Publicité

Bảo vệ chủ quyền, trước hết cần diệt “giặc nội xâm”
Tiền Phong phỏng vấn ông Vũ Quốc Hùng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó chủ nhiệm thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương (KTTƯ), về việc công khai tài sản của cán bộ trong công tác phòng chống tham nhũng. 
Vụ án tham nhũng tại Vinalines được điều tra, xét xử nhanh chóng, thể hiện quyết tâm chống “giặc nội xâm” của Đảng và Nhà nước.
 
Tham nhũng đã là cả một “bầy sâu”

Mới đây Đảng ta quyết định tái lập Ban Nội chính Trung ương, và lập Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng Trung ương do Tổng Bí thư đứng đầu. Với kinh nghiệm nhiều năm công tác trong lĩnh vực này, ông mong chờ điều gì ở các Ban của Đảng mới được thành lập hoặc tái thành lập?

Vào dịp thành lập và tái thành lập những ban đó của Đảng, tôi đã phát biểu với báo chí: Trước tình hình hiện nay, Đảng ta thấy cần tổ chức đội hình chống tham nhũng sao cho hiệu quả.

Đảng cũng nhận thấy đích thân Đảng phải đi tiên phong, là người cầm cờ. Vì vậy, việc Đảng thành lập những ban như vậy, như nhiều đảng viên và số đông quần chúng, tôi thấy rất phấn khởi.

Tôi hy vọng các ban của Đảng sẽ có được sự phối hợp, gắn kết trong hoạt động như thời của chúng tôi. Nhiệm vụ của các đồng chí hiện nay khó khăn hơn, bởi như Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã phát biểu, tham nhũng không chỉ là một vài con sâu, mà đã là cả một “bầy sâu”.

Các đồng chí hiện nay phải có quyết tâm cao, phải hợp đồng tác chiến tốt, đừng nể nang, né tránh. Xây và chống, thì trong chống đã có xây rồi. Xử lý tham nhũng thì phát hiện sớm, ngăn chặn, cảnh cáo, răn đe sớm sẽ có tác dụng tốt, giúp cho tài sản Nhà nước đỡ bị thiệt hại, đối tượng tham nhũng cũng không bị ngập quá sâu dẫn đến bị xử lý nặng.

Cá nhân tôi rất ủng hộ công khai tài sản

Trong phòng chống tham nhũng, công khai minh bạch tài sản của cán bộ lãnh đạo chủ chốt được xem là bước đi đầu tiên. Thời ông còn công tác, Đảng đã đặt ra vấn đề này chưa? Theo ông, vì sao việc này suốt nhiều năm qua không tiến triển được bao nhiêu?

Thời tôi làm việc, đã có đề cập phải khai báo tài sản, nhưng chưa quy định đầy đủ, chặt chẽ như bây giờ. Cá nhân tôi rất ủng hộ phải công khai tài sản.

Trước khi bổ nhiệm vào chức vụ chủ chốt, phải khai và thẩm tra về tài sản. Trong quá trình giữ chức vụ, từng năm một cũng phải khai tiếp. Dĩ nhiên điều quan trọng là ai kiểm tra việc khai báo đó?

Nếu phát hiện khai báo gian dối thì xử lý ra sao? Vấn đề này hiện quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước đã rõ ràng, chặt chẽ, đầy đủ rồi, thì phải thực hiện nghiêm túc. Muốn vậy, cán bộ lãnh đạo phải làm gương. 

 

 
Khai báo là quan trọng, song kiểm tra việc khai báo còn quan trọng hơn. Ông có kiến nghị cụ thể gì về việc này?

Lúc này, hơn lúc nào hết, chúng ta phải đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng - kiên quyết đánh tan “giặc nội xâm”. Làm được điều này, lực ta mạnh hơn, lòng dân đoàn kết hơn.

 

Nguyên UVTƯ Đảng, nguyên Phó Chủ nhiệm thường trực UBKT T.Ư Vũ Quốc Hùng
Cá nhân tôi cho rằng, việc kê khai tài sản để có kết quả cần có cơ quan có thẩm quyền xem xét và kết luận. Trước khi được bổ nhiệm, cán bộ phải nộp bản khai để cơ quan này kiểm tra, thẩm định.
   
Nếu phát hiện khai chưa đầy đủ, trung thực, trước tiên yêu cầu tự khai lại. Nếu khai lại mà vẫn cố tình khai không trung thực, phải kiên quyết xử lý, không loại trừ việc tịch thu sung công quỹ số tài sản cố tình che giấu.

Việc này, nước ngoài người ta làm mãi rồi. Nước ta cũng đã nói từ lâu, nay đã có quy định rồi thì phải thực hiện rốt ráo, không được phép chậm trễ nữa.

 

Người được đề cử phải không tham nhũng

Tại Hội nghị phòng chống tham nhũng mới đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặt vấn đề: “Muốn chống tham nhũng có hiệu quả thì trước hết phải chống tham nhũng chính ngay trong các cơ quan chống tham nhũng”. Theo ông, việc chống tham nhũng ngay trong hoạt động của Ủy ban KTTƯ, Thanh tra Chính phủ, rồi các cơ quan Điều tra, Kiểm sát, Tòa án… cần được thực hiện thế nào?

Tổng Bí thư đặt vấn đề như vậy là quá đúng. Các cơ quan có chức năng phòng chống tham nhũng phải gương mẫu. Trước hết, hãy gương mẫu công khai, minh bạch về tài sản.

Gương mẫu trong kê khai, gương mẫu trong kiểm tra về kê khai tài sản. Nếu phát hiện thiếu trung thực, gian dối, thì phải xử lý nghiêm hơn ở các cơ quan khác. Trước hết, phải đưa ngay những người gian dối ra khỏi những cơ quan này.

Công tác nhân sự cho đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12 đang được tiến hành. Việc công khai, minh bạch tài sản đối với những người được đề cử giữ các chức vụ chủ chốt tại Đại hội Đảng sắp tới có cần thiết không, thưa ông?

Đã nhiều kỳ Đại hội, chúng ta đề ra tiêu chuẩn người được đề cử phải là người không tham nhũng, không làm ngơ, nhu nhược trước tham nhũng, tích cực đấu tranh chống tham nhũng.

Muốn vậy, có nhiều việc phải làm, song có lẽ trước tiên, những người dự kiến được đề bạt, bổ nhiệm cần làm ngay việc công khai, minh bạch về tài sản. Làm vậy để tránh sau này không ai “há miệng mắc quai”, trở thành sân sau của tham nhũng. Sau khi họ đã công khai tài sản, phải tiến hành hỏi ý kiến người dân, việc này phải làm thực chất, không được mang tính hình thức.

Khuyến khích để người dân có tiếng nói

Vai trò của nhân dân trong đấu tranh phòng chống tham nhũng là rất quan trọng. Có một vấn đề tế nhị, đấu tranh chống tham nhũng thường phải nhắm vào những người có chức, có quyền. Nhiều trường hợp người đấu tranh bị gắn cho cái mác “gây mất ổn định”, “bị đối tượng xấu lôi kéo, dụ dỗ”. Theo ông, làm sao để phân biệt được người đấu tranh chống tham nhũng với những phần tử gây rối, cơ hội?

 

Khi dựa vào dân thì phải nghe đủ các ý kiến của dân. Trong quá trình công tác, tôi đã gặp, đã tiếp rất nhiều người dân. Do trình độ, hoàn cảnh, tâm lý… mà mỗi người sẽ có cách trình bày khác nhau. Có những người bức xúc, mất bình tĩnh, hoặc có thiên kiến nên thiếu khách quan. Nhiều khi họ cung cấp những thông tin chưa chính xác, thiếu chứng cứ. Tuy nhiên, tôi chưa gặp ai là “người phản động” cả.

Cán bộ khi tiếp xúc với dân thì phải khuyến khích để họ có tiếng nói. Cán bộ cần lắng nghe, đừng vội đưa ra nhận định, phán quyết. Vấn đề là phải chắt lọc thông tin, xác minh, thẩm định thông tin. Nếu là khiếu nại hoặc tố cáo, quy trình giải quyết hiện đã rất đầy đủ, chặt chẽ. Song nếu họ gặp mình chỉ để phản ánh, thì đừng hành chính hóa công việc, hãy lắng nghe, khuyến khích họ.

Một vấn đề nữa, phải bảo vệ người cung cấp thông tin cho mình. Đến giờ tôi vẫn băn khoăn là những quy định về bảo vệ người chống tham nhũng chưa đầy đủ và chưa hữu hiệu.

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt hiện nay nhằm giữ vững chủ quyền đất nước, chống tham nhũng có tác dụng thế nào, thưa ông?

Tình hình chủ quyền đất nước hiện nay ai cũng đã biết. Ngọn lửa yêu nước trong mỗi người dân Việt Nam, mỗi khi Tổ quốc gặp khó khăn, lại được thổi bùng lên.

Lúc này, hơn lúc nào hết, chúng ta phải đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng - kiên quyết đánh tan “giặc nội xâm”. Làm được điều này, lực ta mạnh hơn, lòng dân đoàn kết hơn. Chúng ta mới đủ sức đấu tranh với mọi lực lượng, mọi thủ đoạn của các thế lực đang chống phá chúng ta, mới bảo vệ vững chắc chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

 

 

TÀI LIỆU MẬT: Lê Khả Phiêu bán đất và biển cho Tàu với giá 2 tỉ USD  ?

 

thai-thu.jpg
 - Sau vụ CSVN bán nước cho Trung Cộng, theo lời ông Hoàng Minh Chính cho biết thì không ai biết được ai trong bộ chính trị đã ký tên trong vụ bán nước nầy, Bộ chính trị CSVN đã dấu nhẹm chuyện nầy và BÍ MẬT ĐÃ được BẬT MÍ và sau đây là những diễn biến về cuộc BÁN NƯỚC NHƯ SAU:


1) Lê Khả Phiêu bị Trung Quốc gài Mỹ Nhân Kế lấy cô Trương Mỹ Vân (Cheng Mei Wang) lúc Lê Khả Phiêu sang thăm Trung Quốc năm 1988 và sanh được một bé gái. LKP không đem con về vì sợ tai tiếng đưa đến nhiều lần Trung Cộng gửi văn thư đòi lấn vùng biển vào tháng 1 năm 1999. Đồng thời đòi đưa ra ánh sáng vụ nầy nếu LKP không hợp tác. Và buộc Lê Khả Phiêu phải hạ bút ký bản hiến biển ngày 30 tháng 12 năm 1999.
2) Ngày 31 tháng 12 năm 1999 phái đoàn Trung Quốc cầm đầu do ông Tang Jiaxuan và tình báo TQ sang Việt Nam, họ gặp kín ông Lê Khả Phiêu bàn thêm về vấn đề hiến đất.

3) Ngày 25 tháng 2 năm 2000, Lê Khả Phiêu phái Nguyễn Duy Niên sang Trung Quốc, ông Nguyễn Duy Niên cho biết Lê Khả Phiêu đã đồng ý việc hiến thêm đất.

Trung Quốc nghe tin rất hoan hỉ mở tiệc chiêu đãi Nguyễn Duy Niên một cách nồng nhiệt với nhiều cung tần mỹ nữ ở nhà khách Diao-yu-tai ăn nhậu cùng ông Ngoại Trưởng Tang Jiaxuan.

4) Bộ Trưởng Trung Quốc Tang Jiaxuan gửi thư kín nhắn tin muốn gặp Bộ Trưởng CSVN tại ThaiLand khi ông viến thăm nước nầy. Ngày 26 tháng 7 năm 2000. Ông Nguyễn Duy Niên đáp chiếc Air Bus bay từ phi trường Nội Bài vào lúc 6 giờ 47 sáng sang ThaiLand gặp Bộ Trưởng Ngoại giao Trung Quốc tại khách sạn Shangri-La Hotel Bankok phía sau phòng Ballroom 2. Cuộc gặp rất ngắn ngủi. Tang giao cho Niên một chồng hồ sơ đòi CSVN hiến thêm đất, biển trong hồ sơ ghi rõ TQ đòi luôn 50/50 lãnh hải vùng Vịnh Bắc Việt, đòi VietNam cắt 24,000 sq Km vùng biển cho TQ. Ngày 28 tháng 7 bộ chính trị nhóm chóp bu họp kín.

 

5) Sau hai tháng họp kín và bàn bạc. Bộ chính trị CSVN cử Phan Văn Khải qua gặp mặt Lý Bằng. Phan Văn Khải bay chuyến máy bay sớm nhất rời Việt Nam ngày 26 tháng 9 năm 2000 qua Bắc Kinh và được xe Limo chở từ phi trường Bắc Kinh về Quảng Trường Nhân Dân vào trưa hôm đó.

Nhìn thấy mặt Khải tỏ vẻ không hài lòng và hoang mang về vụ hiến đất (Điều nầy chứng tỏ Khải không rõ chuyện nầy).

Lý Bằng cho Khải biết là hai tay Lê Khả Phiêu và Giang Trạch Dân đã gặp nhau 2 lần cho vụ hiến đất rồi. Lý Bằng ôm chặc PVK và khen DCSVN làm việc rất tốt và ông cho biết là đã có Nông Đức Mạnh (lúc đó là chủ tịch Quốc Hội DCSVN) đã đi đêm sang Trung Quốc vào tháng 4 năm 2000 và Lý Bằng đã gặp lại Nông Đức Mạnh, vào tháng 8 năm 2000 ở New York Hoa Kỳ.

Lý Bằng cho biết Nông Đức Mạnh phải được cử làm Bí Thư ĐCSVN sau khi Lê Khả Phiêu xuống, nếu không thì sẽ bị Trung Quốc “đòi nợ cũ”, Khải trước khi về vẫn khước từ vụ hiến vùng biển VN và nói với LB là sẽ xem lại sự việc. Lý Bằng nhăn mặt bắt Khải ngồi chờ, vào gọi điện thoại, nói gì trong đó và trở lại nói là Chủ Tịch Giang Trạch Dân muốn gặp Khải tại Zhong-nai-hai và sau đó Khải được đưa đi gặp GTD và cho ông Zhu Rongji hù dọa Khải nói:

Trung Quốc đã nắm trong tay Lê Khả Phiêu, Nồng Đức Mạnh,..nếu không nghe lời TQ Khải sẽ bị tẩy chay và coi chừng bị “chích thuốc”. Khải cuối đầu và run sợ, sau đó đòi về. Trước khi Khải về, một lần nửa Giang Trạch Dân nhắn Khải gửi lời thăm Lê Khả Phiêu và Nồng Đức Mạnh chứ không nhắc tới tên người khác trong Quốc Hội CSVN. Khải không được khoản đải như một vị quốc khách vì tính tình bướn bỉnh vì không nghe lời đàn anh ………

 

6) Vào ngày 24 tháng 12 năm 2000, Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao VN Lê Công Phụng được Trần Đức Lương phái âm thầm đến Trung Quốc gặp ông tình báo của Trung Quốc là ông Hoàng Di, ông nầy là cánh tay phải của Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc. Ông ta nói tiếng Việt rất rành. Hai bên đã gặp nhau ở một địa điểm X gần biên giới Việt, (Tỉnh Móng Cái Việt Nam). Theo bản báo cáo cho bộ chính trị CSVN, ông Lê Công Phụng Cho biết lúc đầu ông Hoàng Di vẫn khăn khăn đòi chia 50/50 với Việt Nam về vùng biển Vịnh Bắc Việt “Beibu Bay” đòi lấy luôn đảo Bạch Long Vĩ sau đó ông Phụng, được bộ chính trị dặn trước là xin lại 6% của Vùng biển gần khu vực Bạch Long Vĩ vì đã được lâu đời là của Việt Nam, Kết Qủa cuộc đi đêm Việt Nam còn lại 56% Vịnh Bắc Việt và mất đi 16,000 sq Km vùng vịnh cho Trung Quốc.

 

7) Ngày 25 tháng 12 năm 2000, ông Trần Đức Lương rời Hà Nội qua Bắc Kinh gặp Giang Trạch Dân và được đưa về Thành Bắc của Quảng Trường Nhân Dân, theo tài liệu lấy được của tình báo Trung Quốc. Trần Đức Lương và Lê Khả Phiêu chính thức quyết định thông qua bản hiệp ước hiến đất bất chấp lời phản đối của Khải và nhiều người trong quốc hội. Phe thân Nga và Phe Miền Nam đã không đủ sức đấu với Lê Khả Phiêu và Trần Đức Lương. Bản hiến chương hiến đất cho Trung Quốc được chính Giang Trạch Dân và đảng CSTQ trả cho số tiền là 2 tỉ US Dollar được chuyển cho Việt Nam qua hình thức Đầu Tư. DCSTQ chỉ thị cho DCSVN sẽ phải làm gì trong kỳ đại hội đảng thứ 9 vào tháng 3 năm 2001 sắp tới. Trần Đức Lương được khoảng đải ở Thành Bắc QTNN.

 

8) Ngày 26 tháng 12 năm 2000 vào lúc 2 giờ trưa, Lý Bằng được cận vệ đưa tới gặp Trần Đức Lương ở Quảng Trường Nhân Dân. Lý Bằng cho Lương biết là số tiền 2 tỉ dollar để mua 16,000 sq km vùng vịnh Beibu của Việt Nam là hợp lý. Trần Đức Lương cám ơn DCSTQ về số tiền nầy.. Số tiền 2 tỉ đồng nầy được Lương đem về để làm bớt sự phẩn nộ của Khải, Kiệt và những nhân vật khác trong quốc hội CSVN. Ông Lý Bằng nhắc lại chuyện Trung Quốc đã bán vũ khí và hổ trợ cho đảng CSVN trong thời gian chiến tranh và số nợ trên Trung Quốc dùng để trao đổi mua lại vùng đất Bắc Sapa của Việt Nam, Ải Nam Quan, Bản Dốc, Cao Bằng…… Thêm lần nữa Lý Bằng chỉ gửi lời thăm Lê Khả Phiêu và Nồng Đức Mạnh !. Sau đó Lương được mời lên xe Limo và đưa về Zhong-nan-hai để gặp Zhu Rongji, Zhu Rongji không nói gì khác hơn là nhắc lại số tiền 2 tỉ đồng sẽ được giao cho Việt Nam sau khi Lương trở về nước.

 

9) Ngày 26 tháng 2 năm 2001 Nguyễn Mạnh Cầm bay sang Trung Quốc để gặp ông Qian Qichen tại đảo Hải Nam. Nguyễn Mạnh Cầm cám ơn Trung Quốc đã mua vùng Vịnh Bắc Việt của Việt Nam (Beibu Bay) với giá 2 tỉ US Dollars.

 

From : http://quanlambao.blogspot.fr/2013/08/ngay-29-oc-lai-tai-lieu-mat-le-kha.html

 

 

Tội bán nước và tham nhũng

 

Tội bán nước:
Lê Khả Phiêu là một trong những tên trùm sò bán nước của cộng sản Việt Nam. Xét sự việc bán nước của Phiêu xin phép trình bày lại sự kiện Phiêu cùng đồng bọn bán nước lấy 2 tỷ USD và được Trung cộng ém nhẹm vụ Phiêu chơi giá Tàu có con trong “Những sự thật cần phải biết - Phần 23”.


Ngày 25/12/200, Trần Đức Lương đến Bắc Kinh cùng Giang Trạch Dân ký Hiệp Ước cắt 11.362 km2 trên vịnh Bắc bộ cho Trung cộng, là hành động cắt biển bán cho Trung cộng để lấy 2.000.000.000 Usd, để về chia chác cho Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải... để đổi lấy những cái gật của Khải, Kiệt v.v...


Sau vụ bán nước cho Trung Cộng, theo lời ông Hoàng Minh Chính cho biết thì không ai biết được ai trong bộ chính trị đã ký tên trong vụ bán nước này, Bộ chính trị cộng sản đã dấu nhẹm chuyện này và bí mật đã được bật mí và sau đây là những diễn biến về cuộc bán nước như sau:  xem trên ......

 

Hồ Cẩm Đào tiếp Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu.
Để nêu rõ hơn hành động bán nước của Lê Khả Phiêu chúng ta có những bằng chứng cụ thể được trình bày sau đây.


Thứ nhất, ngày 26-2-1999 Tại Nhà khách Chính phủ Điếu Ngư Đài, Bắc Kinh, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào tiếp Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu. Theo ghi chép “Trung Quốc-Việt Nam (sách ảnh)”- Văn phòng Báo chí Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa biên soạn. China Intercontinental Press, 2003, tr. 36 ghi chú: “Trong cuộc gặp gỡ này, phó chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào đã đạt được một số ghi nhớ đáng khích lệ trong việc nỗ lực hoàn thành tuyên bố chung về biên giới trên biển và đất liên với phía Việt Nam. Đồng chí tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam, Lê Khả Phiêu hoan nghênh nỗ lực của hai phía trong việc giữ hòa bình và ổn định trong các vấn đề biên giới. Mọi mâu thuẫn quá khư được hai bên thống nhất gác lại và mở ra chương mới đó là hợp tác chiến lược toàn diện trên cơ sơ núi liền núi, sông liền sông mà chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông đã dày công vun đắp...”.


Qua đoạn trích nêu trên chúng ta thấy gì? Đó là Phiêu chủ trương bán nước bằng việc ký các hiệp định cắt đất, biển để đổi lấy tiền và sự yên ổn và để tiếp nối sự nghiệp bán nước “núi liền núi và sông liền sông” mà Hồ Chí Minh đã thực hiện.


Thứ hai, theo hồi ký Trần Quang Cơ - bản thảo 2003 đã viết: “Ông Lê Khả Phiêu còn phải nhận lãnh trách nhiệm lịch sử trong một giai đoạn mà quan hệ đối ngoại, đặc biệt là với Trung Quốc, có rất nhiều thử thách. Nguyên tắc “hai nước xã hội chủ nghĩa phải cùng chống âm mưu của đế quốc xóa bỏ chủ nghĩa xã hội” xác lập trước Hội nghị Thành Đô (9-1990) đã được Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và những đồng chí của ông đặt trên cả truyền thống cảnh giác nghìn năm trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc...”


Kể từ năm 1991, quan hệ giữa Hà Nội và Trung cộng bắt đầu được thúc đẩy bằng các “chuyến thăm hữu nghị”. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc tăng dần nhịp độ đến Hà Nội: tháng 11-1992, Thủ tướng Lý Bằng; tháng 11-1994, Chủ tịch Quốc hội Kiều Thạch; tháng 6-1996,

Tổng Bí thư Đảng, Chủ tịch nước Giang Trạch Dân; tháng 11-1996, Thủ tướng Chu Dung Cơ. Nhưng, có thể nói, phải đến chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu tới Bắc Kinh vào tháng 2-1999, công cụ “ý thức hệ” mới được Bắc Kinh khai thác ở “tầm cao” để đến gần hơn với Hà Nội.


Trong cuộc gặp thượng đỉnh này, Giang Trạch Dân đưa ra “hai phương châm” làm nền tảng cho quan hệ hai nước thể hiện trong “16 chữ vàng” và “4 tốt”. “16 chữ vàng” của Giang Trạch Dân là: “Ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện”.

Và “4 tốt” gồm: “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.


“Hai phương châm” cùng với Bản Tuyên bố chung giữa Giang Trạch Dân và Lê Khả Phiêu đưa ra trong chuyến đi được hai Đảng đánh giá: “Đã xác định tư tưởng chỉ đạo và khung tổng thể phát triển quan hệ hai nước trong thế kỷ mới, đánh dấu quan hệ Trung Việt đã bước vào giai đoạn phát triển mới”.


Nhưng, như Đặng Tiểu Bình từng tuyên bố “Trung Quốc làm gì cũng có tính toán” - Đây là thời điểm Trung Quốc cần những quyết định của phía Hà Nội để kết thúc tiến trình đàm phán Hiệp định Biên giới. Và Phiêu đã làm những điều bán nước mà chúng ta thấy trên thực tế trong những năm qua.

 


Thứ ba, ngày 7-11-1991, trong chuyến đi Bắc Kinh của Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt, “Hiệp định tạm thời về việc giải quyết các công việc trên vùng biên giới hai nước”, Việt Nam - Trung cộng, đã được ký kết. Đường biên giới đất liền giữa Việt Nam và Trung cộng dài 1.406 km, có truyền thống lâu đời bắt đầu được phân định lại.


Đường biên giới truyền thống đó là cơ sở để người Pháp, sau khi chiếm Bắc Kỳ, đàm phán với triều đình Mãn Thanh, ký Công ước 26-6-1887 và Công ước bổ sung 20-6-1895. Đây là hai văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên xác định biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Tuy nhiên, đường biên giới dài 1.406 km, từ Móng Cái đến biên giới Lào - Trung, chỉ có 341 cột mốc.


Năm 1955, ngay trong giai đoạn mà tình hữu nghị Việt - Trung đang được mô tả là như “môi với răng”, chính quyền Trung cộng đã có ý “đẩy lùi biên giới” sâu vào phía lãnh thổ Việt Nam: “Tại khu vực Hữu Nghị Quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới Việt-Trung đến Yên Viên gần Hà Nội, lợi dụng lòng tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 300m so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua… Cũng tại khu vực này, phía Trung Quốc đã ủi nát mốc biên giới số 18 nằm cách cửa Nam Quan 100m trên đường quốc lộ để xóa vết tích đường biên giới lịch sử, rồi đặt cột kilômét số 0 đường bộ sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100m, coi đó là vị trí đường quốc giới giữa hai nước ở khu vực này” (2)


“Tại khu vực Phia Un, mốc 94-95, thuộc huyện Trà Lĩnh, Cao Bằng, mới đầu phía Trung Quốc mượn con đường mòn rồi tự ý mở rộng mặt đường để ô tô đi lại được vào khu vực mỏ của Trung Quốc, đặt đường dây điện, đưa dân đến ở ngày càng đông, lập làng bản mới.

Dựa vào ‘thực tế’ đó, từ năm 1956 họ không thừa nhận đường biên giới lịch sử chạy trên đỉnh Phia Un mà đòi biên giới chạy xa về phía Nam con đường sâu vào đất Việt Nam trên 500m. Lý lẽ của họ là nếu không phải đất của Trung Quốc sao họ lại có thể làm đường ô tô, đặt đường điện thoại được. Nguyên nhân chủ yếu việc họ lần chiếm là vì khu vực Phia Un có mỏ Mangan. Ở khu vực Trình Tường, Quảng Ninh, từ năm 1956, Trung Quốc tìm cách nắm số dân Trung Quốc sang làm ăn ở Trình Tường bằng cách cung cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường, vải và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu tự trị Choang, Quảng Tây.


Nhà đương cục Trung Quốc nghiễm nhiên biến một vùng lãnh thổ Việt Nam dài 6km, sâu hơn 1, 3 km thành sở hữu tập thể của một công xã Trung Quốc, thành lãnh thổ Trung Quốc. Từ đó họ đuổi người Việt Nam đã nhiều đời làm ăn sinh sống ở Trình Tường đi nơi khác, đặt đường dây điện thoại, tự cho phép đi tuần tra khu vực này, đơn phương sửa lại đường biên giới sang đồi Khâu Thúc của Việt Nam.


Trình Tường không phải là một trường hợp riêng lẻ, còn đến trên 40 điểm khác mà phía Trung Quốc tranh lấn với thủ đoạn tương tự như xã Thanh Lòa, huyện Cao Lộc (mốc 25, 26, 27) ở Lạng Sơn; Khâm Khau (mốc 17, 19 ở Cao Bằng; Tả Lũng, Làn Phù Phìn, Minh Tân (mốc 14) ở Hà Tuyên; khu vực xã Nặm Chay (mốc 2, 3) ở Hoàng Liên Sơn với chiều dài hơn 4km, chiều sâu hơn 1km, diện tích hơn 300 ha”. (3)


Chuyện Trung cộng tự ý di chuyển, lén lút đập phá, thủ tiêu các cột mốc, lấy tên bản của Trung Quốc đặt cho xóm của Việt Nam... có thể tìm thấy ở bất cứ địa phương nào trên vùng biên giới. Họ cũng không ngần ngại áp dụng những phương thức như vậy để lấn chiếm những vùng lãnh thổ nổi tiếng lâu đời của Việt Nam như Đồng Đăng, thác Bản Giốc.: “Ngày 20-2-1970 phía Trung Quốc đã huy động trên 2.000 người kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong, và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc. Khi quan hệ hai bên còn hữu nghị, Trung Quốc đã xây dựng đường sắt vượt qua đường biên giới lịch sử 300m rồi coi điểm nối ray đó là biên giới. Họ trắng trợn ngụy biện rằng khu vực hơn 300m đường sắt đó là đất Trung Quốc vì không thể có đường sắt của nước này đặt trên lãnh thổ nước khác”.

(4)


Theo Phan Văn Khải kể lại: “Thác Bản Giốc mình không thể nào lấy hết... Bãi Tục Lãm họ có ý đồ lấn thật. Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu và Cố vấn Đỗ Mười cũng phải đấu với Trung Quốc trên tình hữu hảo mới được như vậy. Tôi, ông Vũ Khoan và ông Lê Khả Phiêu đã đấu tranh rất căng thang nhưng đôi bên cũng phải có nhân nhượng, chẳng thà mình có một phân định sau này còn có cơ sở để đấu tranh”. Qua đây cho thấy chính Khải và Phiêu đã xác nhận hành động bán nước của mình. Tại sao lãnh thổ của Việt Nam lại phải nhân nhượng? Và việc để mất thác Bản Giốc và bãi Tục Lãm mà Khải kể chính là hành động bán nước không thể chối cãi.


Thứ tư, ngày 16-5-1984, sau mười tám ngày dùng một lực lượng lớn tấn công, Trung cộng đã chiếm và chốt giữ hai mươi chín điểm dọc biên giới Việt Nam, trong đó có điểm cao 1509. Hàng ngàn người lính Việt Nam đã hy sinh trong các đợt phản công lấy lại hai mươi cao điểm ở Thanh Thủy, Vị Xuyên bị Trung cộng chiếm đóng từ năm 1984. Nghĩa trang Vị Xuyên, Hà Giang, có 1680 ngôi mộ. Trong đó, 1600 mộ là của các liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến tranh Biên giới, đa số hy sinh trong giai đoạn 1984-1985, có người hy sinh năm 1988 khi tái chiếm điểm cao 1509. Giai đoạn 1984-1985, theo ông Nguyễn Thanh Loan, người trông coi nghĩa trang: “Cứ nửa đêm về sáng, xe GAT 69 lại chở về từng túi tử sỹ xếp chồng lên nhau”. Theo Đại tá Phó chỉ huy trưởng Biên phòng Hà Giang Hoàng Đình Xuất:

“Từ khi chiếm được điểm cao 1509, Trung Quốc cho xây dựng trên đỉnh một pháo đài quân sự. Ở phía bên kia, Trung Quốc xây được đường xe hơi lên tận đỉnh trong khi bên mình dốc, hiểm trở. Theo nguyên tắc mà hai bên thống nhất, đường biên giới đi qua đỉnh, cắt đôi pháo đài mà Trung Quốc xây dựng trên cao điểm này, nhưng khi hoạch định biên giới, phía Trung Quốc cho rằng, đây là một khu vực có ý nghĩa thiêng liêng nên họ xin được giữ lại toàn bộ pháo đài để làm du lịch. Đau xót là các nhà lãnh đạo của chúng ta đã đồng ý.

Phần Việt Nam nhượng Trung Quốc ở đây tuy chỉ có 0, 77 hecta nhưng, 1509 là một vị trí chiến lược. Từ trên pháo đài ấy có thể nhìn thấy từng chiếc ô tô ở thị xã Hà Giang”.


Tuy không bình luận trực tiếp trường hợp điểm cao 1509, nhưng Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm giải thích: “Tôi nghĩ, các anh ấy cũng biết (ý ám chỉ Đỗ Mười, Khải và Phiêu), nhượng một tấc đất là có tội, nhưng với một nước lớn như Trung Quốc thì tranh chấp phải được giải quyết để có được một biên giới hòa bình. Trước đó không ngày nào là không có khiêu khích”. Qua đây cho thấy rõ ràng Cầm thừa nhận Khải, Phiêu... đã nhượng (bán) đất cho Trung cộng.


Thứ năm, việc bán nước của Phiêu còn được thể hiện thông qua một số chứng nhân là quan chức cộng sản hé lộ. Nguyễn Văn An nguyên chủ tịch QH cộng sản cũng thừa nhận: “Nếu để ông Phiêu tiếp tục giữ chức thì sẽ dẫn đến tiền lệ tổng bí thư vi phạm nguyên tắc cả đối nội và đối ngoại”. Về đối ngoại, ông An nói: “Ông Lê Khả Phiêu gặp Giang Trạch Dân không theo con đường chính thống bằng quan hệ Đảng, Nhà nước mà theo con đường tình báo”. Theo Nguyễn Đình Hương, thành viên Ban Chuyên án A10: “Tháp tùng chuyến đi ấy của Lê Khả Phiêu gồm Trần Đình Hoan, Nguyễn Mạnh Cầm và Phó Tổng cục trưởng Tổng cục II Nguyễn Chí Vịnh. Vịnh bố trí một cuộc gặp giữa ông Lê Khả Phiêu và Giang Trạch Dân. Khi gặp, cả ông Nguyễn Mạnh Cầm và ông Trần Đình Hoan cùng đi nhưng phía Trung Quốc ngăn ông Cầm và ông Hoan, chỉ cho Vịnh vào. Theo báo cáo của Vịnh thì hội đàm cũng không có thỏa thuận riêng gì nhưng có nhiều người đặt vấn đề trong đó có Trần Đình Hoan”.


Theo Lê Khả Phiêu thì đây là một cuộc gặp theo đề xuất của Giang Trạch Dân, Tuy nhiên, theo Nguyễn Mạnh Cầm, trong khi ông ta bị chặn lại thì phía Trung Quốc, Bộ trưởng Ngoại giao Đường Gia Triền vẫn vào ngồi cùng Giang Trạch Dân. Lê Khả Phiêu giải thích: “Tôi gặp Giang Trạch Dân hai lần, lần thứ hai, hai bên thống nhất là nên có gặp riêng để bàn về biên giới và Biển Đông. Trước cuộc gặp tôi có xin ý kiến Bộ Chính trị nhưng nhiều anh quên. Tôi và Giang Trạch Dân chỉ thỏa thuận, trong vấn đề Biển Đông, cái gì chỉ liên quan đến hai nước thì đàm phán song phương, cái gì còn liên quan đến quốc gia khác thì đàm phán đa phương. Cho đến bây giờ thỏa thuận này vẫn còn được thực hiện”.


III. Tội tham nhũng:
Thứ nhất, theo thông tin được đoàn đồng hương Thanh Hóa thăm nhà Phiêu được mô tả như sau:

“Đoàn mấy chiếc xe du lịch mới tinh bóng loáng đỗ trước ngôi nhà mới kín cổng cao tường của TBT Lê Khả Phiêu. Những bức hình đầu tiên cho thấy mấy chiếc xe du lịch mới tinh bóng loáng đỗ xịch trước một ngôi nhà mới kính cổng cao tường ở số 7/36 C1 Lý Nam Đế, Hà Nội. Rồi từ trong xe bước ra bảy, tám người mặc veston thẳng nếp– và cả quân phục, khệ nệ khiêng những thùng quà hiếm quý biếu Tết để tặng cựu lãnh tụ đảng CSVN từng cho rằng mình là lãnh đạo liêm khiết, đi đầu trong việc chống tham nhũng.


Sau khi cánh cổng gỗ - hẳn là loại gỗ quý - mở ra, đoàn biếu Tết, được biết là Ban Liên Lạc Đồng Hương Thanh Hóa ở Hà Nội gồm các quan chức và lãnh đạo của những công ty quan trọng, lần lượt đi qua cái cổng màu nâu to lớn uy nghi này, báo hiệu một biệt thự sang trọng bên trong được điểm tô nổi bật bằng những loại cây cảnh đắt tiền ở tiền sảnh.


Hình ảnh tiếp theo cho thấy ông Lê Khả Phiêu, trong bộ veston mầu sậm, đã tươi cười chờ sẵn ở phòng khánh hoành tráng với những bộ bàn ghế gỗ quý đánh mầu nâu bóng loáng, lót nệm hoa đỏ kê liên tiếp nhau, cùng những chậu lục bình trưng bày hoa màu vàng, xanh, hồng, đỏ...


Sau màn bắt tay, cười nói, hỏi thăm nhau vồn vã, hình ảnh cho thấy dường như là màn trao hay khui lễ vật gì đó - có kèm theo những phong bì không rõ nội dung - trong sự cung kính khúm núm của những khách đồng hương.


Rồi những vị khách của người từng cầm đầu đảng chứng kiến báu vật Trống Đồng Đông Sơn – mà luật pháp hiện hành cấm cá nhân sở hữu - được gia chủ trưng bày nổi bật...”


Ban liên lạc Đồng hương Thanh Hóa tại Hà Nội đã có buổi đến thăm và giao lưu với bác Phiêu tại nhà riêng tại ngõ 34A Trần Phú (ngôi nhà bác mới chuyển về từ đường Hoàng Diệu).


Đại diện của Ban liên lạc gồm có:
Ông Lê Xuân Thảo - Trưởng Ban Đồng hương Doanh nghiệp TH,
Ông Lê Thế Chữ - Trưởng Ban liên lạc Đồng hương Tỉnh,
Ông Hoàng Văn Đoàn - Phó Trưởng ban Doanh nghiệp,
Ông Lữ Thành Long - TGĐ Công ty Misa,
Ông Nguyễn Hồng Chung - Chủ tịch Công ty Luật Đại Việt,
Ông Bùi Việt Hà - Giám đốc Công ty HINCO,
Ông Nguyễn Hữu Hùng - Công ty Truyền thông Dầu khí Việt Nam,
Lê Xuân Tiến Trung - Công ty Việt FT và một số thành viên khác.


Qua loạt ảnh trên chúng ta thấy điều gì? Đó là trong khi đại bộ phận dân sống xa hoa thì Phiêu có cuộc sống quá sức xa hoa. Ngoài căn nhà đồ sộ thì Phiêu còn trưng nào là Ngà voi, Trống đồng, Tranh quý, bàn gỗ quý v.v... Vậy nếu liêm khiết thì tiền đâu ra? Điều đó nói lên tất cả bản chất thật của Lê Khả Phiêu.


Thứ hai, ngay sau khi Lê Khả Phiêu bị hạ bệ thì ban kiểm tra trung ương cộng sản đã có kết luận về Phiêu ngày 26/10/2002 như sau: “Đồng chí Lê Khả Phiêu có dấu hiệu bao che cho một số hành động tham nhũng của một số cá nhân dưới quyền. Đặc biệt, đồng chí Lê Khả Phiêu có những quan hệ trên mức tình cảm đồng chí về mặt tài chính với một số đối tượng đang được bộ công an truy xét...” (5)


Vụ này sau đó đã chìm xuồng nhưng có thể nói với những gì quan sát cuộc sống và căn nhà Phiêu thì đúng là Phiêu hoàn toàn không thể vô can trong việc tham nhũng.

 

IV. Kết luận:


Lê Khả Phiêu là một trong những tên tội đồ của dân tộc. Hắn đã bán nước cho Tầu mà theo như tổ tiên đã dạy thì phải đáng “tru di cửu tộc”. Ngoài ra hắn còn là một tên tham nhũng cỡ bự trên xương máu của nhân dân Việt Nam. Chúng ta cần phải tiếp tục lên án tội ác

của Phiêu cũng như bè lẽ cộng sản để một ngày nào đó dân tộc Việt nam chúng ta lôi chúng ra trước ánh sáng của công lý. Và có thể kết luận rằng cộng sản Việt Nam tất cả những tên lãnh đạo cho đến những tên đàn em đều vô liêm sỉ như nhau mà thôi.

 

From :

http://danlambaovn.blogspot.fr/2013/10/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-24-toi.html

 

 

 

 

 

From : Tiên phong ,Đặng Chí Hùng (Dân lam bao ),......
.............

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Publicité
Tag(s) : #Dư Luận Chính Trị VN
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :