Sự tự hào về quân sự của Trung Quốc có thể được sớm đưa vào thử nghiệm khi các căng thẳng mới với phía Việt Nam xảy ra ở vùng Biển Đông, sự kiện này diễn ra chỉ vài tuần sau một bế tắc kéo dài cả tháng với Philippines ở Scarborough Shoal. Việc đẩy mạnh chủ quyền còn tùy thuộc vào mức tự tin của các lãnh đạo Trung Quốc đối với sức mạnh quân sự của họ. Đây cũng có thể là tín hiệu mà Bắc Kinh đang cố gắng đưa ra nhằm nhắn với phía Hoa Kỳ không nên xen vào những tranh cãi ở châu Á.
Câu hỏi đặt ra là liệu của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc có phải là một con rồng giấy hay không, và câu trả lời thật sự hiện nay vẫn còn lẫn lộn. Trên lý thuyết, mức tăng trưởng quân sự của Trung Quốc đã bắt đầu gây sốt từ những năm 1990. Bắt đầu từ con số không dựa vào những công nghệ cũ thời thập niên 1950, và với khả năng không quân hoặc hải quân rất giới hạn, quân đội của Trung Quốc đã nhảy một bước xa và hiện là nước có quân sự mạnh thứ hai trên thế giới.
Ấn tượng nhất, Trung Quốc hiện nay có thể có các hoạt động ra ngoài châu lục này. Hải quân của họ có thể thực hiện các nhiệm vụ chống cướp biển ở ngoài khơi bờ biển châu Phi, trong khi các cơ quan tuần tra hàng hải khác của họ đều liên tục hiện diện trong vùng Biển Đông và Biển Hoa Đông. Bắc Kinh rõ ràng đang muốn đẩy mạnh dự án lực lượng hải quân, sau khi phát triển một hạm đội tàu ngầm gồm 70 chiếc và cho ra đời tàu sân bay đầu tiên trong năm nay.
Lực lượng không quân cũng đang được hiện đại hóa, trong đó Trung Quốc giới thiệu các máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư rất tiên tiến. Họ cũng từ từ tăng sự phức tạp trong hoạt động tập dượt, thêm các nhiệm vụ mạo hiểm vào ban đêm cũng như phối hợp những hoạt động chung các đơn vị bộ binh hay hải quân. Với một lực lượng hùng hậu, họ có khả năng với ra được hầu hết các hòn đảo đang có tranh chấp trong khu vực Biển Đông.
Sau đó họ còn có các tên lửa, tất cả các loại đó đều được biến thể như tên lửa đạn đạo liên lục địa đã phát triển từ thập niên 1990. Gần đây thì Trung Quốc đã gây thêm sự chú ý của thế giới với tên lửa đạn đạo chống chiến hạm DF-21, và tên lửa này có thể nhắm mục tiêu vào các tàu sân bay của Hoa Kỳ.
Vấn đề là những con số này chỉ nói lên một phần nhỏ của câu chuyện. Có thêm rất nhiều cuộc tranh luận về chất lượng lực lượng vũ trang của họ hơn so với số lượng hoặc tính chất hiện đại ở bề ngoài.
Đây là một số nghi ngờ về sức mạnh quân sự thật sự của Bắc Kinh. Lực lượng quân sự của Trung Quốc không được đào tạo nhiều như các đối thủ của họ ở phương Tây. Các phi công thì có rất ít giờ bay, trong khi lực lượng tàu ngầm lớn thì hiếm khi đi quá xa các cảng của họ. Và Trung Quốc cũng không có nhiều lực lượng sĩ quan chuyên nghiệp, vì đây là thành phần trụ cột của sức mạnh quân sự hiện đại.
Trong thực tế, hệ thống quân sự và các giao thức của Bắc Kinh rất yếu hoặc không ai biết đến. Các sĩ quan quân sự phương Tây từng được tiếp cận và lên những tàu hải quân của Trung Quốc cho biết rằng những tàu này vẫn còn lưu lại các hệ thống kiểm soát rất thô sơ, dẫn đến một số kết luận rằng các tàu này rất khó tồn tại trong một cuộc xung đột.
Trong khi đó, chúng ta không biết số lượng dự trữ vụ khí của phía Trung Quốc như thế nào. PLA có thể cạn đạn dược khá sớm trong một cuộc chiến. Chúng ta cũng không biết rõ về hệ thống chỉ huy và kiểm soát của Trung Quốc. Cuối cùng, có bằng chứng cho thấy rằng các đặc tính của quân đội Trung Quốc đều rất tương tự với quân đội Liên Xô, trong đó các giáo lý cứng nhắc đã loại bỏ ra những ý nghĩa sáng kiến từ phía chỉ huy ở chiến trường. Việc thiếu tính linh hoạt và đổi mới này có thể là điểm yếu lớn nhất trong ngành quân sự của Trung Quốc.
Những phía không thích Trung Quốc thường sử dụng các điểm này để chỉ ra những điểm yếu trong quân sự của Trung Quốc – và trong khi họ có thể đúng về những yếu kém đó thì mặt khác họ có thể chưa nắm rõ hết tình hình. Mặc dù quân đội Trung Quốc không thể so sánh tương đương với quân đội Hoa Kỳ trong thời gian tới (hoặc sẽ không bao giờ), nhưng sự tăng cường quân sự của Bắc Kinh không phải chi để thách thức sự thống trị của Mỹ.
Bắc Kinh còn có mục đích chính trị khác, đó là quyền bá chủ trong khu vực, và về điểm này thì có thể nói phần nào họ cũng cảm thấy hài lòng. Quân đội của Trung Quốc hiện nay rất lớn và có khả năng hơn so với bất kỳ quốc gia châu Á nào khác, bao gồm cả Nhật Bản. Và nguy cơ xung đột trong khu vực còn tùy thuộc vào mức độ tự tin của họ đối với khả năng quân sự của PLA. Tuần trước, để đáp lại việc Việt Nam đưa máy bay tuần tra ra Biển Đông, phía Bắc Kinh cũng tuyên bố đã bắt đầu “tuần tra sẵn sàng chiến đấu” gần các khu vực tranh chấp ở các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Phía Washington đang phải vật lộn làm thế nào để kiểm tra các tham vọng của Bắc Kinh trong khu vực này, nhưng hiện Hoa Kỳ cũng phải đối mặt với những vấn đề riêng của họ. Chỉ riêng vấn đề gìn giữ sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ ở châu Á cũng là một thách thức lớn lao. Hoa Kỳ có thể có năng lực để tăng thêm sự hiện diện ở châu Á, nhưng cho tới nay họ không có chiến lược quân sự để làm như vậy.
Những hùng biện từ phía Hoa Kỳ cho thấy họ đang hoạt động trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nhưng chỉ hành động mới có thể chứng minh được việc này. Vấn đề lớn nhất hiện nay là ngân sách của Lầu Năm Góc đang bị cắt giảm đáng kể. Nếu không, các chiến lược gia của Hoa Kỳ cũng từ chối đối phó với các tên lửa Trung Quốc có thể vô hiệu hóa các căn cứ của Mỹ ở nơi này. Hoa Kỳ cũng đã không bảo vệ đầy đủ và chống lại khả năng chiến tranh điện tử với Trung Quốc, hoặc xem xét liệu bảy căn cứ phi đội chuyển tiếp của Hoa Kỳ ở châu Á có đủ để chống lại mức gia tăng trong chương trình không gian vũ trụ của Trung Quốc hay không.
Nếu Hoa Kỳ mất khả năng hoạt động ở các tầm xa mang tính kịp thời và liên tục thì Trung Quốc có thể vô hiệu hóa khả năng quân sự của Hoa Kỳ một khi bước vào khu vực xung đột, hoặc làm cho Hoa Kỳ mất quyền kiểm soát các hoạt động tự do bên trong vùng chiến thuật. Điều đó sẽ giúp cho Bắc Kinh tiến đến mục tiêu bá quyền trong khu vực một cách dễ dàng hơn. Một con rồng giấy đôi khi cũng có thể tốt hơn là một con đại bàng bị mắc cạn.
Tình trạng nan giải của nhiều nước Đông Nam Á nếu họ phải một mình đối đầu với Trung Quốc.
Thật không có gì đáng ngạc nhiên, khi nhiều chính phủ trong khu vực đã hướng về Mỹ như một bức tường thành chống lại những bước lấn tới của Trung Quốc. Những chính phủ này nhìn nhận rằng thế siêu cường của Mỹ trong các vùng biển châu Á sẽ là sức mạnh quan trọng định đoạt thắng-thua cho những tham vọng của Trung Quốc. Về phần mình, Washington đã đưa ra những tuyên bố rất công khai về lợi ích của mình tại các vùng biển châu Á. Chiến lược “xoay trục” hay “tái quân bình lực lượng” hướng về châu Á đã tìm cách trấn an các nước trong khu vực rằng Mỹ sẽ không từ bỏ vai trò ổn định tình hình mà Mỹ vẫn giữ từ lâu.
Cũng may là, hiện nay vẫn còn có đủ thì giờ để các nước tăng cường tối đa sự đồng thuận về lợi ích chung và tổ chức một hành động đối phó hữu hiệu. Trung Quốc phải cần ít ra một thập kỷ nữa mới xây dựng được một lực lượng biển hùng hậu có sức đuổi Mỹ ra khỏi biển Đông trong khi tự do hà hiếp các nước Đông Nam Á. Hiện nay, Washignton có thể theo đuổi nhiều biện pháp nhằm đảm bảo rằng việc các nước trong khu vực chịu khuất phục trước tham vọng của Trung Quốc không phải là một chuyện đương nhiên
Một là, Washingtonvà đồng minh của mình phải tích cực giúp các quốc gia Đông Nam Á tự cứu mình. Các nước trong khu vực phải có một nội lực để đương đầu với các cuộc xâm lấn biển đảo đến từ Trung Quốc. Việc Mỹ chuyển giao cho Philippines những tàu tuần duyên chế tạo trong thập niên 1960 là một bước khiêm nhường đi đúng hướng. Thời điểm chuyển giao các tàu này hóa ra là một sự trùng hợp ngẫu nhiên: chiếc tàu Philippinesđầu tiên đã đáp ứng mệnh lệnh khi còn ở ngoài khơi của Bãi cạn Scarborough là kỳ hạm (flagship) BRP Gregorio del Pilar, vốn là chiếc Hamilton thuộc Cục Tuần duyên Mỹ trước đây. Nhưng, những chiếc tàu cũ được chuyển giao lại này không đáp ứng đủ nhu cầu củaManila. Việc Nhật Bản gần đây đề nghị bán choPhilippines 12 tàu tuần duyên mới toanh là một dấu hiệu khích lệ cho thấy các cường quốc bên ngoài đang tìm cách để chỉnh sửa cán cân lực lượng trong khu vực.
Hai là, Mỹ phải thúc đẩy sự phát triển một nỗ lực trên toàn khu vực để theo dõi các lực lượng biển Trung Quốc. Những hệ thống vệ tinh không người lái trên không, chẳng hạn, có thể cung cấp cho các quốc gia chung quanh biển Đông một bức tranh chung về vùng biển này. Bằng cách vận dụng những công nghệ như thế, một hệ thống chia sẻ thông tin có khả năng minh bạch hóa các vùng biển châu Á, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, sẽ là một tiến bộ lớn trong việc nâng cao lòng tự tin và khả năng ngăn chặn trong khu vực. Cũng nên ghi nhận rằng, chính quyền Tokyo lâu nay vẫn cung ứng một dịch vụ truyền tin cho toàn khu vực bằng cách công khai tường thuật chi tiết các tàu hải quân Trung Quốc đi qua các eo biển quốc tế và các hoạt động khác của Trung Quốc gần lãnh hải Nhật Bản.
Ba là, Mỹ phải vạch ra các kế hoạch để quân đội Mỹ có thể triển khai các đơn vị có trang bị vũ khí pháo kích trên biển, như các ổ tên lửa hành trình chống tàu chiến địch được đặt trên lãnh thổ bạn hay đồng minh. Nắm được phương án để nhanh chóng đưa thêm vào lãnh thổ các đồng minh những lực lượng phòng thủ, liền sau khi được thông báo, sẽ trấn an được các đồng minh của Mỹ trong thời bình, cũng như củng cố khả năng hành động có hiệu quả của Mỹ trong các giai đoạn có khủng hoảng. Những lực lượng tăng viện của Mỹ sẽ trấn an được tâm lý đồng thời nâng cao quyết tâm tự vệ của nước sở tại. Mỹ phải khuyến khích các nước bạn và đồng minh phát triển và tăng cường các phương án tác chiến trên biển của chính mình.
Sau cùng, Hải quân Mỹ phải duyệt xét lại những giả định đang thịnh hành về khả năng của mình trong việc khống chế các vùng biển quốc tế. Nhiều năm được thoải mái sau thời Chiến tranh lạnh đã phát sinh một tâm lý tự tin hão huyền, khiến Hải quân Mỹ dễ coi thường việc kiểm soát các biển. Cũng nên nói là, lần cuối cùng Hải quân Mỹ đã lâm trận với một kẻ thù đáng nể là tại Vịnh Leyte [Philippines] vào năm 1944. Khi Trung Quốc tiến quân ra biển, thì sẽ có một môi trường biển nguy hiểm hơn nhiều chờ đợi ở tương lai. Đối với một quân chủng đã lâu ngày quen thuộc với các vùng biển không tranh chấp, thái độ biết chấp nhận những nguy hiểm xảy đến cho hạm đội của mình sẽ là một ưu tiên khẩn thiết hơn bao giờ.
Tạo thành mạng lưới trong khu vực
Những biện pháp nói trên sẽ giúp tạo ra một thế phòng thủ được liên kết nhau và có nhiều tầng cấu trúc, một thế phòng thủ xuất phát từ chính các quốc gia trong khu vực. Là những quốc gia ở tuyến đầu, họ phải được tăng cường sức mạnh để có thể phản ứng trước nhất đối với các động thái của Trung Quốc ở trên biển. Việc chia sẻ thông tin giữa các quốc gia duyên hải sẽ nhấn mạnh sự mất còn của các quyền lợi chung trong những vùng biển quốc tế, đồng thời thúc đẩy một hành động tập thể. Một mạng lưới gồm các quốc gia biết cảnh giác trước những mưu mô của Trung Quốc sẽ có một cơ may tốt đẹp hơn trong việc ngăn chặn, và, nếu không làm được điều này, cũng phản ứng nhanh chóng hơn trước những hành động của Trung Quốc. Về phần mình, Mỹ sẽ phải cung cấp một hậu thuẫn chiến lược cho các quốc gia đối tác ở Đông Nam Á, bằng các phương tiện quân sự kín đáo, không để lại dấu vết, nhưng có khả năng tạo được cú đấm và được coi là biểu tượng mạnh mẽ cho sự cam kết của Mỹ đối với khu vực này.
Các nỗ lực làm gia tăng những chi phí và những rủi ro cho Trung Quốc, vì hành vi quyết đoán của nước này trong biển Đông, sẽ làm xáo trộn bài toán của Bắc Kinh, đồng thời khiến các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải suy nghĩ chính chắn trước khi hành động. Ngoài ra, khi các nước buộc Trung Quốc phải có thái độ thận trọng tức là họ đã hãm lại được đà tiến quân ra biển của Bắc Kinh, đồng thời làm tươi sáng viễn ảnh phục hồi thế quân bình trong khu vực và lấy lại thế chủ động chiến lược.
Toshi Yoshihara giữ ghế Chủ toạ John A. Van Neuren trong Chương trình nghiên cứu châu Á-Thái Bình Dương tại Trường Chiến tranh Hải quân Hoa Kỳ (the U.S. Naval War College). Bài báo này là một phiên bản được duyệt lại từ bản điều trần của Tiến sĩ Yoshihara trước Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ vào ngày 12 tháng Chín năm 2012. Quan điểm được trình bày ở đây là quan điểm riêng của tác giả.
Tàu sân bay Trung Quốc chỉ là mồi ngon của láng giềng
Trong số các vũ khí có thể đánh đắm tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc có cả tên lửa chống hạm 3M-54E được trang bị cho tàu ngầm lớp Kilo sắp được biên chế tại Việt Nam.
Bài báo cho biết, bất kể quốc gia nào khi muốn phát triển tàu sân bay thì trước tiên đều phải tính đến các vũ khí trên biển của đối phương giả tưởng và điều kiện tác chiến. Trong 30 năm tới, những nước mà Trung Quốc có thể xảy ra va chạm về quân sự đều là những nước có tiềm lực quân sự mạnh.
Uy hiếp trên không
Máy bay Su-30 của Việt Nam
Trước tiên phải kể đến hải quân Mỹ, thế hệ tiếp theo của chiến đấu cơ F-35C đã bắt đầu bay thử vào năm 2010, năm 2013 sẽ tiến hành thử nghiệm hạ cánh, cất cánh trên tàu sân bay. Loại chiến đấu cơ F-35B có thể hạ cánh thẳng đứng trên tàu đổ bộ đã được hải quân Mỹ chính thức đưa vào biên chế hồi tháng 11/2012.
Năm 2010, Ấn Độ bắt đầu tiếp nhận lô chiến đấu cơ MiG-29K trang bị cho tàu sân bay, hai tàu sân bay hiện có của Ấn Độ sẽ được tăng cường thêm MiG-29K.
Nếu tình hình tiến triển tốt, thì việc F-35B được chuyển giao cho Nhật Bản chỉ còn là vấn đề thời gian. Tàu khu trục mang trực thăng 22DDH của Nhật có thể đã được nâng cấp thành tàu sân bay thực thụ với lượng giãn nước 29000 tấn sẽ là bãi đáp cho những chiếc F-35B.
Lực lượng quân Mỹ luôn hiện diện ở khu vực Đông Á được trang bị những chiến đấu cơ có thể mang theo những tên lửa chống tàu hiện đại, bao gồm cả lợi tên lửa AGM-184 với tầm bắn lên đến 150km.
Bên cạnh đó, Việt Nam được các báo chí nước ngoài cho là trang bị chiến đấu cơ dòng "SU" nhiều nhất khu vực Đông Nam Á.
Trên biển
Bài báo chỉ viết: “Tàu Liêu Ninh mà tiến vào Ấn Độ Dương, thì sẵn có các vũ khí lợi hại của Ấn Độ chờ sẵn, vũ khí vô cùng đáng sợ của Ấn Độ là tên lửa chống tàu Brahmos”. Tên lửa Brahmos kiểu hạm đối hạm được phóng thẳng đứng với tầm bắn 290km, bay trên không với tốc độ siêu thanh, tốc độ lớn nhất có thể đạt là 2,8 Mach.
Có hai loại tên lửa Brahmos không đối hạm, là Brahmos-1 được chế tạo riêng cho chiến đấu cơ Su-30MKI, năm 2013 bắt đầu được thử nghiệm, tầm bắn của tên lửa này có thể lên hơn 300km. Với bán kính tác chiến 1500km, nếu trang bị thêm những tên lửa này, những chiếc Su-30MKI có thể tấn công hầu hết mọi điểm trên Ấn Độ Dương. Ngoài ra còn phải kể đến loại tên lửa Brahmos-3 chuyên dùng cho MiG-29K đang được nghiên cứu chế tạo thì có trọng lượng nhẹ hơn và tầm bắn xa hơn, lên đến 350km.
Tàu ngầm lớp Kilo 636 sắp được chuyển giao cho Việt Nam
Bên cạnh đó, hải quân Việt Nam và Ấn Độ được trang bị tàu ngầm lớp Kilo 636 của Nga, đây cũng là một mối đe dọa lớn cho tàu sân bay Trung Quốc. Những tàu ngầm này được trang bị tên lửa chống hạm 3M-54E với tầm bắn 220km với tốc độ 0,8Mach khi bay, và trong giai đoạn cuối trước khi chạm mục tiêu, nó có thể đạt tốc độ 2,9 Mach. Các tàu trên mặt nước của hải quân Ấn Độ còn được trang bị tên lửa hạm đối hạm 3M-54E1 phóng vuông góc, tầm bắn 300km, đạt tốc độ 0,8 Mach. Tất cả các tên lửa kể trên đều nhắm thẳng mục tiêu với tốc độ kinh hồn.
Trên bờ
Bài báo cho biết, hải quân Việt Nam đã nhập khẩu tên lửa đất đối hạm Ruby của Nga với tầm bắn lên đến 300km, đang xem xét đánh giá khả năng tác chiến của tên lửa Ruby trang bị cho các tàu hải quân. Hiện các tàu chiến loại lớn, tàu hộ vệ tên lửa của hải quân Việt Nam đã trang bị tên lửa hạm đối hạm Kh-35 với tầm bắn 130km.
Báo nước ngoài bàn về “cách chơi tàu ngầm” của Việt Nam
Theo tờ “Nhà Ngoại giao”, việc Hải quân Việt Nam sẽ được bổ sung hạm đội tàu ngầm gồm 6 chiếc Kilo mua từ Nga cho thấy Việt Nam cũng đang theo đuổi chiến lược “chống tiếp cận” và điều này khiến Biển Đông trở thành miền đất dữ đối với Hải quân Trung Quốc bất chấp họ có một tiềm lực mạnh hơn hẳn so với Việt Nam.
“Chiến thuật chống tiếp cận đang phát sinh rất nhiều phiên bản và Việt Nam cũng đang theo đuổi một phiên bản của riêng mình”, tác giả James R. Holmes, giáo sư ngành chiến lược của ĐH Hải quân Hoa Kỳ, chuyên nghiên cứu về chiến lược biển của Trung Quốc mở đầu bài báo đồng thời nhấn mạnh rằng trong khi các phương tiện khí tài, chiến thuật chống tàu ngầm của Trung Quốc vẫn còn đang trong giai đoạn rất lộn xộn và thiếu hụt thì hạm đội tàu ngầm này của Việt Nam sẽ biến Biển Đông trở thành “miền đất dữ” đối với hải quân Trung Quốc bất chấp họ đang sở hữu một lực lượng mạnh hơn Việt Nam rất nhiều.
Theo tác giả bài báo, tình hình Biển Đông hiện vẫn đang trong giai đoạn khá căng thẳng bởi những tuyên bố tham lam và hành động hiếu chiến của Trung Quốc nhằm hiện thực hóa mưu đồ độc chiếm gần như toàn bộ vùng biển này. Hành động này lập tức thổi bùng sự giận dữ của các quốc gia láng giềng và buộc những nước này phải tăng cường năng lực quốc phòng để bảo vệ chủ quyền của mình. Trong số những quốc gia đang bị Trung Quốc đe dọa, chiến lược phòng thủ của Việt Nam tỏ ra khôn ngoan và hiệu quả hơn cả, đặc biệt là chiến thuật “chống tiếp cận” theo kiểu Việt Nam.
“Rõ ràng, chiến thuật này của Việt Nam rất đáng để xem xét. Lực lượng chống tiếp cận hay các lực lượng phòng thủ của họ rất khó để cho đối phương có thể phá hoại. Nhờ lợi thế về địa hình, Việt Nam không cần phải rải mỏng lực lượng để chống tiếp cận từ nhiều phía. Thay vào đó họ chỉ cần “tựa lưng” để chống từ một phía. Với hạm đội tàu ngầm gồm 6 chiếc Kilo, khả năng chiến đấu trên biển của Việt Nam chưa đáng kể so với hải quân Trung Quốc, đặc biệt là khi nước này hoàn thiện các khả năng chống ngầm nhưng điều đáng nói là chiến thuật chống tiếp cận của Việt Nam vừa có thể sử dụng để phòng thủ, vừa có thể sử dụng để tấn công. Với sự hỗ trợ của các tàu ngầm, Việt Nam có thể phát hiện sớm mọi cử động của hải quân Trung Quốc tại căn cứ trên đảo Hải Nam”, tác giả James R. Holmes phân tích.
Tuy nhiên, chiến thuật “chống tiếp cận” của Việt Nam cũng gặp phải một số khó khăn bởi khu vực này vốn đã “chật hẹp” nay trở nên chật hẹp hơn nữa bởi một số quốc gia khác trong khu vực hay thậm chí cả Ấn Độ, Trung Quốc cũng có tàu ngầm Kilo và việc phân biệt bạn – thù trở nên rất phức tạp. Nếu Việt Nam không có biện pháp phát hiện và cảnh báo sớm, tác dụng của hạm đội tàu ngầm này sẽ giảm đáng kể nhưng chỉ cần một sai sót nhỏ (tấn công nhầm), thảm họa ngay lập tức sẽ xảy ra.
Ngay sau khi bài báo này được xuất bản, một cuộc tranh luận sôi nổi đã diễn ra giữa các độc giả đồng thời cũng là những người khá am hiểu về chiến lược quân sự và tiềm năng vũ khí.
Độc giả có tên John Chan cho rằng tác giả bài báo đã quá “ngây thơ và tâng bốc Việt Nam một cách quá đáng” đồng thời lạm dụng thuật ngữ “chiến thuật chống tiếp cận”. Theo John Chan, chiến thuật chống tiếp cận chỉ phát huy tác dụng khi một bên có tiềm lực yếu hơn nhưng lại sở hữu một số công nghệ độc quyền vượt trội hơn đối thủ có năng lực quân đội mạnh hơn. Điều này thể hiện khá rõ trong chiến thuật chống tiếp cận mà Trung Quốc đang sử dụng để chống lại sự hiện diện của Hoa Kỳ ở châu Á – Thái Bình Dương.
Với trường hợp của Việt Nam, các tàu ngầm Kilo mà nước này sắp có hoàn toàn không nổi trội hơn so với các tàu ngầm Kilo của Trung Quốc. Kể cả khi Trung Quốc không có công nghệ chống ngầm hiện đại, quốc gia này chỉ cần mang toàn bộ số tàu ngầm của mình ra “đấu tay đôi” thì hậu quả cũng trở nên rất thảm khốc.
Ý kiến của John Chan lập tức bị rất nhiều người khác phản đối dữ dội. Độc giả có nickname CMarrine nhận xét: “Đúng là 6 chiếc Kilo của Việt Nam không thấm tháp gì so với lực lượng hải quân Trung Quốc nhưng cần phải hiểu rằng đây chỉ là một phần trong liên minh ASEAN mà họ có thể sử dụng trong trường hợp cần phải bảo vệ chủ quyền hàng hải của khu vực. Bên cạnh đó, dù có thể không đủ sức để gây thiệt hại lớn cho phía Trung Quốc nhưng hạm đội Kilo này cùng với những công nghệ quân sự lợi hại khác như tàu tấn công nhanh, tên lửa hành trình chống hạm, máy bay không người lái… đang ngày trở nên rẻ hơn và dễ mua hơn khiến cho Trung Quốc phải vô cùng do dự với ý nghĩ sử dụng vũ lực ở Biển Đông”.
Một độc giả khác có tên là Anjaan phát biểu: “Ấn Độ đang đầu tư rất mạnh vào việc phát triển các công nghệ chống ngầm và nước này đã sẵn sàng để chia sẻ với Việt Nam – một đối tác chiến lược của Ấn Độ ở châu Á”.
Nhưng làm thay đổi cuộc chơi trong khu vực Đông Nam Á
Trước khi Việt Nam mua tàu ngầm Kilo, hải quân của các nước Đông Nam Á khác đã mua một vài tàu ngầm. Indonesia và Malaysia vẫn luôn phải đối mặt với khả năng yếu kém về tàu ngầm mới mua trong một vùng lãnh hải rộng lớn của mình. Đến năm 2018, khi tất cả các tàu ngầm Kilo được biên chế, Việt Nam sẽ có khả năng tập hợp lực lượng dưới biển lớn nhất trong khu vực. Nhưng rất có khả năng các nước đang có tàu ngầm hoạt động trong khu vực cũng sẽ củng cố, nâng cấp đội tàu ngầm của họ trong thập kỉ này.
Tàu ngầm Kilo được các nhà bình luận phương Tây gọi là “Hố Đen” của đại dương bởi chúng được trang bị công nghệ chống ồn tuyệt vời khiến đối phương rất khó phát hiện. Tuy có hệ thống trang thiết bị trên tàu khá tương đương những chiếc Kilo của Indonesia và Malaysia nhưng tàu ngầm của Việt Nam trở nên nổi bật và ưu thế hơn nhờ có thêm hệ thống phóng tên lửa hành trình dưới nước Klub-S theo hợp đồng đã ký với Nga hồi năm 2009.
Những hệ thống trên lửa Klub có loại biến thể chống tàu (hướng dẫn thiết bị đầu cuối) và tấn công mặt đất (với việc điều hướng quán tính). Đến nay, trong số các nước Đông Nam Á có hải quân trên biển, không nước nào có khả năng tấn công mặt đất khi kết hợp với một cơ sở tàng hình như tàu ngầm, sự kết hợp này cho phép hướng hỏa lực một cách kín đáo đến vùng nội địa của nước khác. Điều này cho thấy một khả năng bất ổn của khu vực.
Theo Rosoboronexport, trong lượng vũ khí của Nga xuất khẩu trong tháng 7/2011, những chiếc tàu Kilo bán cho Việt Nam sẽ được thiết kế theo dạng tiêu chuẩn, trong khi hệ thống Klub-S cung cấp cho họ lại là loại biến thể.
Thách thức cho quân đội Việt Nam
Nhưng việc mua các tàu ngầm này cũng thể hiện ý định của Việt Nam muốn thành lập một hạm đội có khả năng hoạt động dưới biển, khắc phục những thiếu hụt tồn tại từ thời Liên Xô cũ nhằm đạt được sự cân bằng trong lực lượng hải quân. Sáu chiếc tàu ngầm Kilo khi hoạt động khiến hải quân có thể hiện diện liên tục trên biển.
Quân đội Việt Nam cũng đã nỗ lực không chỉ ở lĩnh vực máy móc công nghệ, mà còn ở cơ sở hạ tầng cần thiết, và nguồn nhân lực.
Trong năm 2010, Việt Nam đã tìm sự giúp đỡ của Nga để xây dựng căn cứ tàu ngầm ở càng Cam Ranh, gần đây thì kí kết thỏa thuận đào tạo với Ấn Độ để tập luyện cho tàu Kilo này.
Dù có đội tàu ngầm nhưng Việt Nam vẫn phải đẩy mạnh việc giám sát trên không, trên biển và duy trì sự hiện diện của hải quân tại những vùng trọng điểm của quốc gia như vùng biển Đông. Với 6 tàu Kilo hoạt động vào năm 2018, Việt Nam nên xem xét khả năng cứu trợ tàu ngầm và hợp tác với hải quân các nước trong khu vực. Điều này còn phụ thuộc vào cả ý chí chính trị và tiềm lực kinh tế của Việt Nam.
Hệ thống tên lửa của Việt Nam
Ngoài Việt Nam, trong khu vực Đông Nam Á, Indonesia cũng trang bị tên lửa hạm đối hạm Ruby và năm 2010 đã tiến hành thử nghiệm thành công tên lửa này.
Khi gặp những đối thủ được trang bị những vũ khí lợi hại như vậy, Tàu Liêu Ninh của Trung Quốc sẽ không còn được lui. Bài báo kết luận, tàu Liêu Ninh của Trung Quốc chỉ nên hoạt động tác chiến ở những nơi gần bờ.
Thành lập Trung đoàn Radar 251
Sáng nay (2-8), tại phường An Bình, TP Biên Hòa (Đồng Nai), Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân tổ chức lễ công bố quyết định của bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc thành lập Trung đoàn Radar 251 và đón nhận Quân kỳ Quyết thắng.
Trung đoàn Radar 251 trước đây là Tiểu đoàn Radar 251, trụ sở đóng quân tại xã Phú Thạnh (Nhơn Trạch, Đồng Nai) thuộc Vùng 2 Hải quân, có hai trạm radar cảnh giới tầm xa không phận thấp và mặt biển, đứng chân ở Núi Lớn (Vũng Tàu) và núi Thánh Giá (Côn Đảo). Trung tâm Radar Long Bình (Đồng Nai) trước đây trực thuộc Bộ Tham mưu Hải quân nay được sáp nhập vào Trung đoàn Radar 251.
Trước đó, ngày 16-7, Trung đoàn Radar 351 cũng được thành lập tại Vùng 3 Hải quân (Đà Nẵng). Việc nâng cấp, thành lập các trung đoàn Radar nhằm nâng cao khả năng quan sát, cảnh giới trên không, dưới biển, phục vụ nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa trong tình hình hiện nay.
Trong hải chiến hiện đại, nhờ vào sự kết hợp với các hệ thống điều khiển điện tử cũng như radar và sonar tối tân, các loại tên lửa đối hạm lẫn ngư lôi ngày càng trở nên chính xác. Nếu bị đối phương phát hiện trước thì thủy thủ đoàn của chiến hạm nhiều khả năng chẳng còn chọn lựa nào ngoài cách ôm phao cứu sinh. Vì thế, việc chạy đua phát triển những chiến hạm có khả năng tàng hình trước radar trở thành nhu cầu bức thiết đối với các cường quốc.
TQ dùng Ngũ môn Trận pháp : Văn hoá ,Tư tưởng , Kinh tế , Ngoại giao , Quân sự đánh hạ VN ... Lãnh đạo VN vẫn chưa thấy biết " thế lực thù địch" là Ai ?
Chiến trận trên Biển Đông ...Trung Quốc sẽ lâm cảnh Môi Hở Răng Lạnh , nếu VN biêt mau áp dụng chiến lược Viễn giao cận công (8).
http://miscellaneous-land.over-blog.net/article-tq-vn-123570104.html
Xung đột Mỹ - Trung Quốc ... TQ ngũ đầu thọ địch .
http://miscellaneous-land.over-blog.net/article-xung-t-m-trung-qu-c-tq-ng-u-th-ch-122086793.html
Mỹ bao vây phong tỏa Trung Quốc : “Liên minh” Châu Á-Mỹ để chống lại mưu đồ bá quyền của TQ? .
Xem :
http://miscellaneous-land.over-blog.net/article-chien-tran-tren-bien-dong-120996176.html
From: Michael Auslin, The Wall Street Journal ,T.Ythediplomat.com,Info.net, ........