Publicité

Thủ tướng VN nói về cuộc chiến 1979
Ông Nguyễn Tấn Dũng lại có phát biểu về cuộc chiến biên giới với Trung Quốc với khẳng định "Đảng, Nhà nước không bao giờ quên".

Cho tới nay, ông Dũng có lẽ là ủy viên Bộ Chính trị có nhiều phát biểu được đăng tải trên báo chí nhất về cuộc chiến 1979.

 

Bà Phạm Thị Trân Châu, quyền chủ nhiệm Ủy ban Tư vấn Khoa học và Giáo dục thuộc Ủy ban Trung ương MTTQ, đã đề nghị chính phủ xem xét tổ chức kỷ niệm, làm tượng đài và đưa thông tin về cuộc chiến 1979 vào sách giáo khoa.

Một ý kiến khác cho rằng sự nhìn nhận về những cống hiến, hy sinh của quân và dân trong cuộc chiến biên giới còn chưa được thỏa đáng.

 

Ông thủ tướng được dẫn lời nói: "Đảng, Nhà nước không bao giờ cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, cũng như quên công lao của đồng chí, đồng bào chiến đấu, hy sinh để giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh biên giới xâm lược của Trung Quốc".

Ông Nguyễn Tấn Dũng cũng cho hay Bộ Chính trị vừa qua đã tổ chức hai phiên làm việc để nghe về đề án liên quan tới sự kiện năm 1979 và vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa.

Trước đó, cuối năm ngoái trong cuộc họp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, ông Dũng đã yêu cầu đưa các chủ đề cuộc chiến biên giới 1979, Hoàg Sa-Trường Sa và chủ quyền Biển Đông vào sách giáo khoa lịch sử.

Cho tới nay, sách giáo khoa trong trường học gần như không nhắc tới các sự kiện như chiến tranh biên giới hay hải chiến Hoàng Sa.

Báo chí Việt Nam nhiều lần đăng tin bài về các sự kiện này rồi lại gỡ xuống mà không giải thích lý do.

'Lợi ích quốc gia'Tại hội nghị với đại diện MTTQ, ông Nguyễn Tấn Dũng nói các quyết nghị của Bộ Chính trị về chiến tranh biên giới phía Bắc hay biển đảo, trong đó có về hoạt động kỷ niệm, đều phải cân nhắc kỹ.

“Chúng ta làm gì cũng phải tính lợi ích cao nhất của đất nước”.

 

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
Chính quyền Việt Nam lâu nay luôn tuyên bố chủ trương "giữ hòa hiếu" với Trung Quốc, nước láng giềng khổng lồ đang có ảnh hưởng to lớn tới nền kinh tế của Việt Nam.

Các cuộc biểu tình bị cho là khích động tình cảm dân tộc chủ nghĩa chống Trung Quốc ở trong nước đều bị ngăn chặn và cản trở.

Ngược lại, Trung Quốc cũng được cho là đã có những động thái tương tự khi năm nay không cho báo chí viết bài đưa tin về cuộc chiến tranh 1979.

Một cuộc họp mặt kỷ niệm của cựu chiến binh Trung Quốc tại tỉnh Quảng Tây hôm thứ Hai 17/2 nhằm kỷ niệm sự kiện này đã bị giải tán.

Theo đài Á châu Tự do (RFA), hơn 3.000 cựu chiến binh Trung Quốc đã tới Bình Hương, Quảng Tây nhưng chỉ làm được một buổi lễ ngắn ngủi tại cửa khẩu Hữu Nghị Quan với Việt Nam thì bị chính quyền can thiệp.

Sau đó những người này đã tới nghĩa trang các tử sỹ Trung Quốc để tưởng niệm.

Một cựu chiến binh nói với ban tiếng Trung của RFA: "Chúng tôi giương khẩu hiệu lên vài phút thì bị cảnh sát giật mất, họ cũng buộc chúng tôi phải rút đi ngay".

Một người khác thì tỏ ra bức xúc rằng chính phủ đã không có tin bài gì trên truyền thông, chứng tỏ không có sự tôn trọng các liệt sỹ.

Theo RFA, từ 2008 chính phủ Trung Quốc đã cắt trợ cấp cho cựu chiến binh và cựu sỹ quan quân đội, gây khó khăn lớn cho cuộc sống của những người này.

 

From : BBC ,......

 

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/02/140220_vietpm_1979_war.shtml

 

 

 

 

Việt Nam  luôn  cảnh giác

Cuộc chiến tranh Biên giới phía Bắc 1979 giữa Việt Nam và TQ tròn 35 năm.

Việt Nam luôn  'cảnh giác' từ  nhiêu cuộc chiến biên giới  ....voi TQ.

Bài học này là việc Việt Nam phải luôn luôn 'sẵn sàng' và chuẩn bị về nội lực để đối phó với bất cứ ai miệng nói lời 'tốt đẹp' nhưng lại có thể sẵn sàng 'chĩa súng', 'chĩa bom đạn' vào Việt Nam, theo Giáo sư Trần Đức Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam từ Hà Nội.

Theo sử gia này, Trung Quốc đã hoàn toàn sai trái khi xua quân đội xâm lược Việt Nam vào ngày 17/2/1979 và Việt Nam đã chiến thắng khi bảo vệ được cương thổ của mình và các lập luận cho rằng Trung Quốc chỉ tiến hành cuộc chiến tranh tự vệ hay phản vệ đều là sai trái.

Nhân dịp này, nhà sử học cũng chia sẻ những quan điểm mang tính chất tư vấn về giải pháp mà theo ông Việt Nam cần thực hiện nhằm bảo vệ và giữ vững chủ quyền, độc lập và an ninh lãnh thổ, từ phía tăng cường nội lực cũng như nghiên cứu tận dụng các lực lượng ủng hộ từ môi trường quốc tế và khu vực.

"Bài học qua cuộc chiến đấu ấy là chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng ở trong một tư thế như thế nào đó để cho đất nước được giàu mạnh, để sẵn sàng đối phó với bất kỳ một người nào có thể nói những lời tốt đẹp, nhưng họ lại sẵn sàng chĩa bom đạn, chĩa mũi súng vào đất nước chúng ta"


GS. Trần Đức Cường
Trước hết, nhìn lại tuyên bố 'dạy cho Việt Nam một bài học' của cố lãnh đạo Trung Quốc, ông Đặng Tiểu Bình trong cuộc chiến Việt - Trung năm 1979 và bài học mà Việt Nam có thể rút ra sau tròn 35 năm cuộc xung đột, Giáo sư Cường nói:

"Tôi không nghĩ là ông ấy dạy cho Việt Nam một bài học, bởi vì người Việt Nam chúng ta có tấn công vào đất nước của ông ta đâu, mà ông ta rõ ràng là có một hành động xâm lược vào lãnh thổ quốc gia của Việt Nam,

"Còn nói về bài học, thì riêng cá nhân tôi, tôi cũng rút ra được một bài học qua cuộc chiến đấu ấy là chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng ở trong một tư thế như thế nào đó để cho đất nước được giàu mạnh,

"Để sẵn sàng đối phó với bất kỳ một người nào có thể nói những lời tốt đẹp, nhưng họ lại sẵn sàng chĩa bom đạn, chĩa mũi súng vào đất nước chúng ta, có lẽ đối với chúng ta thì đấy cũng là một bài học."

'Sẽ kỷ niệm hay không?''Hội sử học VN không tổ chức tưởng niệm'

Phó Chủ tịch Hội khoa học lịch sử VN cho hay Hội không có kế hoạch tổ chức đánh dấu 35 năm Chiến tranh Biên giới 1979 vì 'chưa có điều kiện'.


Mặc dù cho rằng cuộc chiến tranh biên giới 1979 do Trung Quốc phát động là một hành động xâm lược nhắm vào Việt Nam và rằng lịch sử cần phải được thể hiện một cách trung thực và toàn diện, Giáo sư Cường cho hay Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam trong đợt 17/2/2014 sẽ không tổ chức bất cứ hoạt động kỷ niệm, hoặc đánh dấu chính thức nào.

Ông Cường nói:

"Vì hiện nay chưa có điều kiện để tổ chức một hình thức tưởng niệm nào riêng của Hội Khoa học Lịch sử, chúng tôi động viên các Hội viên của mình tham gia trực tiếp vào các nơi, các địa phương, hoặc các lĩnh vực công tác mà họ đang đảm nhiệm."

Phát biểu này của Giáo sư Cường trên tư cách của đại diện ban lãnh đạo Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam dường như có sự khác biệt nhất định với phát biểu của một thành viên cao cấp khác trong cùng Hội sử này.

Hôm 11/2, Giáo sư Bấm Vũ Minh Giang, nguyên thành viên Hội đồng Lý luận Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nói với tờ Lao Động, Hội Khoa học lịch sử sẽ tổ chức đánh dấu sự kiện chiến tranh Biên giới phía Bắc.

"Lễ tưởng niệm dự kiến sẽ được tổ chức gắn với một hội thảo khoa học về đề tài này. Sự kiện này chúng ta chưa tổ chức bao giờ, nên đây sẽ là lần đầu tiên. Vì vậy, chúng tôi dự kiến không trọng quy mô, mà trọng chiều sâu, nêu đúng bản chất của vấn đề. Chủ trương của Hội Sử học là dứt khoát phải thể hiện quan điểm"

GS Vũ Minh Giang nói với tờ Lao Động
"Lễ tưởng niệm dự kiến sẽ được tổ chức gắn với một hội thảo khoa học về đề tài này," ông Giang được tờ báo của Việt Nam trích thuật nói.

"Sự kiện này chúng ta chưa tổ chức bao giờ, nên đây sẽ là lần đầu tiên.

"Vì vậy, chúng tôi dự kiến không trọng quy mô, mà trọng chiều sâu, nêu đúng bản chất của vấn đề. Chủ trương của Hội Sử học là dứt khoát phải thể hiện quan điểm."

'Làm bộ quốc sử'Hôm thứ Sáu, Giáo sư Cường, cho BBC hay Hội sử học đang đảm nhiệm một công trình sử học quy mô về lịch sử qua các thời đại, trong đó ở giai đoạn sử cận hiện đại, các cuộc chiến tranh như Biên giới phía Bắc 1979, biên giới Tây Nam 1979 và các cuộc xung đột vũ trang trên Biển Đông, như Hoàng Sa, Trường Sa v.v... sẽ được phản ánh.

Ông Cường nói:


Tàu sân bay của Trung Quốc gần đây được điều tới khu vực Biển Đông.
"Hội khoa học lịch sử vừa qua được giao cho việc xây dựng một đề án để biên soạn một bộ lịch sử Việt Nam nhiều tập mà chúng tôi dự kiến là 24 tập và tập hợp đội ngũ các nhà sử học ở tất cả các vùng miền, cũng như các cơ sở nghiên cứu, các viện nghiên cứu, các trường đại học và cũng tính đến mời các nhà sử học ở nước ngoài cùng tham gia,

"Trong đó chúng tôi cũng nói rõ rằng để phản ánh trung thực lịch sử của dân tộc ta, trong đó khi chúng tôi thảo luận, chúng tôi cũng nói về cuộc chiến tranh bảo vệ Biên giới phía Bắc, phía Tây Nam cũng như các vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, thì chúng tôi cũng sẽ đưa vào công trình này."

Sử gia nói thêm rằng Hội sử học VN cũng đã có những kiến nghị đưa các cuộc chiến tranh và xung đột này vào hệ thống sách giáo khoa và cho biết mục đích của việc này.

Ông nói:

"Trong thời gian vừa qua, chúng tôi đã có những đề nghị với các cơ quan có trách nhiệm có những hình thức phù hợp để kỷ niệm trận chiến đấu này, cái đó là với những người đã hy sinh tính mạng của mình để bảo vệ biên giới, biên cương của Tổ quốc như là nhiều trăm năm trước, hàng nghìn năm trước, ông cha ta đã làm, đã thực hiện,

"Chúng ta phải hết sức cảnh giác, chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng đối phó với tình huống xấu nhất, còn họ làm hay không, cái đó tùy thuộc vào cuộc đấu tranh của nhân dân VN, và cũng như là thái độ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới"

GS Trần Đức Cường
"Và cũng đã có những hình thức nhất định ở trong giới có những hình thức nghiên cứu, đồng thời cũng đề xuất những vấn đề như vậy, kể cả Hoàng Sa, Trường Sa, cũng như cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam, thì cũng đưa vào sách giáo khoa, để giáo dục cho những thế hệ người VN trẻ tuổi thấy được xương máu mà ông cha, các thế hệ kế tiếp nhau đã đổ ra để bảo vệ lãnh thổ."

'Nếu TQ hung hăng hơn?'"Nhân dịp này, Giáo sư Cường đưa ra quan sát của ông về các động thái gần đây của Trung Quốc ở khu vực và trên Biển Đông, nhất là sau các sự kiện quy định bản đồ "đường lưỡi bò" trên Biển Đông, mở "vùng thông báo bay" mới ở Biển Hoa Đông, thông báo quy định về vùng cấm đánh cá ở Biển Đông gần đây...

Ông Cường nêu quan điểm trong trường hợp Trung Quốc tỏ ra 'hung hăng' hơn trên Biển Đông, ông nói:

"Chúng ta phải hết sức cảnh giác, chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng đối phó với tình huống xấu nhất, còn họ làm hay không, cái đó tùy thuộc vào cuộc đấu tranh của nhân dân, và cũng như là thái độ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới,

"Chứ không phải thời buổi này là thời kỳ của chính sách pháo hạm của các nước thực dân như cách đây vài thế kỷ."


Sử gia cho rằng nhà nước thời nào cũng cần phải 'cấu kết được lòng dân' để chống ngoại xâm hữu hiệu.
Theo sử gia, trong lúc cân nhắc khả năng cụ thể có nên có các quan hệ đồng minh hay không, bên cạnh việc phát huy nội lực, Việt Nam cũng cần quan tâm tới phối hợp với các quốc gia Đông Nam Á (Asean) để củng cố an ninh và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trước khả năng Trung Quốc lấn tới ở khu vực.

Ông nói: "Ngoài nội lực, thì chúng ta cũng phải dựa vào sức mạnh của khối đoàn kết của các nước Asean và Việt Nam hết sức có nhiều cố gắng để có được mối quan tâm, cũng như các mối liên kết ấy là một, và thứ hai, chúng ta có mối quan hệ với gần hết các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước lớn, các nước có vai trò vị trí..."

Theo sử gia, các mối quan hệ này cũng có vai trò 'ràng buộc' đối với các bên liên quan, bởi vì nếu Trung Quốc tuyên bố "vùng cấm bay trên Biển Đông", thì vấn đề sẽ không "liên quan đến một mình Việt Nam."

Trả lời câu hỏi nhà nước Việt Nam từ góc độ đối nội liên quan tới quốc phòng, cần làm gì để tận dụng được lòng yêu nước của người dân, Giáo sư Cường nói:

"Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, luôn luôn phải cấu kết được lòng dân, và cái này thì nhà nước cũng như các tổ chức chính trị, xã hội khác cũng phải hết sức tham gia cùng với nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc," sử gia nói với BBC.

 

From : BBC,......

 

 

 

Liên minh quân sự: nên hay không?
Tình hình an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương đang là đề tài nóng bỏng với sự trỗi dậy ngày càng mạnh mẽ của Trung Quốc trước sự bất lực của Hoa Kỳ đã làm cho các đồng minh của Mỹ trong khu vực thật sự vô cùng lo lắng.

 

 Việc kiến tạo một tổ chức đa quốc gia về an ninh quốc phòng, giống như mô hình NATO, có thể sẽ là một giải pháp để duy trì và bảo vệ nền hòa bình, ổn định, an ninh và thịnh vượng chung cho châu Á-Thái Bình Dương.

Ngày 4 tháng 4 năm 1949, Tổ chức Minh ước Liên phòng Bắc Đại Tây Dương ra đời, một phần hình thành để ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô cũ và thiết lập sự hiện diện của Hoa Kỳ ở châu Âu, phần nữa là để liên kết châu Âu hậu Đệ Nhị thế chiến tái thiết, đồng thời ngăn chặn làn sóng trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

 

Mặc dù người ta có thể tranh luận không ngừng về tầm quan trọng của NATO trong thế giới ngày nay, tuy nhiên ở những nơi khác, thí dụ như ở châu Á-Thái Bình Dương, một liên minh như vậy có thể được chứng minh là rất cần thiết. Các quốc gia tham dự và cách thiết lập có thể sẽ khác, nhưng những thách thức vẫn y nguyên như cũ.

Quyết đoán và quan ngại sâu sắcSự trỗi dậy quyết liệt và quyết đoán ngày càng gia tăng của Trung Quốc đã hơn là những nỗi lo lắng hàng ngày, nếu không muốn nói là quá quan trọng đối với một số quốc gia trong khu vực. Việc hồi cuối tháng 11 năm 2013, Bắc Kinh đã đơn phương thiết lập “Khu vực nhận dạng phòng không” (ADIZ) ) trong khu vực Biển Hoa Đông, bao trùm các quần đảo tranh chấp ở Senkaku/Điếu Ngư với Nhật Bản, chỉ là một thí dụ điển hình.

 

Mới đây, bất chấp phản đối của Hoa Kỳ, Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm 01/02/2014 đã ra tuyên bố cho biết là một vùng nhận dạng phòng không trên Biển Đông tuy chưa cần thiết, song Bắc Kinh cho rằng, họ có toàn quyền thiết lập khu vực này để « bảo vệ chủ quyền lãnh thổ » của Trung Quốc.

"Làm sao có thể thương lượng tay đôi với Trung Quốc, khi họ được cho là quá lớn so với các nước láng giềng quá nhỏ, thí dụ như mối quan hệ Việt – Trung."
Cũng nên nhắc lại rằng từ nhiều năm qua, Trung Quốc tự nhận chủ quyền trên hầu như toàn bộ Biển Đông, và vẫn liên tục dùng sức mạnh để áp đặt các yêu sách biển đảo của họ, bất chấp tuyên bố chủ quyền của các quốc gia như Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei.

Philippines, quốc gia có sự đụng độ với Trung Quốc về vấn đề tranh chấp chủ quyền trong khu vực bãi đá Scarborough/Hoàng Nham vào năm 2012, đã đưa Bắc Kinh năm 2013 ra Tòa án Trọng tài Thường trực quốc tế ở The Hague, Hà Lan thụ lý theo Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, mặc dù Trung Quốc vẫn tiếp tục từ chối tham gia và đã khuyến cáo Việt Nam không nên tham gia vào vụ kiện.

 

Những nỗ lực để giải quyết các tranh chấp lãnh hải và lãnh thổ cho đến nay hình như vô hiệu.

Ngoài các biện pháp pháp lý như đã được thực hiện bởi Philippines, các diễn đàn khu vực như Diễn đàn An ninh Khu vực ASEAN, thường được gọi tắt là ARF và Đối thoại Shangri-La, mặc dù cung cấp một cơ hội cho các quốc gia thành viên để chia sẻ mối quan tâm của họ, đã thất bại trong việc giảm căng thẳng.

Trung Quốc chưa hề có dấu hiệu “xuống thang” mà ngược lại họ còn đang ráo riết chuẩn bị cho một sự việc đã rồi, chẳng hạn như tăng cường các hoạt động quân sự nhằm củng cố chủ quyền tại các khu vực tranh chấp với Philippines và Việt Nam.

Đây không ngụ ý để nói rằng Trung Quốc đã cố tình tránh không tìm kiếm một giải pháp hòa bình. Tuy nhiên, điều Bắc Kinh mong muốn đàm phán song phương đã đơn giản là không thể chấp nhận được! Làm sao có thể thương lượng tay đôi với Trung Quốc, khi họ được cho là quá lớn so với các nước láng giềng quá nhỏ, thí dụ như mối quan hệ Việt – Trung.

Thay vì dậm chân tại chỗ, biết đâu đây cũng có thể là thời gian tốt để những nước có liên quan thử đi tìm một giải pháp khác.


Hoa Kỳ và một số quốc gia đã ký thỏa thuận đồng minh quân sự
Tổ chức Minh ước Liên phòng Á châu-Thái Bình DươngThực ra không phải tất cả các nước thành viên của NATO là hoàn toàn giống nhau và có thể trong thực tế còn có những lợi ích đối nghịch, nhưng tất cả họ vẫn có cùng cam kết với các mục tiêu chung của NATO.

Tương tự như vậy, không phải tất cả các quốc gia Đông Nam Á và Đông Bắc Á là không có tranh chấp với nhau, tuy nhiên, họ ít nhất có cùng một điểm đồng thuận đó là tự do hàng hải, điều duy nhất có tầm quan trọng sống còn đối với tất cả họ. Xung đột về tranh chấp hàng hải và lãnh thổ sẽ chỉ gây tổn hại cho tất cả các nước trong khu vực, ngoài việc tạo cơ sở cho việc phát triển chủ nghĩa dân tộc cực đoan nguy hại, nó còn dẫn đến kết quả bạo lực và bất ổn định.

Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM) hàng năm và Hội nghị ADMM mở rộng (ADMM +) là một địa điểm cho bộ trưởng quốc phòng các nước thành viên đến để thảo luận về các vấn đề quốc phòng và an ninh có ảnh hưởng tới khu vực.

Tuy nhiên, trong khuôn khổ này, một tổ chức như vậy cũng chẳng mang lại một hiệu quả gì, vì đơn giản ở đó người ta chỉ nói nhưng không làm!

"Đây là một ván cờ chiến lược với Trung Quốc và chỉ có những nhà lãnh đạo Washington có tầm nhìn chiến lược mới có khả năng tham chiến thành công. "


Do đó, một tổ chức chặt chẽ hơn và cụ thể hơn là điều bắt buộc. Cũng như NATO ở hai bên bờ Đại Tây Dương, “Tổ chức Minh ước Liên phòng Á châu-Thái Bình Dương” là vô cùng cần thiết và sẽ phục vụ cho khu vực Thái Bình Dương.

Dẫn đầu là Hoa Kỳ, vì họ là quốc gia duy nhất có thể kết nối các quốc gia thành viên với nhau, tổ chức này sẽ bao gồm các cường quốc trụ cột trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia, và cả các cường quốc mới nổi như Indonesia, Malaysia và Singapore.

 

Lợi ích là điều hiển nhiên vì ngoài việc phục vụ như một liên minh quân sự đa quốc gia, tổ chức này có thể giúp kết nối các quốc gia Thái Bình Dương cả về chính trị lẫn kinh tế, và tiêu chuẩn hóa các trang thiết bị quân sự và đào tạo trong các quốc gia thành viên. Vun đắp các mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa các nước thành viên và tăng cường khả năng tương tác giữa các quân đội có thể làm tăng tính minh bạch và giảm thiểu tối đa sự hiểu lầm giữa các quốc gia.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý đến các hậu quả không lường trước được của việc tạo ra một tổ chức như vậy. Giả dụ như trường hợp của Liên Xô cũ bị đứng ngoài NATO đã tạo động lực đẩy sự ra đời của khối Hiệp ước Warsaw.

Dù có dùng bất kỳ ngôn ngữ để mô tả liên minh này cũng không tránh khỏi sự nghi ngờ cần thiết của Trung Quốc; Bắc Kinh chắc chắn sẽ thấy tổ chức này như một phản ứng với các hoạt động của Trung Quốc trong khu vực. Lịch sử rất có thể lặp lại nếu Trung Quốc quyết định họ cần phải lập một liên minh quân sự riêng để chống lại bất kỳ tổ chức nào do Mỹ dẫn đầu. Và đây chính là điều mà Washington cũng đang cân nhắc.

Liệu sự hình thành của một liên minh như vậy có thực sự mang lại một bước tiến mới trong việc đảm bảo hòa bình, ổn định, an ninh và thịnh vượng trong khu vực hay vô hình trung chỉ làm tăng thêm sự thù địch và đẩy nhanh tiến trình chạy đua vũ trang?

Dù vậy, những thách thức phải đối mặt với bất kỳ tổ chức quốc phòng đa quốc gia nào sẽ không nhất thiết phải đến từ bên ngoài nhưng từ bên trong.

Sự tồn tại và thành công của một liên minh như vậy trong dài hạn phụ thuộc đa phần vào nghệ thuật lãnh đạo và sự cam kết của Hoa Kỳ. Với vai trò trung tâm này, Washington sẽ thất bại nếu họ cũng hời hợt như họ đã từng làm trong quá khứ với SEATO (Hiệp ước Liên phòng Đông Nam Á) cũng như trong chiến tranh Việt Nam.

Đây là một ván cờ chiến lược với Trung Quốc và chỉ có những nhà lãnh đạo Washington có tầm nhìn chiến lược mới có khả năng tham chiến thành công. Chuyến công du của Tổng thống Obama vào tháng 4 này sẽ quyết định thế trận cho những năm sắp tới.


Việt Nam từng tuyên bố không làm đồng minh quân sự với nước nào
Tuy nhiên, trong khi vai trò lãnh đạo của tổ chức này có thể đè nặng trên đôi vai của người Mỹ, trách nhiệm cũng cần phải được chia sẻ bởi tất cả các nước thành viên.

Không giống như NATO, các nước thành viên sẽ được yêu cầu đóng góp chia sẻ công bằng cho liên minh, bao gồm nhưng không giới hạn nguồn tài nguyên, chính trị, tài chính và quân sự. Do hạn chế về tài chính rất thực tế phải đối mặt bởi Washington hiện nay, và những ảnh hưởng của hạn chế về đầu tư quốc phòng trong hiện tại và tương lai ở Mỹ, mỗi quốc gia thành viên được yêu cầu phải làm một phần trách nhiệm liên đới của họ và không thể nhìn vào Mỹ như là nhà cung cấp quốc phòng duy nhất.

Tư tưởng chỉ đạo của “hợp tác quốc phòng Xuyên-Thái Bình Dương” ở đầu thế kỷ 21 sẽ là “quyền lợi tương đồng, trách nhiệm tương sẻ”.

Dĩ nhiên, tất cả các điều trên chỉ là giả định thậm chí còn phải xét lại liệu Hoa Kỳ có ý định thực sự thành lập một liên minh quân sự như thế ở châu Á-Thái Bình Dương với tất cả trách nhiệm và thách thức đi kèm với một tổ chức như vậy.

Dù tất cả đó chỉ là giả định, nhưng khi Hoa Kỳ tuyên bố “chiến lược tái cân bằng ở châu Á-Thái Bình Dương” và đang điều chỉnh ngân sách, chúng ta có quyền tin rằng Tòa Bạch Ốc sẽ không bỏ qua bất kỳ giải pháp khả thi nào.

 

 

From : Vũ Đức Khanh

Bài viết phản ánh văn phong và quan điểm riêng của tác giả, một luật sư sống tại Canada.

 

 

  

 

Căng thẳng tiếp tục gia tăng ở Biển Đông

Chỉ trong vòng một tháng rưỡi vừa qua, có bảy diễn biến mới xuất hiện làm gia tăng căng thẳng về cả ngắn và dài hạn ở khu vực.

Năm diễn biến ngắn hạn bao gồm: Phản ứng của Philippines với lệnh cấm bắt cá của Bắc Kinh, sự bị động của ASEAN, hành động khiêu khích của hải quân Trung Quốc trên vùng bãi ngầm James Shoal (cách Malaysia 80km), khả năng thiết lập Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông, và sự phản đối mạnh mẽ hơn của Hoa Kỳ đối với các hành vi của Bắc Kinh.

Vào tháng Một vừa qua, chính quyền Philippines đứng ra phản đối tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông. Lực lượng vũ trang của nước này còn để ngỏ khả năng hỗ trợ an ninh cho các ngư dân đi đánh bắt cá ở vùng biển tranh chấp.

Sang tháng Hai, Tổng thống Benigno Aquino kêu gọi cộng đồng quốc tế ủng hộ để chống lại những đòi hỏi chủ quyền vô l‎ý của Bắc Kinh.

Diễn biến thứ hai xuất hiện ở hội nghị bộ trưởng ngoại giao ASEAN tại Bagan, Myanmar trong hai ngày 16-17 tháng Một. Trong khi Philippines kêu gọi ASEAN đoàn kết để phản ứng với ADIZ và lệnh cấm bắt cá, thì phần đông các nước còn lại chỉ “bày tỏ quan ngại sâu sắc” và mong các nước giải quyết vấn đề “bằng biện pháp hòa bình,” chứ không đưa ra các bình luận chính thức hay hành động cụ thể nào.

Chỉ vài hôm sau đó, một đội tàu của Hải quân Trung Quốc (PLAN), gồm tàu đổ bộ Trường Bạch Sơn (Changbaisan), và hai tàu khu trục (Vũ Hán và Hải Khẩu), nhổ neo từ căn cứ Hải Nam và đi tuần tra khắp Biển Đông. Đội tàu này sau đó cập bến bãi James Shoal, cách bờ biển Malaysia có 80km và Hải Nam khoảng 1.800km, và thề bảo vệ chủ quyền và lợi ích của Trung Quốc, báo chí nước này cho biết.

Ngày hôm sau, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc Tần Cương tuyên bố chủ quyền “không thể tranh cãi” với James Shoal.

"Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ quyền của các bên liên quan trong việc giải quyết tranh chấp bằng các cơ chế hòa bình."

 

Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Daniel Russel
Đây là lần thứ hai trong vòng hai năm Hải quân Trung Quốc xuất hiện ở bãi này để thể hiện chủ quyền. Cả hai lần chính quyền Malaysia đều cho rằng không hề biết sự hiện diện của quân Trung Quốc.

Điều này khiến người ta nghi ngờ: hoặc là Kuala Lumpur đã thiếu thành thực, hoặc khả năng cảnh báo của hải quân Malaysia quá kém, hoặc do chính quyền nước này yêu cầu lực lượng hải quân không đến khu vực trên để tránh va chạm.

Diễn biến thứ tư là việc một bản dự thảo ADIZ trên Biển Đông đã được gửi lên chính quyền Trung Quốc vào tháng 5/2013, tờ Asahi Shimbun đưa tin. Tuy ngay sau đó Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã lên tiếng phủ nhận, cần phải lưu ý ‎ rằng Bộ Quốc phòng nước này đã từng tuyên bố vào năm ngoái rằng sẽ thành lập các khu vực ADIZ khác khi đã có sự “chuẩn bị sẵn sàng.”

Diễn biến thứ năm là ở thái độ ngày càng quyết liệt của Mỹ với ADIZ và tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông. Ông Evan Medeiros, giám đốc châu Á của Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ, cảnh báo vào ngày 1/2 rằng sự khiêu khích của Trung Quốc sẽ có thể làm gia tăng sự hiện diện quân sự của Mỹ ở khu vực.

Vào ngày 5/2, trong buổi điều trần trước Ủy ban Đối ngoại thượng viện Mỹ khu vực châu Á-Thái Bình Dương, trợ l‎ý Ngoại trưởng Mỹ Daniel Russel nói Trung Quốc nên thu lại các tuyên bố về ADIZ.

Ông này cũng phản đối “đường chín đoạn” và cho biết Mỹ sẽ ủng hộ việc Philippines đưa Trung Quốc ra tòa án quốc tế.

“Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ quyền của các bên liên quan trong việc giải quyết tranh chấp bằng các cơ chế hòa bình.”

 


ASEAN không đồng lòng trong giải quyết tranh chấp
Xung khắc trong dài hạnViệc Mỹ đang xem xét lại cán cân quyền lực tại Châu Á-Thái Bình Dương và quá trình hiện đại hóa không ngừng của Hải quân Trung Quốc là hai xu hướng dài hạn rất đáng lưu tâm.

Trong hai tháng vừa qua, một số quan chức cấp cao của Mỹ đã đưa ra những nhận xét khá bi quan về sự thay đổi trong cán cân quyền lực ở phía Tây Đại Tây Dương.

“Không còn nghi ngờ gì nữa, sự thống trị tuyệt đối của người Mỹ đang giảm dần,” Đô đốc Samuel Locklear, Tổng chỉ huy tư lệnh quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương, cho biết trên tờ Defense News. ”Đó không phải là điều gì đáng lo ngại, mà là thực tế cần phải nhìn nhận.”

Trong khi đó, Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ Frank Kendall cho rằng sự vượt trội về công nghệ của quân đội Hoa Kỳ đang bị thách thức nghiêm trọng từ quá trình hiện đại hóa của Trung Quốc, và bởi sự cắt giảm ngân sách quốc phòng Hoa Kỳ.

Theo biên bản điều trần của Văn phòng Tình Báo Hải quân Hoa Kỳ (ONI), thì Trung Quốc đang có tham vọng tăng nhanh chóng các số lượng các đội tàu trên biển, tàu ngầm, và vũ khí.

Quốc gia này cũng vừa bắt đầu chế tạo tàu sân bay thứ hai, dự kiến sẽ đưa vào sử dụng vào năm 2018. Nhiều chuyên gia còn cho rằng Trung Quốc sẽ vận hành đội tàu sân bay có khả năng chiến đấu ở các vùng biển xa vào năm 2020.

Những kế hoạch hiện đại hóa của Trung Quốc được hỗ trợ bởi ngân sách quốc phòng đạt tới 160 tỷ đô la trong năm 2015. Theo thứ trưởng Quốc phòng Mỹ Kendall, ngân sách cho quân đội của Trung Quốc tăng khoảng 10% mỗi năm.

"Không còn nghi ngờ gì nữa, sự thống trị tuyệt đối của người Mỹ đang giảm dần... Đó không phải là điều gì đáng lo ngại, mà là thực tế cần phải nhìn nhận."

 

Đô đốc Samuel Locklear
Với các lực lượng bán quân sự địa phương, Trung Quốc cũng đầu tư khá nặng tay. Vào ngày 10/1, một chiếc tàu 5.000 tấn đã được giao cho Hạm đội Phòng vệ bờ biển phía Nam, đặt tại thành phố Tam Sa, thuộc quần đảo Hoàng Sa. Truyền thông Trung Quốc cũng cho biết một chiếc tàu tuần tra nặng 10 nghìn tấn, loại lớn nhất thế giới, cũng đang được lắp ráp.

‘Rủi ro xung đột an ninh’Những xu hướng an ninh ngắn và dài hạn sẽ càng làm gia tăng căng thẳng về tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông.

Philippines sẽ tiếp tục đấu khẩu với Trung Quốc, trong khi Bắc Kinh sẽ có thể cho tàu chiến đóng quân tại bãi ngầm Second Thomas Shoal, khu vực tranh chấp với Manila. Sự khác biệt trong cách tiếp cận vấn đề giữa Philippines và Malaysia sẽ khiến cho bốn nước tranh chấp với Trung Quốc ở khu vực khó đạt được thỏa thuận chung.

ASEAN cũng đã không đạt được đồng thuận trong việc tuyên bố lệnh cấm bắt cá của Trung Quốc, cũng như khả năng thiết lập ADIZ, là rủi ro an ninh cho toàn Đông Nam Á, chứ không riêng gì các nước tranh chấp.

Về phía Trung Quốc, họ sẽ tiếp tục đẩy nhanh hiện đại hóa cả hải quân lẫn lực lượng bán quân sự tuần tra bờ biển.

Hải quân Trung Quốc sẽ tập trận ở trong vùng chín đoạn, vốn sẽ xâm phạm vào các khu đặc quyền kinh tế của các quốc gia tranh chấp. Trong khi đội tàu bán quân sự sẽ tăng cường tuần tra hoặc đóng quân trên Biển Đông với thời gian dài hơn.

Chính sách chủ động hơn của Mỹ ở khu vực sẽ dễ dẫn tới những phản ứng về mặt chính trị, ngoại giao, và thậm chí là quân sự, của Trung Quốc tại các vùng biển tranh chấp. Điều này cũng dễ hiểu: quá trình hiện đại hóa hải quân và mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc sẽ tất yếu dẫn tới sự suy giảm quyền lực của hải quân Mỹ tại phía Tây Thái Bình Dương

 

 

 

  From : BBC,.....

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Publicité
Tag(s) : #Dư Luận Chính Trị VN
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :