Theo một số nhà nghiên cứu, hiện có ba xu hướng làm thay đổi hệ thống quyền lực tại Trung Quốc.
_Trước hết là xu hướng “lãnh đạo yếu, phe cánh mạnh”. Trong hai thập kỷ qua, Trung Quốc từ từ rời bỏ nguyên tắc tập trung quyền lực vào một người như thời Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình. Thay vào đó, họ áp dụng mô hình lãnh đạo tập thể.
Ông Giang Trạch Dân lẫn Hồ Cẩm Đào dù là Chủ tịch nước nhưng thực chất chỉ nắm quyền hành nhiều hơn một chút so với phần còn lại. Nguyên nhân một phần là họ không lập được nhiều thành tích cách mạng nhưng chủ yếu vẫn là việc xã hội thay đổi nhận thức và các định chế, thể chế chính trị trong nước kiềm chế, tán quyền của họ.
Trong tương lai, ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường cũng vì thiếu “chiến công” và vấp phải sự cạnh tranh khốc liệt từ những “đồng chí”, họ có thể còn có ít quyền lực hơn cả những người tiền nhiệm. Điều này đồng nghĩa với việc lãnh đạo tập thể càng được coi trọng.
Trong cơ chế lãnh đạo tập thể đó, các phe phái chính trị có điều kiện để hoạt động tích cực hơn. Đảng cộng sản Trung Quốc giờ hoạt động theo cơ chế: một đảng, hai liên minh có sức mạnh khá cân bằng.
Phe thứ nhất theo chủ nghĩa dân túy, do ông Hồ Cẩm Đào đứng đầu. Phe còn lại được gọi là nhóm “tinh hoa”, nổi lên từ thời ông Giang Trạch Dân và giờ do Chủ tịch Quốc hội Ngô Bang Quốc “chỉ huy”.
Hai phe này có những ưu tiên chính sách khác nhau. Nhóm “tinh hoa” coi trọng phát triển kinh tế còn nhóm "đoàn phái” chủ trương hành động vì công bằng xã hội, đoàn kết xã hội. Do đó, nhìn chung thì nhóm “tinh hoa” kiểm soát các lĩnh vực kinh tế, bảo vệ quyền lợi các tỉnh ven biển; trong khi nhóm “đoàn phái” kiểm soát các tổ chức đảng, ưu ái các tỉnh nội địa.
Việc nền chính trị bị chia thành các phe phái không phải điều mới lạ ở Trung Quốc và nó không tạo ra quy luật: được ăn cả, ngã về không. Hai phe này hiện có quyền lực khá cân bằng. Họ chia nhau kiểm soát các cơ quan lãnh đạo hàng đầu. Do đó, lãnh đạo của phe phái dính scandal có thể dễ dàng bị bãi nhiệm nhưng phe đó vẫn quá mạnh để bị giải thể.
Bí thư Thượng Hải Trần Lương Vũ mất chức năm 2006 và Bạc Hy Lai năm nay là những bằng chứng về nguyên tắc “lãnh đạo yếu, phe cánh mạnh”. Và những chỗ trống mà họ để lại sẽ được những người cùng phe nhanh chóng trám vào.
Nhóm “tinh hoa” (có nhiều “thái tử đảng” – những người xuất thân từ các gia đình cách mạng truyền thống). Họ còn được gọi là nhóm Thượng Hải. Nhóm “dân túy” chủ yếu gồm những quan chức xuất thân từ đoàn thanh niên nên còn được gọi là đoàn phái.
_Xu hướng thứ hai là “Chính phủ yếu, nhóm lợi ích mạnh”. Dễ thấy là Chính phủ trung ương ngày càng mất quyền điều hành, lãnh đạo các tỉnh thành và thậm chí là các công ty quốc doanh. Trên mạng Trung Quốc còn lan truyền tin đồn rằng “Thủ tướng không thể kiểm soát được một Tổng giám đốc”, cho thấy sự yếu kém của Chính phủ trung ương.
Ngược lại, các nhóm lợi ích lại mạnh lên, lấn sân Chính phủ, khiến quá trình ra quyết định bị kéo dài và phức tạp, thậm chí có trường hợp còn lâm vào bế tắc. Điển hình là nhóm lợi ích liên quan tới bất động sản ngày một lớn mạnh, khiến Chính phủ gần như bất lực, không thể thu nhỏ quả bong bóng mà họ thổi lên; hay như vụ phải mất 13 năm Trung Quốc mới ra nổi luật chống độc quyền do vấp phải sự phản đối của các doanh nghiệp quốc doanh lớn "bao thầu" thị trường nội địa.
Nhiều doanh nghiệp lớn "chi phối" Chính phủ Trung Quốc. Ảnh: Xinhua.
_Cuối cùng là xu hướng “đảng yếu, quốc gia mạnh”. Đảng cộng sản Trung Quốc có 80 triệu thành viên, là lực lượng không đối thủ xứng tầm tại quốc gia 1,3 tỷ dân này. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là họ không gặp vấn đề mang tính sống còn.
Một số lãnh đạo Trung Quốc muốn thay đổi, cải cách chính trị, điển hình là Thủ tướng Ôn Gia Bảo…nhưng đa phần những nỗ lực đó không tác dụng bởi hai nguyên nhân. Thứ nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm hoen ố hình ảnh phương Tây, cổ vũ lực lượng cánh tả cũng như mô hình độc đảng Trung Quốc.
Thứ hai là cuộc nổi dậy Mùa xuân Arab vừa qua khiến giới lãnh đạo Trung Quốc lo ngại, không muốn thay đổi vì sợ bất lợi. Thậm chí, họ còn siết chặt vòng kiểm soát, đập tan mọi "âm mưu từ trong trứng nước".
Tất cả những xu hướng trên khiến nội bộ Trung Quốc căng thẳng và làm nhiều người bất an. Cộng với việc liên tục phát hiện thêm các vụ tham nhũng, hối lộ, quan chức chạy ra nước ngoài… giới lãnh đạo Trung Quốc ngày càng cảm thấy bất an.
Do đó, theo FP, sớm hay muộn quá trình cải cách cũng phải được đẩy mạnh bởi rõ ràng, cơ chế hiện hành có nhiều bất cập, không còn phù hợp với thời đại. Khi đó các cuộc cạnh tranh, tranh giành... sẽ xảy ra nhiều hơn nhưng việc đó nhìn theo cách tích cực, lại giúp Trung Quốc dân chủ hơn.
Thực chất của phe Thượng Hải, phe Bắc Kinh” nhìn từ đại hội 17.
Trong bối cảnh của đại hội 17, giới bình luận đưa ra nhận xét về phe Bắc Kinh, là phe “dân túy” (populism) do Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo dẫn đầu. Trong khi đó thì phe Thượng Hải còn được gọi là “phe ưu tú” (elitist coalition), là băng của những lãnh tụ xuất thân từ các tỉnh giàu có, tập hợp chung quanh nhóm Thượng Hải.
Phe dân túy muốn làm giảm bớt khoảng cách giàu - nghèo và cách biệt địa phương để xoá đi sự bất mãn của những thành phần và địa phương bị thiệt thòi. Chính sách đổi mới đã làm các tỉnh phía Nam và duyên hải giàu lên, bỏ xa các vùng sâu trong lục địa. Phe này muốn những vùng giàu có phải chia sẻ gánh nặng phúc lợi xã hội và giáo dục cho những vùng nghèo khó.
Trái lại phe Thượng Hải hay “ưu tú” là phe giàu, chủ trương “đứa nào có thân, đứa ấy lo”. Nhóm này chủ trương phải tập trung vốn để đẩy nhanh sự phát triển hiện có, không phân tán vốn để làm chậm nhịp phát triển. Phe này tập hợp toàn những thành phần xuất thân từ những gia đình đảng viên cao cấp và trưởng thành dưới thời Chủ Tịch Giang Trạch Dân, người từng làm Bí thư thành ủy Thượng Hải.
Nhóm Thượng Hải lúc đó do Phó chủ tịch Tăng Khánh Hồng (Zeng Qinghong) cầm đầu. Họ Tăng xuất thân từ một gia đình cách mạng “nòi” và thời trẻ được đào tạo thành một chuyên viên về hoả tiễn của quân đội. Sau Tăng trở thành cánh tay mặt của Giang Trạch Dân, được Giang đưa từ Thượng Hải lên Bắc Kinh.
Tăng từng được xem là đối thủ của Hồ Cẩm Đào, tuy nhiên vì họ Hồ có sự chiếu cố của Đặng Tiểu Bình nên mới thắng cuộc.
Hồ được chọn sau khi trải qua sự thử thách ở Tây Tạng: toàn bộ những bí thư tiền nhiệm tại Tây Tạng đều xuất thân từ quân đội nhưng không thể bình định vùng này, năm 1989 Hồ về đây và áp dụng các biện pháp cứng rắn để dẹp tan các phong trào chống đối và áp dụng các biện pháp cải cách kinh tế để thay đổi bộ mặt xã hội. Thành công ở Tây Tạng đã đưa Hồ Cẩm Đào vào Bộ chính trị năm 1992.
Dù được Đặng Tiểu Bình chọn nhưng khi quyền lực trong tay Giang Trạch Dân mà ông Bình đã ra người thiên cổ, Hồ lại khôn khéo làm đẹp lòng họ Giang: Trong vai trò Giám đốc trường Đảng Trung ương, ông ta đã ra sức tâng bốc và truyền bá học thuyết "Ba đại diện", dọn đường cho Giang đi vào lịch sử. Theo "học thuyết” này thì đảng CSTQ phải "đại diện" cho ba yếu tố nổi bật của đất nước Trung Quốc hiện tại: đại diện cho lợi ích của những "lực lượng tiên tiến" trong nền sản xuất đương đại, đại diện cho nền "văn hoá tiên tiến" và đại diện cho quyền lợi của "quần chúng rộng lớn".
Dẫu sao, với sự ủng hộ của Giang Trạch Dân, lại từng nắm ghế Trưởng ban Tổ chức trung ương đảng, phụ trách vấn đề nhân sự nên vây cánh của Tăng Khánh Hồn khá đông, đủ sức để kềm chân phe dân túy.
Do tuổi tác, Tăng Khánh Hồng (sinh năm 1939) đã chấp nhận rút lui trong đại hội năm 2007 và chính thức từ chức phó chủ tịch vào tháng Ba năm 2008, sau cuộc họp quốc hội. Trước khi rút lui, Tăng Khánh Hồng đã dùng cán cân quyền lực của mình để đưa Tập Cận Bình vào Thường trực Bộ chính trị, và hiện được xem là người kế nhiệm nhiệm Hồ Cẩm Đào trong đại hội 18.
“Thái thượng hoàng” của phe Thượng Hải là Giang Trạch Dân, nay đã gần đất xa trời, còn lại uy thế nhất là Ngô Bang Quốc (Wu Bangguo) Chủ tịch Quốc hội, Giả Khánh Lâm (Jia Qinglin) Chủ tịch Chính hiệp.
Trong cuộc chiến quyền lực, năm 2009 phe dân túy của Hồ Cẩm Đào đã hạ một nhân vật bự của phe Thượng Hải là Trần Lương Vũ (Chen Liangyu), ủy viên Bộ Chính trị, bí thư thành ủy Thượng Hải. Vũ đã bị kết án tù 18 năm vì tội tham nhũng và có quan hệ tình ái bất chính.
Theo các học giả chuyên về ĐCSTQ thì hai phái này “bổ sung” cho nhau bởi mỗi phái có một khả năng riêng, nếu bên này giỏi về an ninh tuyên truyền thì bên kia giỏi về kinh tế. Họ kèn cửa nhau nhưng luôn thống nhất một điều là không đấu đá nhau để xảy ra hậu quả “zero sum” tức là giữ miếng ăn cho nhau, không để cảnh “bạng duất tương trì, ngư ông đắc lợi” khiến đảng mất chính quyền. Do đó không phái nào lấn át hay khống chế hòan tòan phái kia.
Đoàn phái, Thanh Hoa phái
Thực ra Thượng Hải và Bắc Kinh chỉ là hai phái lớn, quy tụ những phe phái nhỏ hơn hình thành từ những yếu tố như xuất thân, bản quán, hành trình đi lên v.v..
Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo xuất thân từ những vùng nghèo, lên cao trong hệ thống đảng từ hai bàn tay trắng, nhờ nỗ lực của bản thân để lọt mắt xanh của giới lãnh đạo trên cao. Đây chính là yếu tố chính của nhóm “Đoàn Thanh Niên”, hay Đoàn Phái (tuanpai), nhóm chủ chốt của phe dân túy (hay Bắc Kinh). Từ “Đoàn Phái” xuất hiện lần đầu tiên trong thời nguyên Tổng bí thư Hồ Diệu Bang, khi ông bị chỉ trích là trông dựa quá nhiều vào nhóm cán bộ xuất thân từ Đoàn Thanh Niên mà bỏ rơi đám thái tử đảng.
Theo các học giả, “Đoàn phái” đã trở thành hạt nhân của nhóm dân túy, hay phe Bắc Kinh, gồm các nhân vật như Hồ Cẩm Đào, Lý Khắc Cường (Li Keqiang) phó thủ tướng thường trực, Lý Nguyên Triều (Li Yuanchao), trưởng ban tổ chức trung ương đảng, Uông Dương (tỉnh ủy Quảng Đông), Lưu Diên Đông (Liu Yandong), Ủy viên Quốc vụ viện (một chức vụ trong Chính phủ Trung Quốc lớn hơn Bộ trưởng, nhỏ hơn Phó Thủ tướng, được tin là sẽ thay thế Bạc Hy Lai để vào Thương trực Bộ chính trị,
Bên cạnh đó giới nhiên cứu chính trị hiện đại Trung Quốc còn lưu ý về nhóm “Thanh Hoa” (Qinghua hay Tsinghua), xuất thân từ đại học Thanh Hoa, một thứ Havard của Trung Quốc. Hồ Cẩm Đào cũng xuất thân từ trường này, học thủy điện tại Thanh Hoa vào năm 1959 và sau khi tốt nghiệp năm 1964 được giữ lại làm phụ giảng và được kết nạp vào đảng. Cũng tại đại học Thanh Hoa này, con trai Đặng Tiểu Bình bị Hồng vệ binh ném từ lầu hai xuống đất què giò.
Đa số thế hệ lãnh đạo thứ tư của ĐCSTQ xuất thân từ đại học này, bắt đầu từ đại hội thứ 17, với các nhân vật chính là: Hồ Cẩm Đào, Lưu Diên Đông, Tập Cận Bình, Ngô Quan Chính.
Trong nhóm Thanh Hoa có Ngô Bang Quốc (Wu Bangguo) tuy nhiên họ Ngô lại nghiên về nhóm Thượng Hải.
Cựu thủ tướng Chu Dung Cơ cũng xuất thân từ trường này.
Phái Tân Tả
Thực ra thì “Tân Tả” (New Left) không phải là một phe phái trong giới lãnh đạo mà thọat đầu là một phong trào trí thức.
Ngay từ thập niên 90, sau hơn 10 năm mở cửa cải cách thị trường, nhiều trí thức Trung Quốc đã lên tiếng bày tỏ sự bất bình về tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng, sự suy đồi đạo đức. Dẫu không muốn quay ngược lại thời tiền cải cách, họ tin rằng hầu hết những khiếm khuyết xã hội này bắt nguồn từ khiếm khuyết của tư bản chủ nghĩa (chính xác hơn, cơ chế thị trường) và tham nhũng.
Sau khi Hồ Cẩm Đào lên cầm quyền vào năm 2002, phái này ngày càng to tiếng hơn, đòi hỏi phải tăng phúc lợi xã hội, chăm cho người nghèo và chỉ trích phát triển quá đáng.
Theo họ thì cải cách chỉ có lợi trong giai đọan đầu và càng ngày càng bất lợi vì cái giá con người và thiên nhiên phải trả ngày càng nặng nề hơn cho phát triển. Đầu tiên ai cũng hưởng lợi từ cải cách kinh tế nhưng về sau chỉ có người giàu hưởng lợi và người nghèo trả giá: nhà nước đẩy y tế và giáo dục cho thị trường, nhiều người bị bỏ rơi.
Như có thể thấy, tư tưởng nhóm Tân Tả là dân túy (populism) mà như đã nói ở trên, so với phe Thượng Hải thì Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo cũng là những nhà dân túy.
Cắt đứt dứt khoát với thời phát triển thực dụng của Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân, Hồ và Ôn cũng đã cố gắng hết sức mình để giải quyết những vấn đề trên cũng như tìm cách đóng kịch để lấy lòng dân. Sau khi ngồi vào ghế lãnh tụ năm 2002, Hồ Cẩm Đạo đã lo lắng viếng thăm nhiều nơi, trong đó nơi đầu tiên là Xibaipo ở tỉnh Hà Bắc (Hebei (Hà Bắc), nơi cộng sản chiếm cuối cùng trước khi chiếm Bắc Kinh vào năm 1949. Sau đó, Hồ và Ôn thi nhau về vùng nông thôn hay các hầm mỏ thăm viếng nông dân hay các di tích cách mạng trong các ngày lễ, ngày tết, là điều mà họ Đặng và họ Giang đã quên bẵng trong những năm trước.
Tuy nhiên cách biệt xã hội và lời than vãn của tầng lớp nông dân, dân nghèo thành thị càng lớn hơn, tạo cơ hội cho những nhà dân túy mới như Bạc Hy Lai.
Thái tử đảng
“Thái tử đảng” hay The Princelings, dùng để chỉ con cái của những lãnh tụ cao cấp, chủ yếu là “Bác đại nguyên lão” hay cách lãnh tụ cao cấp trong thời gian gần đây.
Trên thực tế thì đây không phải là một phe phái gắn kết nhau với những mục tiêu chính trị như là “Thanh Hoa phái” hay “Đoàn phái” hoặc “Thượng hải phái. Đây chủ là một nhóm đặc quyền nhờ vào ảnh hưởng của cha mẹ, nhờ vào truyền thống gia đình trị. Về chính trị, các thái tử đảng có khuynh hướng kết hợp với nhóm “ưu tú” hay nhóm Thượng Hải để chống lại phái dân túy.
Nhờ vào ảnh hưởng gia đình, các “thái tử đảng” có thể dễ dàng tiến thân về chính trị, thành công về kinh tế và dẫm lên trên pháp luật.
Chính các thái tử đảng này là một nguyên nhân gây trì trệ. Khi một nhà lãnh đạo địa phương nào đó có mối quan hệ “hoàng tộc” như thế, anh ta sẽ trở nên cứng đầu, không cấp trên cấp địa phương hay cấp bộ có thể yêu cầu anh ta làm thế này, thế kia. Khi xảy ra một tai tiếng như thế thì cách duy nhất là trung ương phải phái một ủy viên Bộ chính trị đặc trách khu vực đến để giải quyết, rất mất thì giờ.
Tại Trung Quốc, khi đến tuổi 30 thì, nhiều thái tử đảng này cũng kiếm được chân thứ trưởng, là điều mà các đảng viên khác phải bỏ ra hàng chục năm mới có thể “phấn đấu”. Nhiều thái tử trở thành các nhà tư bản đỏ khi nắm các công ty, và nhiều trường hợp đã dính vào các vụ hối lộ và buôn lậu mang tính quốc gia.
Chính vì vậy mà trong những năm gần đây giới thái tử đảng đã gây bất mãn ở cả công chúng lẫn giới đảng viên, và do đó đã trở thành đối tượng chú ý của giới lãnh tụ thuộc “Đoàn phái”.
Chính sự phản kháng này đã khiến Trần Nguyên (Chen Yuan), con trai của Trần Vân, từng là phó thủ tướng, một trong bát đại nguyên lão, bị mất phiếu trong đại hội đảng bộ tại Bắc Kinh.
Thoạt đầu, sau khi tốt nghiệp đại học vào thập niên 80, nhờ thế của cha nên Trần Nguyên được bổ làm Bí thư quận ủy Tây Thành (Xicheng) của Bắc Kinh và sau là Giám đốc Sở Thương mại Bắc Kinh. Tương lai tưởng sẽ mở rộng, ai cũng tưởng là Trần Nguyên sẽ “được cơ cấu” thành Bí thư thành ủy Bắc Kinh và nghiễm nhiên bước vào Bộ Chính Trị, bay xa hơn cha mình. Tuy nhiên khi sức chống đối của “Đoàn phái” đã loại và dẫu sao Nguyên cũng hạ cánh an toàn, trở thành Giám đốc Ngân hàng Phát triển Trung Quốc.
Năm 2011 các trang mạng Trung Quốc loan truyền hình ảnh con trai Bạc Hy Lai là Bạc Qua Qua tình tứ với con gái Nguyên là Trần Hiểu Đan (Chen Xiaodan) khi du lịch Tây Tạng. Đan đang học MBA tại Harvard, là con gái của Trần Nguyên (Chen Yuan), Giám đốc Ngân hàng Phát triển Trung Quốc. Ông nội của Qua Qua là Bạc Nhất Ba, cũng từng là phó thủ tướng, cũng thuộc hàng nhóm “bát tiên” như ông nội của Đan. Người ta nhận thấy trên tay ái nữ nhà họ Trần đã đeo nhẫn và suy đoán khả năng về một “hôn lễ hoàng gia” trong con cháu họ hàng phe “thái tử đảng”. Thế rồi Bạc Hy Lai bị bắt và chắc chắn mối tình này tan vỡ, tuy nhiên quan hệ trên cho thấy phe thái tử đảng luôn xáp lại với nhau, nương tựa nhau để bảo vệ quyền lợi của nhau.
Một trường hợp khác là Trần Hạo Tô (Chen Haosu), con trai trưởng của Trần Nghị (Chen Yi).
Trần Nghị là một trong mười nguyên soái đầu tiên của Quân đội Trung Quốc, sau năm 1949 trở thành Thị trưởng Thượng Hải, được vào Bộ chính trị giữ chức Phó chủ tịch Quân ủy, Phó thủ tướng từ 1954 đến 1972, và Bộ trưởng Ngoại giao từ 1958 đến 1972 và Hiệu trưởng của Đại học Ngoại giao Trung Quốc từ năm 1961 đến 1969.
Trong vai trò Bộ trưởng Ngoại giao, tháng 10 năm 1968 Nghị đã gặp Lê Đức Thọ để phê phán Hà Nội việc nhượng bộ Mỹ trong quá khứ, phá hoại Trung Quốc và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam; chấp nhận đề nghị đàm phán của Liên Xô.
Phần thái tử đảng Trần Hạo Tô thì giữa lúc đang giữ chức phó chủ tịch Bắc Kinh, năm 1990 Nghị bị đẩy đi giữ các chức hữu danh vô thực là Chủ tịch Hội hữu nghị Trung – Xô và sau là chủ tịch Hiệp hội hữu nghị Nhân dân Trung hoa và người nước ngoài.
From :Phạm Đức Đồng Hùng (vietluan),.....