam một lần nữa khẳng định sự hiện diện của các tàu chiến và máy bay quân sự gần giàn khoan 981. Ông cho biết các phóng viên trong nước và quốc tế, cũng như lực lượng chấp pháp của Việt Nam đã ghi lại được số hiệu, số liệu tàu và máy bay. Ông Thu cũng bác bỏ vu cáo của Trung Quốc cho rằng phía Việt Nam dùng người nhái và vật cản để tấn công tàu Trung Quốc.

Về phần mình, ông Hà Lê, Phó cục trưởng Cục Kiểm Ngư cũng đã lên tiếng bác bỏ thông tin của Trung Quốc cho rằng tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi bị đâm chìm hôm 26/5 là "do tự lật sau nhiều lần đâm húc tàu Trung Quốc và phía Trung Quốc đã cố vào cứu mà không được". Ông Lê khẳng định các tàu của Trung Quốc thậm chí còn có hành động ngăn cản không cho tàu Việt Nam vào cứu hộ 10 ngư dân bị rơi xuống nước.

 

Phần hỏi đáp:

Báo Asahi của Nhật Bản: Những ngày qua, Trung Quốc đưa ra bằng chứng hình ảnh, clip cho thấy tàu Việt Nam chủ động đâm va tàu Trung Quốc, bản thân ông xem hình ảnh đó chưa? Bình luận của ông? Có hay không việc Việt Nam cử lực lượng đặc công người nhái đến giàn khoan, bố trí vật thể trôi nổi cản trở tàu Trung Quốc?

Ông Ngô Ngọc Thu: Tôi có được thông báo về nội dung họp báo đó. Phía Trung Quốc đã đưa ra một số liệu, đó là tàu thực thi pháp luật Việt Nam tiến hành đâm tàu của Trung Quốc 1.547 lần. Tôi xin khẳng định thông tin đó là hoàn toàn sai sự thật.

Thực tế trên khu vực giàn khoan 981 chỉ có tàu Trung Quốc chủ động đâm va, sử dụng các vòi phun nước cũng như trang thiết bị chế áp tàu thực thi pháp luật Việt Nam, không có chuyện tàu Việt Nam đâm tàu Trung Quốc. Hình ảnh Trung Quốc như mô tả là tàu Trung Quốc bị tàu Việt Nam đâm hỏng mũi, điều này là không đúng sự thật bởi chỉ có thể sử dụng mũi tàu này đâm vào mạn tàu kia, không thể sử dụng mạn tàu Việt Nam đâm vào mũi tàu Trung Quốc.

Trung Quốc nói Việt Nam sử dụng người nhái, vật nổi gây ảnh hưởng hoạt động tàu Trung Quốc cũng là một thông tin hoàn toàn sai trái. Đến thời điểm hiện nay, Việt Nam không hề sử dụng người nhái trên hiện trường khu vực giàn khoan Hải Dương - 981.

Về một số vật trôi nổi và lưới mà phía Trung Quốc vớt được đưa về chụp ảnh làm bằng chứng, thực tế là khi bị tàu Trung Quốc đâm, áp đảo nên ngư dân Việt Nam phải bỏ lưới chạy, tránh để bị tàu Trung Quốc phun nước uy hiếp. Trung Quốc vớt lưới của ngư dân Việt Nam và vu cáo rằng Việt Nam thả lưới ngăn cản tàu của họ. Vật trôi nổi là các thùng nhớt, thùng sơn, dụng cụ huấn luyện bị vòi rồng Trung Quốc phun vào văng xuống nước. Hơn nữa, Trung Quốc đâm va tàu Việt Nam làm hư hỏng trang thiết bị, vỡ tàu gỗ của ngư dân Việt Nam, Trung Quốc vớt và nói là bằng chứng. Đó là sai sự thực.

 


Tiền phong: Trong thời gian gần đây, Trung Quốc cho rằng: Việt Nam nói Trung Quốc dùng vũ lực để chiếm Hoàng Sa là sai? Đại diện Ủy ban biên giới quốc gia bình luận về quan điểm này thế nào?

Ông Trần Duy Hải: Trước hết tôi xin khẳng định đây là những phát biển xuyên tạc và bóp méo sự thật. Sau khi Pháp rút khỏi Việt Nam, Pháp đã bàn giao quản lý quần đảo cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa và chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã thực thi quản lý và đồn trú trên quần đảo Hoàng Sa. Năm 1974, Trung Quốc đã lợi dụng chiến tranh, tấn công lên lực lượng Việt Nam Cộng hòa đồn trú trên quần đảo Hoàng Sa. Đấy là sự thực lịch sử. Ngay trên mạng Trung Quốc cũng đưa nhiều hình ảnh Trung Quốc tấn công lực lượng Việt Nam Cộng hòa. Việc sử dụng vũ lực xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa sẽ không thể tạo ra chủ quyền cho Trung Quốc theo luật pháp quốc tế.

Báo Người Lao Động: Trước những bằng chứng của Việt Nam đưa ra để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, bằng chứng đó có thể giúp cho Việt Nam trong các vụ đòi chủ quyền với Trung Quốc không?

Ông Trần Duy Hải: Các văn bản pháp lý của nhà nước phong kiến Việt Nam hiện còn lưu giữ như các châu bản khẳng định việc quản lý, khai thác Hoàng Sa. Đây là các văn bản chính thức của nhà nước nên có giá trị pháp lý. Theo luật thụ đắc lãnh thổ, một quốc gia khi muốn xác lập chủ quyền của mình với một vùng lãnh thổ phải thông qua các hành vi thực thi chủ quyền dưới danh nghĩa nhà nước. Việc khai phá Hoàng Sa, quần đảo Hoàng Sa được thực hiện bằng nhà nước và bởi nhà nước nên hoàn toàn đúng theo luật thụ đắc lãnh thổ. Tất cả các văn bản đó có giá trị pháp lý khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa.

 

VnExpress: Trước thông tin của Trung Quốc đưa ra thời gian qua cho rằng nhiều tàu cá của ngư dân Việt Nam tham gia ngăn cản giàn khoan, ngăn cản các tàu của Trung Quốc. Xin Cục Kiểm ngư đưa ra bình luận về thông tin này?

Ông Hà Lê: Hoàng Sa là ngư trường truyền thống của ngư dân Việt Nam. Chính vì vậy, việc ngư dân Việt Nam khai thác ở Hoàng Sa là việc bình thường phù hợp với luật pháp Việt Nam và quốc tế. Việc Trung Quốc nói như vậy là vu cáo. Tàu Trung Quốc phần lớn là các tàu công suất lớn, trang bị tối tân còn tàu cá Việt Nam là tàu gỗ, khai thác thủy sản hợp pháp bình thường trên biển. Việc Trung Quốc vu cáo tàu cá ngư dân Việt Nam ngăn cản tàu Trung Quốc là vô lý và không có căn cứ. Tôi xin khẳng định lại rằng, tàu cá Việt Nam chưa bao giờ có hành động ngăn cản, quấy rối tàu Trung Quốc mặc dù các tàu Trung Quốc đang hoạt động trái phép tại vùng biển Việt Nam.

 

VOV: Ngày 13/6 vừa qua Bộ Ngoại giao Trung Quốc yêu cầu Việt Nam rút khỏi 29 đảo đá mà Việt Nam đã chiếm giữ tại quần đảo Trường Sa. Đề nghị cho biết bình luận của Việt Nam về điều này?

Ông Trần Duy Hải: Các bạn đã thấy rõ đề nghị của Trung Quốc rất vô lý, chúng tôi bác bỏ đề nghị phi lí đó của Trung Quốc. Việt Nam có đầy đủ chứng cứ pháp lý và lịch sử khẳng định chủ quyền với Trường Sa và trên thực tế Việt Nam đã quản lý, tiến hành khai thác hòa bình liên tục trên quần đảo Trường Sa. Chính Trung Quốc là bên đã dùng vũ lực để xâm chiếm một số bãi trên quần quần đảo Trường Sa và do vậy chính Trung Quốc mới phải rút khỏi các bãi họ đã chiếm đóng bất hợp pháp từ năm 1988 của Việt Nam.

VOV: Thời gian gần đây 1 số nhà ngoại giao khu vực đề xuất rằng ASEAN cần có cách tiếp cận cứng rắn hơn với Trung Quốc. Việt Nam có mong đợi gì hoặc có hành động gì để yêu cầu, đề nghị ASEAN có tuyên bố chung về vấn đề Biển Đông?

Ông Trần Duy Hải: Chúng tôi nhiều lần khẳng định Việt Nam có đủ chứng cứ pháp lý lịch sử để khẳng định chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa nên mọi hoạt động của Trung Quốc không được sự đồng ý của Việt Nam là bất hợp pháp. Việt Nam ủng hộ các nỗ lực của ASEAN nói chung trong việc duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông kể cả trong việc yêu cầu Trung Quốc chấm dứt hành động phá vỡ nguyên trạng cũng như tạo ra sự căng thẳng ở Biển Đông.

 

Phóng viên VOV đặt câu hỏi cho ông Trần Duy Hải

Hãng tin AP: Cho tới nay các đối tác nước ngoài hợp tác với Tập đoàn dầu khí Việt Nam có bày tỏ lo ngại gì trước việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan hay không? Phản ứng của Việt Nam về vấn đề trên như thế nào?

Ông Nguyễn Quốc Thập: Ngay khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 trái phép, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã tiến hành gặp gỡ, làm việc với tất cả các đối tác đang hợp tác khai thác dầu khí trong vùng biển Hoàng Sa. Tại các buổi làm việc này, chúng tôi nhận được những tín hiệu rất tốt khi tất cả các bên đều thông báo rằng: họ chia sẻ và ủng hộ lập trường, cũng như tuyên bố của Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam cũng như Chính phủ Việt Nam. Họ khẳng định, hoạt động của Tập đoàn dầu khí và của bản thân họ là hoàn toàn hợp tác. Vì vậy, họ cũng khẳng định sẽ tiếp tục thực hiện những hợp đồng đã ký kết trước đó. Chúng tôi cũng đang có kế hoạch để cùng với các công ty dầu khí nước ngoài triển khai hoạt động khai thác dầu khí sao cho có hiệu quả nhất.

AP: Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì dự kiến đến Việt Nam tuần này dự cuộc họp Uỷ ban liên chính phủ Việt Nam – Trung Quốc. Chủ đề cuộc họp có đề cập vấn đề Biển Đông? Việt Nam có hy vọng cuộc họp làm giảm căng thẳng ở Biển Đông hay không?

Ông Lê Hải Bình: Ủy viên Quốc vụ viện Dương Khiết Trì sẽ thăm Việt Nam. Đây là cuộc gặp của hai chủ tịch Uỷ ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam – Trung Quốc. Trong các chủ đề sẽ được thảo luận, tôi tin rằng vấn đề Trung Quốc hạ đặt giàn khoan 981 trái phép trong vùng thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam chắc chắn sẽ được bàn đến.

Như chúng tôi nhiều lần khẳng định, từ trước đến nay cũng như tại họp báo này, Việt Nam luôn hết sức kiên trì trao đổi, tìm mọi kênh thông tin trao đổi đối thoại với Trung Quốc để giải quyết hòa bình vấn đề căng thẳng hiện nay ở Biển Đông. Vì vậy, cuộc gặp giữa hai chủ tịch Uỷ ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam – Trung Quốc lần này chắc chắn là một kênh, một sự kiện hai bên có thể thảo luận để tìm giải pháp cho vấn đề căng thẳng ở Biển Đông.

Báo Lao động: Trung Quốc nói Pháp từng thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa. Quan điểm Việt Nam như thế nào?

Ông Trần Duy Hải: Trước hết xin khẳng định ý kiến của Trung Quốc hoàn toàn bịa đặt bởi sau khi Pháp vào miền Nam, Pháp thay chính quyền miền Nam thực thi chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa. Việc quản lý hành chính với Hoàng Sa của Pháp ở mức độ rất cao, Pháp có cơ quan hành chính ở Hoàng Sa và cấp giấy chứng sinh cho ngư dân Việt Nam sinh ra ở Hoàng Sa. Pháp rất nhiều lần phản đối hành động xâm phạm của Trung Quốc với Hoàng Sa, thậm chí Pháp đã đề nghị Trung Quốc đưa vấn đề ra giải quyết trước cơ quan tài phán quốc tế nhưng Trung Quốc đã từ chối. Vào ngày 18/2/1937, Pháp gửi công hàm tới Đại sứ quán Trung Hoa Dân quốc tại Pháp, trong công hàm này Pháp yêu cầu Trung Quốc giải quyết hòa bình hữu nghị các bất đồng. Nếu Trung Quốc không đồng ý giải quyết bất đồng thông qua thương

lượng, thì Pháp buộc phải đề nghị giải quyết vấn đề này bằng trọng tài. Như vậy, không có chuyện Pháp thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc mà trái lại Pháp luôn luôn phản đối hành động, âm mưu của Trung Quốc với quần đảo Hoàng Sa.

 

Vietnamnet: Trung Quốc đã  và đang xây nhiều công trình quanh khu vực Trường Sa của Việt Nam. Ý kiến của ông về vấn đề này ra sao?

Ông Lê Hải Bình: Việt Nam có đầy đủ pháp lý và bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo Trường Sa. Các cơ quan chức năng Việt Nam cho biết, thời gian qua, tại khu vực quần đảo Trường Sa, phía Trung Quốc đã tiến hành một số hoạt động mở rộng, xây dựng công trình trái phép xung quanh khu vực bãi đá Gạc Ma, cũng như một số điểm đảo khác ở khu vực Trường Sa vốn đã bị Trung Quốc sử dụng vũ lực chiếm đóng trái phép từ tháng 3/1988.

Việt Nam kiên quyết phản đối hành động phi pháp nói trên của Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc nghiêm túc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, tôn trọng Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay hành động xây dựng mở rộng trái phép tại khu vực quần đảo Trường Sa, cũng như các hành động đơn phương khác làm thay đổi hiện trạng của khu vực quần đảo Trường Sa cũng như khu vực khác trên Biển Đông, rút ngay các tàu, thiết bị của Trung Quốc khỏi khu vực này, không để tái diễn hành động tương tự trong tương lai vì nó đe dọa hòa bình, ổn định khu vực cũng như tại Biển Đông

 

 

Hai lý do làm VN chần chờ chưa dám kiện TQ ?

Lý do thứ nhất: Sợ TQ sẽ tung ra những bằng chứng đã thỏa thuận trong bóng tối từ trước của lãnh đạo hiện nay cũng như lãnh đạo tiền nhiệm.

Lý do thứ hai: Sợ TQ tiết lộ những vụ tham ô, móc ngoặc tài sản đất nước giữa các cấp lãnh đạo cao cấp nhất của VN hiện nay với các tập đoàn KT do Tàu Cộng làm chủ.

Đó là hai lý do sinh tử khiến đảng CS không dám kiện.

 

Từ trước đến nay, đảng CSVN luôn luôn khẳng định VN có đầy đủ bằng chứng lịch sử, pháp lý về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; Các chuyên gia VN trong và ngoài nước đa số đều nêu lý do chính đáng nên tiến hành vụ kiện;

Ngoài ra, tại các hội nghị, diển đàn quốc tế, VN hiểu rõ thế giới ũng hộ VN cả “tình lẫn lý” trong vấn đề tranh chấp hiện nay, nhưng dù đang ở trong hoàn cảnh bị Tàu Cộng uy hiếp hạ nhục, bị mất uy tín nghiêm trọng với dân chúng, đảng CSVN vẫn không dám tiến hành vì họ hiểu rõ hơn ai hết, công hàm Phạm Văn Đồng, bản đồ thế giới, sách giáo khoa chỉ là màn dạo đầu của TQ.

 

Lý do thứ hai, trong vấn đề kinh tế, ai cũng biết những công trình trọng điểm, rừng đầu nguồn, khoán sản quan trọng, những công trình thi nhau đội giá “lên trời” đều do nhà thầu Trung Quốc đãm nhận. Hầu như tất cả các ngành công, lâm, ngư nghiệp cho tới khoáng sản đều có bàn tay nhớp nhúa thao túng của Tàu Cộng mà Tàu là bậc thầy hối lộ và sự tham lam của quan chức VN cũng bậc nhất thế giới, thế mà từ trước đến nay những vụ đòi hối lộ với Tàu chưa bao giờ bị lậy tẫy.

Nguyễn Sinh Hùng từng phát biểu trước Quốc Hội “....nếu cách chức hết thì lấy ai làm việc...” Câu này không nhắm vào cán bộ cấp dưới mà nhắm vào cán bộ, lãnh đạo cấp cao của đảng. Những vụ phanh phui và trừng phạt tham nhũng sẽ chỉ làm tăng uy tín của đảng, nhưng với điều kiện, điều đó chỉ xãy ra với cấp dưới, nhưng với cấp cao, lại là cấp cao chót vót, thì lại làm giảm uy tín của đảng trầm trọng. Không ai tin rằng, những công trình trọng điểm, khai thác đất đất đai quan trọng mà lãnh đạo TW của đảng CS không biết, hoặc chỉ thò tay ký với tấm lòng trong sạch, không nhận “lại qủa” từ Tàu.

 

 

 

From : ANTĐ ,  Dân lam Bao ,VOV ,Phạm Khánh Chương (QLB),.............

 

 

Publicité
Tag(s) : #Dư Luận Chính Trị Thế Giới
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :