Publicité

Bốn lãnh vực tham nhũng phổ biến tại Việt Nam
 
4 lĩnh vực tham nhũng tinh vi nhất ở Việt nam bao gồm ngân hàng, quản lý sử dụng đất đai, khoáng sản, xây dựng cơ bản – quản lý và sử dụng vốn tại doanh nghiệp nhà nước.Đó là tổng kết được Tổng thanh tra chính phủ Huỳnh Phong Tranh đưa ra trong phiên giải trình trước Ủy ban tư pháp của Quốc hội vào hôm nay.

 

Theo ông Huỳnh Phong Tranh, trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng, tham nhũng chủ yếu là ép buộc khách hàng phải cắt lại phần trăm cho vay, nhận hối lộ của khách hàng để hợp thức hóa hồ sơ xin vay không có thế chấp, nâng giá tài sản thuê mua để rút tiền ngân hàng.

Trong lĩnh vực đất đai, tài nguyên khoáng sản, đánh giá của thanh tra là tham nhũng nghiêm trọng và phức tạp liên quan đến việc quy hoạch, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, định giá đất…

Theo báo cáo của Thanh tra chính phủ, trong năm 2012, lực lượng cảnh sát điều tra đã thu hồi trên 410 tỷ đồng tài sản, đất đai thất thoát do tham nhũng.

 

 

Cuộc chiến chống tham nhũng qua vụ bầu Kiên?

Trong khi ĐCSVN thực hiện chiến dịch phê và tự phê nhằm chỉnh đốn đảng, vụ bắt giữ ông Nguyễn Đức Kiên, người được cho là có quan hệ thân thiết với thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, cũng đặt ra câu hỏi về nỗ lực chống tham nhũng của ĐCS.

 

Nỗ lực chống tham nhũng?
Vụ bắt giữ ông trùm ngân hàng Nguyễn Đức Kiên hay còn gọi là bầu Kiên tại Việt Nam vào hôm 20 tháng 8 vừa qua đã gây ra một làn sóng dư luận sôi nổi trong và ngoài nước. Nhiều ý kiến cho rằng đây là một cuộc chiến quyền lực nội bộ của Đảng cộng sản. Nhưng nhìn chung, vụ bắt giữ này cũng cho thấy phần nào một cuộc chiến khác mà Đảng cộng sản đã kêu gọi từ bấy lâu nay, đó là cuộc chiến chống tham nhũng.

 

Ông Lê Hiếu Đằng, nguyên phó chủ tịch mặt trận tổ quốc Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh nhận xét:

Tôi cho rằng đã đến lúc đảng cộng sản thấy rằng không thể kéo dài tình trạng này nữa vì nó làm mất niềm tin ở quần chúng rất lớn và thật ra là nguy cơ bất ổn định chính trị là ở chỗ này, nguy cơ suy sụp nền kinh tế là ở chỗ này. Theo tôi động thái bắt bầu Kiên là trước hết chứng tỏ với dân Việt Nam là các lãnh đạo đang ra tay đây.

Bầu Kiên vốn trước kia là một thành viên sáng lập của ngân hàng thương mại cổ phần Á châu (ACB) và hiện là một cổ đông lớn tại ngân hàng này. Ông ta cũng là người nắm giữ những cổ phần lớn tại nhiều các ngân hàng khác trong nước. Tài sản của bầu Kiên được ước tính đến cả tỷ đô la. Nhưng điều quan trọng hơn cả là bầu Kiên được coi là người thân cận với thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Từ nhiều tháng nay, các trang blog trong và ngoài nước liên tục đưa các tin bài về các vụ thao túng ngân hàng lên đến hàng ngàn tỷ đồng của bầu Kiên với sự tham gia của cô Nguyễn Thanh Phượng, con gái của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người cũng là trưởng ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng Trung ương.

Mặc dù giới chức Việt Nam khẳng định bầu Kiên bị bắt vì liên quan đến những vi phạm pháp luật tại ba công ty từ nhân của mình, nhưng với khối tài sản khổng lồ và mối quan hệ mà bầu Kiên tạo dựng được, dư luận chung cho rằng đây là một vụ án tham nhũng, hối lộ cỡ lớn. Ông Lê Hiếu Đằng nhận xét:

Thực ra những tài sản mà những tay đại gia đó có được là xuất phát từ ba nguồn: một là buôn lậu, hai là tham nhũng, tham nhũng qua hối lộ, ba là từ buôn bán đất đai của người dân.

 

Giáo sư Carl Thayer, thuộc học viện quốc phòng Úc trong bài viết về vụ bắt giữ bầu Kiên đăng tải trên website của ông cho rằng ‘ không ai ở Việt Nam có được tài sản lớn mà không có quan hệ mật thiết với các thành viên quyền lực của đảng cộng sản Việt Nam. Không ai có tầm cỡ như ông Kiên có thể bị bắt mà không có chuẩn thuận chính trị từ các cấp cao nhất’.

Vụ bắt giữ bầu Kiên xảy ra trong giai đoạn Đảng Cộng Sản đang thực hiện một họat động chính trị quan trọng là phê và tự phê trong các tầng lớp lãnh đạo của đảng từ trung ương đến địa phương. Mục tiêu của chiến dịch này là xác định các sai sót trong một số lĩnh vực và chống tham nhũng. Chiến dịch này được triển khai sau hội nghị lần thứ 5 ban chấp hành trung ương đảng khóa 11 diễn ra hồi tháng 5 vừa qua. Tại hội nghị này, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhìn nhận ‘tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp hơn, gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước’.

« Theo tôi động thái bắt bầu Kiên là trước hết chứng tỏ với dân Việt Nam là các lãnh đạo đang ra tay đây.
Ông Lê Hiếu ĐằngĐể đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng, ban chấp hành trung ương đảng đã quyết định lập ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng trực thuộc bộ chính trị, thay vì đặt ban này dưới sự chỉ đạo của thủ tướng như trước kia. Theo đánh giá của giáo sư Carl Thayer thì đây được coi là một bước nhằm giảm bớt quyền lực quá lớn trong tay thủ tướng, phá vỡ mạng lưới gây ảnh hưởng của thủ tướng vốn đang bị chỉ trích là tham nhũng. GS Carl Thayer nói:

Điểm tích cực trong vụ này là trong 10 năm qua Đảng Cộng Sản đã luôn nói tham nhũng là mối nguy cho sự tồn vong của đảng, nhưng cho đến giờ họ vẫn chưa thành công trong việc giải quyết nạn tham nhũng. Chiến dịch phê và tự phê mà họ đang tiến hành, chiến dịch chống tham nhũng, xem xét hệ thống ngân hàng là những vấn đề mà các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà kinh tế nội địa đánh giá Việt nam rất thấp  là những gì họ cần phải làm. Và trong trường hợp này, thủ tướng là người bị xác định là có quá nhiều và dường như là mạng lưới của ông ta đang phải chịu trận. Cho nên điều tích cực là nếu Việt Nam đạt được dù chỉ là một cải thiện rất nhỏ thì nó cũng có thể chỉ ra được những nguyên nhân về cấu trúc.

 

Hiệu quả tới đâu?

Ông Nguyễn Đức Kiên Thế nhưng thể chế chính trị lại đặt ra sự nghi ngờ về hiệu quả của cuộc chiến chống tham nhũng mà Đảng Cộng Sản đang kêu gọi. Ông Lê Hiếu Đằng nhận xét:

Phải có tòa án độc lập, những cơ quan chống tham nhũng độc lập thì mới có thể chống tham nhũng được. Chứ kiểu thế này không thể chống tham nhũng được. Vì đưa về cơ quan đảng thì vừa rồi mấy ông tham nhũng đều là đảng viên hết, từ cấp phường, đến huyện, đến thành phố đều là đảng viên hết.

Nếu chuyển cơ chế qua đảng mà không có cơ chế để người dân giám sát đảng và nhà nước thì tôi cho rằng cũng không có hiệu quả. Tôi cho rằng sẽ đi lại vết xe đổ, tình trạng tham nhũng sẽ kéo dài, sẽ xuất hiện những bầu Kiên mới, những đại gia mới, và như vậy làm cho nền kinh tế kiệt quệ và người thiệt hại nhất là người dân.

Để phát hiện tham nhũng, báo chí cũng cần phải được vào cuộc. Và tất nhiên, vụ bắt giữ bầu Kiên cũng được báo chí Việt Nam đưa tin. Tuy nhiên với những kinh nghiệm từ các vụ việc trong quá khứ như PMU 18, hay vụ in tiền polymer, người ta hoàn toàn có thể lo ngại về những sự cấm đoán có thể xảy ra với báo chí đối với vụ nhạy cảm này. Giáo sư Carl Thayer giải thích:

« Nếu chuyển cơ chế qua đảng mà không có cơ chế để người dân giám sát đảng và nhà nước thì tình trạng tham nhũng sẽ kéo dài, sẽ xuất hiện những bầu Kiên mới, những đại gia mới...


Ông Lê Hiếu Đằng

Hiển nhiên là một người có quyền lực rất cao trong đảng phải chấp thuận cho bài viết đầu tiên về vụ việc này trên báo và những gì mà chúng ta thấy từ quá khứ là cái gì đã xảy ra thì sẽ đến một lúc họ nói với báo chí là đủ rồi đó vì vụ này bắt đầu mở rộng vào mạng lưới và như vậy là anh sẽ có những hậu quả khôn lường với những khoản tiền và các lĩnh vực khác có tham nhũng bị lộ diện và sẽ có lúc vượt khỏi tầm kiểm soát.

Vụ bắt bầu Kiên dù đã trôi qua được hơn 1 tuần, nhưng dư âm của vụ việc này sẽ vẫn còn tiếp diễn. Có nhiều dự đoán cho rằng sẽ có những người khác nữa trong mạng lưới các đại gia quyền lực ở Việt nam bị bắt giữ. Tuy nhiên ai sẽ bị bắt, và tội danh thế nào thì lại phụ thuộc rất nhiều vào nỗ lực chống tham nhũng thực sự của đảng.

 

 

Giải trình về chống tham nhũng: Khó phát hiện vì người tham nhũng... có chức vụ

Đa số các đại biểu bày tỏ sự không hài lòng đối với việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng của các bộ ngành chức năng trong phiên giải trình tại Ủy ban Tư pháp của Quốc hội hôm qua, 18.7.
Phiên giải trình tập trung vào trách nhiệm của 4 cơ quan được coi là “chủ công” trong mặt trận phòng chống tham nhũng, gồm: Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước (KTNN), Bộ Tài chính và Bộ KH-ĐT.    
Người dân, báo chí không được đào tạo bài bản về điều tra nhưng họ lại là những người phát hiện cho cơ quan nhà nước rất nhiều vụ việc tham nhũng. 


ĐB Huỳnh Nghĩa (Đà Nẵng) phát biểu: “Báo cáo của Thanh tra Chính phủ cho biết trong giai đoạn 2009 đến 2012, ngành thanh tra đã phát hiện và chuyển cơ quan điều tra (CQĐT) hàng trăm vụ nhưng chủ yếu là những vụ nhỏ lẻ, những vụ lớn thì chưa thấy nói. Các vụ đã chuyển thì không rõ cơ quan thanh tra có theo dõi và biết xử lý ra làm sao. Đây là những vấn đề cần phải làm rõ cho cử tri cả nước biết, nếu không người dân sẽ mất lòng tin rất lớn”.

“Nghiệm thu khống 3 tỉ đồng không khởi tố có đúng không?”

Trong khi đó, ĐB Đỗ Văn Đương (TP.HCM) đặt vấn đề về chất lượng phát hiện tham nhũng của KTNN cũng như sự phối hợp của cơ quan chức năng, khi trong 3 năm gần đây cơ quan này đã phát hiện sai phạm về kinh tế rất lớn nhưng chỉ chuyển hồ sơ 5 vụ cho CQĐT, trong đó có 1 vụ cơ quan công an ra quyết định không khởi tố, 1 vụ trả lại hồ sơ.  “Đối với sai phạm tại dự án cung cấp nước sạch ở Hưng Yên, kiểm toán phát hiện nghiệm thu khống 3 tỉ đồng chuyển hồ sơ sang CQĐT nhưng cơ quan công an không khởi tố vì sai phạm được khắc phục, tài sản nhà nước không bị thất thoát, như vậy có đúng không?”, ông Đương đặt vấn đề.

 

Đánh giá về báo cáo của các bộ ngành, nhiều đại biểu bày tỏ thất vọng khi một số lĩnh vực được coi là khá nhạy cảm về tham nhũng nhưng lại không phát hiện được vi phạm. ĐB Trần Thị Dung (Điện Biên) bày tỏ nghi ngại khi báo cáo cho biết trong giai đoạn 2006 - 2011 không phát hiện ra hành vi tham nhũng trong các ngành tài nguyên môi trường, tổ chức cán bộ. Trong khi, theo bà Dung: “Đây là hai lĩnh vực vô cùng nhạy cảm”, với nhiều than phiền của người dân về tình trạng nhũng nhiễu, hối lộ.

Đề cập đến trách nhiệm của Bộ KH-ĐT, ĐB Huỳnh Nghĩa đặt câu hỏi việc phát hiện, xử lý tham nhũng ở ngành này liệu đã đúng thực chất hay chưa, trong khi đây vốn là lĩnh vực có nhiều nguy cơ phát sinh tham nhũng thể hiện qua một số khâu như phân bổ vốn đầu tư, đấu thầu, quản lý sử dụng nguồn vốn ODA...

Báo cáo do đại diện của Bộ KH-ĐT trình bày trước đó cũng cho biết, từ 2009 đến tháng 4.2013, thanh tra bộ phát hiện các vụ việc vi phạm về kinh tế trị giá gần 37 tỉ đồng với 115 người vi phạm, trong đó xử lý hành chính 25 trường hợp với tổng số tiền phạt 165 triệu đồng, không có trường hợp nào bị xử lý hình sự.

ĐB Trần Thị Quốc Khánh (TP.Hà Nội) cảm thán: “Người dân, báo chí không được đào tạo bài bản về điều tra nhưng họ lại là những người phát hiện cho cơ quan nhà nước rất nhiều vụ việc tham nhũng”.


Trên 1.000 người... vẫn còn ít

Trong phần giải trình, đại diện các bộ ngành không đi sâu vào từng câu hỏi của đại biểu mà tập trung theo từng nhóm vấn đề.

Tổng thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh thẳng thắn thừa nhận: 522 vụ tham nhũng với trên 1.000 người có hành vi tham nhũng mà ngành đã phát hiện từ năm 2009 đến nay vẫn còn ít hơn so với thực trạng. Về nguyên nhân, ông Tranh nói đối tượng tham nhũng thường là những người có chức vụ, quyền hạn, trình độ, có khả năng che giấu hành vi vi phạm. Nhiều trường hợp để chứng minh động cơ vụ lợi trong việc cố ý làm trái, thiếu trách nhiệm còn khó khăn. Thậm chí, nhiều nơi người đứng đầu ngành, địa phương chưa thực sự tích cực chỉ đạo chống tham nhũng, việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu chưa nghiêm. Đặc biệt, trách nhiệm giải trình của người có chức vụ, quyền hạn chưa rõ ràng; công khai, minh bạch ở đơn vị còn hình thức, đối phó. Bên cạnh đó, còn có nguyên nhân trình độ cán bộ thanh tra hạn chế. Tuy nhiên, ông Tranh cũng cho biết ngành thanh tra đang cố gắng đổi mới hoạt động, trong đó, đối với các cuộc thanh tra sẽ thực hiện theo hướng không cần đợi đến khi kết luận mà chỉ cần có dấu hiệu thì lập tức chuyển hồ sơ cho CQĐT.

 

Đến lượt mình, người đứng đầu KTNN Nguyễn Hữu Vạn cũng nhìn nhận kết quả của ngành kiểm toán chưa đáp ứng với kỳ vọng nhân dân.  Lý giải việc có quá ít vụ việc chuyển sang CQĐT, ông Vạn cho rằng do đặc thù hoạt động của ngành không đủ điều kiện để làm rõ các dấu hiệu, hành vi sai phạm như CQĐT. Mặt khác, do trình độ nghiệp vụ và chế tài nên kiểm toán nhiều khi vẫn có thể bị qua mặt bởi các đối tượng làm giả hóa đơn chứng từ. Ông Vạn cũng thừa nhận còn có một số cán bộ kiểm toán làm chưa tốt chức trách được giao và hứa xử lý nghiêm đối với bất cứ sai phạm nào của kiểm toán viên. “Chúng tôi có nghe nói về hiện tượng nhưng bằng chứng thì rất khó. Vì vậy, chúng tôi mong được chỉ mặt điểm tên những cán bộ sai phạm và sẵn sàng xử lý để làm trong sạch đội ngũ”, ông Vạn nói.


Quy mô các vụ tham nhũng ngày càng lớn

Theo Thanh tra Chính phủ, năm 2012 phát hiện 89 vụ, 107 người có hành vi tham nhũng với số tài sản hơn 104 tỉ đồng; kiến nghị xử lý hành chính 2 tập thể, 56 cá nhân, chuyển CQĐT 24 vụ, 42 người, xử lý trách nhiệm 20 người đứng đầu... Các vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện chủ yếu ở cấp cơ sở. Số vụ việc tham nhũng phát hiện và xử lý thông qua công tác thanh tra, kiểm tra còn ít. Quy mô các vụ tham nhũng ngày càng lớn, thể hiện ở số đối tượng liên quan, lượng tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát, xu hướng liên kết, hình thành tổ chức phạm tội trong các khu vực, lĩnh vực kinh tế ngày càng tăng, tính chất ngày càng tinh vi, phức tạp, có sự móc nối, câu kết của nhiều loại đối tượng, với nhiều phương thức thủ đoạn che giấu hành vi phạm tội. Tham nhũng đang diễn ra phức tạp tại nhiều lĩnh vực “nóng” như: tín dụng, ngân hàng, quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản...
 


UB Kinh tế đề xuất cần thay đổi tư duy. Bởi một số nhóm lợi ích đã lợi dụng tư duy “kinh tế nhà nước là chủ đạo” khiến môi trường kinh doanh thiếu cạnh tranh bình đẳng.
Báo cáo chỉ rõ, trong khi về hình thức luôn nhấn mạnh kinh tế nhà nước là chủ đạo thì các công ty sân sau của con, cháu, thân quen của lãnh đạo các cấp lại đều là kinh tế tư nhân.
 Chính các công ty sân sau này đang đem lại lợi nhuận hợp pháp cho tư nhân, còn phần lỗ để cho công ty nhà nước gánh chịu. Việc dùng các tập đoàn kinh tế, công ty nhà nước để bù lỗ, ổn định giá đều quá tốn kém, không hiệu quả và bị chia chác trong “lợi ích nhóm”.
Theo bản báo cáo, thực tế mất ổn định kinh tế vĩ mô suốt thời gian qua hoàn toàn bác bỏ vai trò là công cụ ổn định kinh tế vĩ mô của các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước. “Nếu luôn xem đây là công cụ hữu hiệu để ổn định kinh tế vĩ mô thì tại sao tình hình mất ổn định lại gay gắt, kéo dài như hiện nay?”, nhóm chuyên gia nêu câu hỏi.


Chính tư duy coi kinh tế nhà nước là chủ đạo đã dẫn đến sự chèn ép với khu vực kinh tế tư nhân. Và khu vực kinh tế này cũng phải tìm cách sinh tồn.
Các doanh nhân thay vì lo đầu tư kinh doanh thì lại chăm chỉ đầu tư thời gian, tiền bạc để thiết lập và duy trì các mối quan hệ. Phải lo đến thăm người bệnh, dự đám giỗ, đám tang, đám cưới, chúc tết các quan chức lớn, nhỏ… để giữ quan hệ.

Chuyện mua bán quan hệ như vậy đã dẫn đến sự ra đời và lớn mạnh nhanh chóng của những đại gia tư nhân lớn, nhỏ ở Việt Nam. Những người phất lên nhanh chóng không do tiến bộ khoa học, công nghệ, năng suất lao động hay đóng góp cho phát triển kinh tế mà chủ yếu do khai thác tài nguyên đất đai, khoáng sản…
“Những đại gia này mặc nhiên tự cho mình có những đặc quyền riêng, trong không ít trường hợp thiếu tôn trọng pháp luật và lợi ích người lao động. Sự phát triển lệch lạc này của khu vực kinh tế tư nhân rất không bền vững”, báo cáo mô tả.


Sau khi cảnh báo các mối nguy trên, nhóm chuyên gia kiến nghị các giải pháp cải cách thể chế mạnh mẽ để các nguồn lực được phân bổ hiệu quả hơn, góp phần vào thành công của tái cơ cấu kinh tế. Chẳng hạn, thiết kế cơ chế giám sát.
Tất cả các cấp, các cơ quan đều phải được giám sát chặt bởi một hay nhiều thể chế độc lập. Cần lập cơ quan phòng chống tham nhũng độc lập với Chính phủ, hoạt động theo luật pháp dưới sự giám sát của Quốc hội.

 

 

'Tham nhũng ở Việt Nam vừa tinh vi vừa trắng trợn'
Theo đánh giá của Tổ chức minh bạch quốc tế, Việt Nam thuộc nhóm nước tham nhũng nghiêm trọng. Năm 2011 có những tiến bộ nhất định nhưng vẫn là những nước có điểm số thấp và đứng ở phía cuối bảng xếp hạng.
Tại Hội thảo "Vai trò của Quốc hội trong phòng chống tham nhũng" do Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức, Phó chánh Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng Lê Văn Lân có bài tham luận. Bài viết được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, VnExpress xin trích giới thiệu:

Ở Việt Nam cũng như các nước khác, việc đánh giá chính xác về tình hình tham nhũng diễn ra trong thực tế là rất khó khăn, vì tham nhũng cũng giống như một tảng băng trên biển, chỉ có thể nhận biết được phần nổi qua những vụ việc đã được phát hiện, xử lý. Thông qua kết quả phát hiện, xử lý các vụ việc tham nhũng trong những năm qua và căn cứ việc đánh giá của các cơ quan chức năng, Đảng và Nhà nước đã khẳng định tình hình tham nhũng ở Việt Nam là nghiêm trọng.

 

Trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tham nhũng chủ yếu diễn ra trong việc quy hoạch; chuyển đổi mục đích sử dụng đất; thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị; giao đất, cho thuê đất; định giá đất khi thu hồi, đền bù; cấp phép khai thác tài nguyên, khoáng sản… Một số người đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để giao đất không đúng thẩm quyền; lập hồ sơ khống hoặc khai tăng diện tích đất khi đền bù. Điển hình là vụ lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ xảy ra tại dự án phát triển cơ sở hạ tầng đô thị Bắc Thăng Long - Vân Trì (Hà Nội) thiệt hại ước tính khoảng 14 tỷ đồng; vụ lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ xảy ra tại huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, gây thiệt hại gần 11 tỷ đồng; vụ tham nhũng về đất đai tại Đồ Sơn và tại Quán Nam, thành phố Hải Phòng...

Dư luận cho rằng việc cấp đất cho các dự án đều có hiện tượng bôi trơn cho những người có thẩm quyền (vụ Công ty Phát triển nhà tỉnh Bạc Liêu; vụ Nguyễn Văn Khỏe, Chủ tịch UBND huyện Hóc Môn, TP HCM nhận hối lộ để cấp đất sai quy định).

Trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng nổi lên tình trạng tham nhũng, tiêu cực của một bộ phận cán bộ trong ngành ngân hàng, nhất là các ngân hàng thương mại hoặc cán bộ trong ngành ngân hàng tiếp tay, móc nối với người bên ngoài thông qua các hoạt động cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, đầu tư tài chính, ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư… để chiếm đoạt tài sản, gây thất thoát lớn. Ví dụ như vụ Lê Hoài Phương, cán bộ Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, chi nhánh Cầu Giấy (Hà Nội) tham ô 24 tỷ đồng; vụ Phan Văn Tưởng, cán bộ Ngân hàng Techcombank cùng các đồng phạm tham ô trên 10 tỷ đồng; vụ Đoàn Tiến Dũng, Phó Tổng giám đốc Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam nhận của khách hàng 5 tỷ đồng, là khoản trích 3-10% trong số tiền mà khách hàng được vay của ngân hàng này; vụ Nguyễn Thị Thùy Vân tham ô hơn 24 tỷ đồng ở Ngân hàng cổ phần Thương mại Sài Gòn; vụ Hoàng Thị Thu Hà, Giám đốc chi nhánh miền Bắc của Tổng công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ gây thất thoát 19 tỷ đồng; vụ Vũ Việt Hùng, Giám đốc ngân hàng Phát triển chi nhánh Đắk Lắk - Đắk Nông, nhận 92 tỷ đồng, 100.000 USD và một ôtô BMW của Cao Bạch Mai và Trần Thị Xuân để cho vay không đúng quy định...

 

Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản phần lớn các công trình xây dựng đều xảy ra thất thoát tài sản, chủ yếu do tham ô và cố ý làm trái. Sai phạm xảy ra ở hầu hết các khâu, từ việc lập dự án, thiết kế, dự toán, phê duyệt kế hoạch cấp vốn đến đấu thầu, tư vấn, giám sát, thi công, nghiệm thu, quyết toán công trình. Thủ đoạn chủ yếu là không chấp hành đúng trình tự, thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản; gian lận, thiếu minh bạch trong đấu thầu; khai khống khối lượng và giá trị vật tư, thiết bị; đưa vật liệu kém chất lượng, sai quy cách vào sử dụng; thi công sai quy trình để giảm chi phí...

Điển hình như vụ tham ô, cố ý làm trái và lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ xảy ra tại Ban quản lý dự án di tích lịch sử chiến thắng Điện Biên Phủ; vụ Huỳnh Ngọc Sĩ, Giám đốc Ban quản lý dự án đại lộ Đông - Tây, TP HCM nhận hối lộ 260 nghìn USD để xét thầu, nghiệm thu có lợi cho người đưa hối lộ; vụ tham ô xảy ra tại dự án xây dựng cầu Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh...

 

Trong việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp, thủ đoạn tham nhũng chủ yếu là giấu bớt và định giá trị tài sản, đất đai thấp hơn giá trị thực khi cổ phần hóa hoặc bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp; lập các hợp đồng mua bán, vận chuyển hoặc hóa đơn khống để chiếm đoạt; nâng khống giá hoặc gửi giá khi mua bán tài sản công để trục lợi. Ví như vụ Nguyễn Bi, Chủ tịch Hội đồng quản trị, kiêm Tổng giám đốc và Nguyễn Thanh Huyền, Phó Tổng giám đốc, kế toán trưởng của Công ty Vifon - TP HCM, đã lập chứng từ khống chiếm đoạt hơn 20 tỷ đồng và không thu về cho công ty 59,9 tỷ đồng nhằm chiếm đoạt khi cổ phần hóa công ty này; vụ Trần Văn Khánh, Tổng Công ty Vật tư nông nghiệp tham ô, cố ý làm trái, gây thiệt hại nhiều tỷ đồng; vụ Công ty xăng dầu Hàng không khai khống tỷ lệ dầu hao hụt nhằm chiếm đoạt hàng chục tỷ đồng; vụ Công ty cho thuê tài chính II thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn nâng khống giá thiết bị lặn từ 100 triệu lên 130 tỷ đồng...

 

Trong công tác cán bộ, dư luận về tình trạng “chạy chức, chạy quyền, chạy công chức” vẫn còn nặng nề, nhưng trong thực tế chưa phát hiện, xử lý được trường hợp nào. Dư luận nói nhiều đến hiện tượng một số cán bộ tiến thân bằng con đường chạy chọt, nịnh bợ cấp trên (tìm hiểu sở thích, nhu cầu cá nhân của cấp trên và gia đình họ để tìm cách đáp ứng; sẵn sàng biếu cấp trên những món quà có giá trị lớn như nhà ở, đất ở, cổ phần trong các dự án, công ty...).

Nhiều người nói rằng, hiện nay mọi thứ đều “có giá”, từ việc tuyển dụng, phân công công việc đến bổ nhiệm, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ. Báo chí đã đưa tin về 2 trường hợp cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh nhận quà, nộp lại quà và sử dụng quà tặng không đúng quy định, là ông Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau và ông Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng (trước đây).

Trong lĩnh vực tư pháp, hành vi tham nhũng chủ yếu là cán bộ tư pháp lợi dụng chức vụ, quyền hạn để nhận hối lộ nhằm bỏ lọt hoặc giảm nhẹ tội phạm trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Ví như vụ Vũ Văn Lương, thẩm phán quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) nhận hối lộ 70 triệu đồng trong vụ tranh chấp 2,7 m2 công trình phụ; Hà Công Tuấn, thẩm phán TAND tỉnh Quảng Ninh bị bắt quả tang nhận hối lộ 200 triệu đồng nhằm xử nhẹ tội cho bị cáo…

 

Ngoài những lĩnh vực trên, tình trạng nhũng nhiễu còn khá phổ biến trong quan hệ giữa cơ quan nhà nước và công chức nhà nước với người dân và doanh nghiệp, giữa nhân viên các cơ sở dịch vụ công với khách hàng, như: cảnh sát giao thông, cán bộ thuế, các cơ quan cấp phép, cơ sở khám, chữa bệnh, các trường học… gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Theo đánh giá của Tổ chức minh bạch quốc tế (TI) Việt Nam thuộc nhóm nước tham nhũng nghiêm trọng. Năm 2011 có những tiến bộ nhất định nhưng Việt Nam vẫn là những nước có điểm số thấp và vẫn đứng ở phía cuối bảng xếp hạng. Theo TI, ở châu Á, tình hình tham nhũng ở Việt Nam nghiêm trọng hơn so với Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Brunei, Malaysia, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia... nhưng ít nghiêm trọng hơn Mông Cổ, Philippines, Lào, Nepal, Campuchia, Myanmar.

 

 

 

Việt Nam đối diện thách thức trong lúc cải tổ kinh tế dường như chậm lại

Các công ty quốc doanh chiếm tới 60% các khoản vay ngân hàng và giữ hơn một nửa các khoản nợ xấu của cả nước.

Sau chừng ba thập niên, nước này vẫn đang chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa", với quyền lực vẫn nằm trong tay Đảng Cộng sản.

Đất nước từng được coi như "Trung Quốc tiếp theo" do sự chuyển tiếp ổn định, nay bắt đầu tạo ra những quan ngại về cuộc khủng hoảng nợ đang dần hiện ra.

 

Với Việt Nam, sự thống trị của các doanh nghiệp quốc doanh vẫn là vấn đề, tuy đã gần ba thập niên kể từ sau công cuộc "đổi mới" theo định hướng thị trường.

Việt Nam có cùng vấn đề như Trung Quốc, đó là các doanh nghiệp quốc doanh lại chính là nguồn cơn của các khoản nợ xấu có thể nhấn chìm hệ thống ngân hàng.

Việt Nam đã thành lập các công ty quản lý tài sản nhằm nhận các khoản nợ xấu từ các ngân hàng quốc doanh chuyển sang hồi đầu năm nay.

 

Mô hình Trung QuốcĐây là điều tương tự như những gì Trung Quốc làm hồi 1999, khi nước này thành lập bốn công ty như vậy nhằm dọn dẹp sổ sách của bốn ngân hàng quốc doanh lớn trước khi mở cửa ngành ngân hàng nhằm tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2001.

 

Thế nhưng vấn đề nằm ở chỗ nợ xấu không chỉ là khoản ghi sổ, mà là dòng lưu thông.

Nói cách khác thì các khoản nợ lũy kế cứ kéo dài trong các doanh nghiệp quốc doanh chính là vấn đề.

"Trung Quốc hồi giữa thập niên 1990 đã có bước đi lớn nhắm cắt bỏ nhiều công ty nhà nước. Một lượng lớn các công ty nhà nước đã bị dẹp, đưa con số từ khoảng 10 triệu xuống còn chưa tới 300.000 công ty vào cuối thập niên này."
Trung Quốc hồi giữa thập niên 1990 đã có bước đi lớn nhắm cắt bỏ nhiều công ty nhà nước. Một lượng lớn các công ty nhà nước đã bị dẹp, đưa con số từ khoảng 10 triệu xuống còn chưa tới 300.000 công ty vào cuối thập niên này.

Trung Quốc vẫn có mảng quốc doanh lớn, nhưng đã có nỗ lực đáng kể nhằm cắt giảm các khoản nợ xấu bằng cách tăng tính hiệu quả của các công ty được nhà nước hỗ trợ còn lại.

 

Điều này được thực hiện bằng cách tư hữu hóa từng phần hoặc cổ phần hóa các hãng quốc doanh lớn, kể cả ngân hàng.

Tất nhiên, Trung Quốc đã tạo ra những vấn đề khác cho chính mình khi dùng hệ thống ngân hàng để tài trợ phần lớn cho chính sách thúc đẩy tài chính lớn, qua đó thúc đẩy kinh tế trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hồi 2008.

Việt Nam đã cam kết cải tổ các doanh nghiệp quốc doanh, nhưng tiến độ nhanh tới mức nào thì lại là chuyện khác. Chẳng hạn, Ngân hàng Thế giới nói rằng bất chấp mục tiêu bán cổ phần của 93 công ty nhà nước hồi năm ngoái, việc bán thực sự chỉ được thực hiện tại 12 công ty.

 

Tiến trình chậm trễCâu hỏi đặt ra tại sao việc cải tổ lại diễn ra chậm đến vậy.

Như tôi đã đề cập ở trên, Việt Nam được coi là một Trung Quốc tiếp theo, do sự chậm chạp tương tự trong việc xử lý nền kinh tế.

Đây cũng là một quốc gia tương đối lớn, không đông như Trung Quốc 1,3 tỷ người, nhưng cũng có gần 90 triệu dân, đứng thứ 13 trên toàn thế giới.

Và cũng giống như Trung Quốc, Việt Nam đã quyết định không đi theo hướng "liệu pháp sốc". Đó là điều mà Liên bang Xô viết trước đây làm khi chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung hồi giữa thập niên 1990.

Thay vào đó, các quốc gia ở Á châu đã từ từ giới thiệu sức mạnh thị trường, như cho phép các công ty không thuộc sở hữu nhà nước hoạt động, để các chính phủ cộng sản có thể từ từ cải tổ mảng quốc doanh.

Nhìn vào thời gian suy thoái kéo dài cả thập niên mà Nga và các nước Đông Âu phải trải qua sau thời kỳ chuyển đối gấp gáp, có lẽ người ta không mấy ngạc nhiên khi Trung Quốc và Việt Nam có vẻ như đang áp dụng những điều khôn khéo.

Tuy nhiên, có một trở ngại quan trọng cho công cuộc cải tổ ở cả hai nước này.

Người ta có thể lập luận rằng để tiến hành quá trình chuyển đổi gấp gáp sang nền kinh tế thị trường thì một quốc gia cần phải loại bỏ bàn tay kém hiệu quả của nhà nước.


Hệ thống ngân hàng VN đang phải gánh nhiều nợ xấu của các công ty quốc doanh
Quyền lợi được đảm bảoNó cũng bao gồm việc ngăn chặn các nhóm lợi ích và các căn cứ quyền lực của những đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ việc cải tổ. Họ có thể đón trước được những cải tổ tiếp theo.

Tất nhiên, có những vấn đề trong quá trình chuyển đổi ở Nga và các nước khác, trong đó có cả sự trông chờ không thực tế rằng một nền kinh tế tư nhân sẽ nắm thế chủ đạo một khi nền kinh tế quốc doanh bị gỡ bỏ.

Trung Quốc đã thực hiện điều được gọi là cải tổ "từ dễ đến khó". Tức là thực hiện các bước cải tổ đơn giản về mặt chính trị trước, chẳng hạn như ưu đãi cho các mặt hàng nông sản trước, và để các vấn đề khó hơn lại, làm sau.

Và những quyền lực mới đã bắt đầu khiến cho các bước cải tổ tiếp theo càng thêm khó khăn.

Với Việt Nam thì việc cải tổ có vẻ như sa lầy do sự bất tài của những người điều hành các công ty nhà nước trong việc tư hữu hóa công ty ít nhất là từng phần, nếu không phải là toàn phần.

Nói cách khác, những người vốn được hưởng lợi từ việc thị trường hóa nền kinh tế nay đang kẹt trong các công ty làm ăn kém hiệu quả của mình, tạo gánh nặng cho hệ thống ngân hàng.

Nợ chính phủ của Việt Nam hiện chiếm khoảng 50% GDP, và đáng nói là có khoảng 37% là nợ nước ngoài.

Rồi khi các khoản nợ của các công ty nhà nước được cộng vào thì tổng nợ tăng gấp đôi, lên mức 100%. Đó là những con số thống kê làm gióng lên những hồi chuông báo động về nguy cơ khủng hoảng.

Để tránh khủng hoảng, Việt Nam cần phải cắt bỏ gánh nặng từ các công ty nhà nước, đồng thời cần đẩy nhanh việc tư hữu hóa.

Mà để làm được những điều đó, người ta cần đối phó với những nhóm lợi ích thủ cựu.

Với những nước áp dụng cải tổ, bài học là cải tổ chỉ thành công khi người ta đụng đến không chỉ vấn đề năng suất mà cả quyền lực. Với Việt Nam, đó có lẽ là một bài học khó nhằn.

 

 

 

From : Vietnam net , Thanh nien,Lê Văn Lân,.Linda Yueh (BBC),...

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



Publicité
Tag(s) : #Dư Luận Chính Trị VN
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :