Publicité

Bên cạnh các bài chỉ trích Hà Nội và Manila, hiện trên trang Nhân dân Nhật báo ( People's Daily), bản tiếng Anh có đăng bài từ bản tiếng Hoa của báo Hoàn Cầu tại Trung Quốc, có ý kiến nêu ra một cách nhìn khác.

 

Giải thích vì sao giới chức Bắc Kinh không phê Hà Nội nặng lời qua vụ khai thác khí với Ấn Độ, tác giả Ding Gang cho rằng các bên đều cần nêu rõ vấn đề.

Theo tác giả Ding Gang thì sau khi kiểm mọi thông tin do cả Ấn Độ, Việt Nam và Trung Quốc công bố, ông cũng chưa thể tìm thấy bằng chứng rằng vụ khai thác của Việt Nam "vi phạm lãnh hải của Trung Quốc", vì tất cả còn "rất mù mờ".

Đặc biệt, bài báo cũng kêu gọi chính phủ Trung Quốc, Việt Nam và Ấn Độ cùng công bố các bản đồ về các khu vực họ nói đến.Tác giả cũng nói những năm qua, tranh chấp biển Nam Trung Hoa gia tăng, khiến truyền thông Hoa Kỳ và các nước Phương Tây cùng một số quốc gia xung quanh vùng biển này cũng xây dựng thuyết 'Mối đe dọa từ Trung Quốc' trên nền tảng đó.

 

 

Nhưng tác giả viết cần phải cảnh giác trước cái bẫy của việc tạo ra nhãn hiệu 'bá quyền Trung Quốc", và truyền thông Trung Quốc cần tránh gọi vùng biển này là "Biển Nam của nước Trung Quốc", và tránh gọi mọi hành động của các nước ở khu vực này là "vi phạm lợi ích cốt lõi của Trung Quốc".Thay vì phản ứng mơ hồ như thế, các cơ quan của Trung Quốc nên nêu trình ra các bằng chứng rõ rệt cho thế giới thấy các nước khác vi phạm chủ quyền của Trung Quốc ra sao.

Tác giả Ding Gang cũng kêu gọi vấn đề ở vùng biển này "phải được giải quyết hòa bình" và Trung Quốc không nên tham gia trò chơi "trốn tìm" mãi với các nước khác.

 

 

 

 

Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ, Đô đốc Robert Willard, ngày 13-1 đã trình bày mối lo ngại trước Ủy ban Quân lực Hạ viện rằng Trung Quốc đang tiếp tục chương trình hiện đại hóa vũ khí tấn công như tên lửa, máy bay chiến đấu và tàu chiến với tốc độ rất nhanh. Theo ông Willard, số liệu năm 2009 cho thấy PLA có 27 tàu khu trục loại lớn, 48 tàu khu trục loại nhỏ, hơn 70 máy bay tuần tra được trang bị tên lửa, 55 tàu chiến đổ bộ, 40 tàu chống thủy lôi và 50 máy bay tiếp tế. Ông đặc biệt nhấn mạnh Trung Quốc đang sở hữu “lực lượng tàu ngầm quy ước lớn nhất thế giới” với tổng cộng hơn 60 chiếc, cùng một số loại tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân và tàu ngầm trang bị tên lửa đạn đạo có khả năng bắn tới bờ biển phía Tây nước Mỹ. Ông còn lưu ý hệ thống phòng không rất tinh vi được trang bị cho tàu chiến và tên lửa hành trình chống tàu chiến của Trung Quốc.


Một trục chính khác của kế hoạch hiện đại hóa hải quân TQ là sức chiến đấu của tàu ngầm. Hiện nay TQ có trên 50 chiếc tàu ngầm, trong đó bao gồm cả những tàu ngầm kiểu Romeo hay hạng “Minh” cũ kĩ nhưng là qui mô lớn nhất châu Á.  Có 12 chiếc tàu ngầm Kilo của Nga với tính năng “yên lặng” ưu việt, 14 chiếc hạng  “Song” (Tống) đóng ở trong nước và 2 chiếc hạng “Yuan”(Nguyên) làm chủ lực. Ngoài ra còn có 4 chiếc hạng “Han” (Hán) và “Thương”  là loại tàu ngầm nguyên tử, chạy tốc độ cao và không bị hạn chế về cự ly hàng hải, dùng để  tấn công. 

 

 

 

Bắc Kinh gần đây còn tuyên bố rằng biển Nam Trung Hoa là một trong những ‘mối quan tâm chủ đạo’ của họ như Đài Loan và Tây Tạng.

Trung Quốc tuyên bố chính thức đưa biển Đông, cùng với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, vào danh sách các “lợi ích cốt lõi” của mình. Điều đó đã đặt biển Đông ngang với các mối quan tâm truyền thống có tầm quan trọng đặc biệt đe doạ thống nhất đất nước và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc như Đài Loan, Tân Cương và Tây Tạng. Nó thể hiện một thông điệp cứng rắn mang tính chất áp đặt trong ứng xử quốc tế của Trung Quốc  là “không khoan nhượng, không thương thuyết”.Mặc dù không tuyên bố, nhưng Trung Quốc sẽ theo phương châm "Kẻ mạnh làm những gì họ đủ sức làm và kẻ yếu phải hứng chịu những gì họ phải hứng chịu.

 

Tiến sĩ Giản Quân Ba thuộc Học viện Quan hệ Quốc tế, Đại học Phục Đán, Thượng Hải :"Rõ ràng là không ai trong số các nước láng giềng có tranh chấp với Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa lại cảm thấy vui khi Bắc Kinh tuyên bố vùng biển này là một trong những ‘mối quan tâm chủ đạo’ của họ. Trung Quốc cũng từng tuyên bố điều này với Đài Loan và Tây Tạng.

Theo tôi, một số nước nằm cạnh Trung Quốc đang ở trong tình thế ‘tiến thoái lưỡng nan’. Trung Quốc là một người láng giềng khổng lồ nên họ không thể tách khỏi nước này cả về mặt địa lý và kinh tế. Trung Quốc đóng vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển kinh tế của các nước khác, nhưng cũng là một thách thức lớn về các quyền lợi địa chính trị đối với các nước láng giềng. Tôi cho rằng trong khoảng thời gian vài năm tới, xét về một mức độ nào đó, chạy đua vũ trang sẽ gia tăng ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á. Nhật Bản và các quốc gia thuộc Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) có lẽ sẽ tìm kiếm các mối quan hệ gần gũi hơn nữa với Hoa Kỳ về mặt chính trị. Ngoài ra, ASEAN có thể sẽ đoàn kết nội bộ để hợp nhất hơn trong việc đối phó với Trung Quốc

 

Ngoài ra, Trung Quốc cũng muốn bảo vệ các tuyến vận tải quốc tế để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế mạnh mẽ cũng như duy trì thông thương bình thường với các nước khác. Biển Nam Trung Hoa là một tuyến hàng hải quốc tế quan trọng đối với Trung Quốc, và nước này không muốn vùng lãnh hải này bị nước khác kiểm soát.

 

Tạp chí Foreign Policy nói Biển Đông là cửa ngõ của hàng hải toàn cầu và hơn một nửa lượng hàng hóa thương mại chuyên chở bằng đường biển đi qua vùng biển này.

Trong khi đó hai phần ba nguồn năng lượng của Hàn Quốc, 60% của Đài Loan và Nhật Bản, và 80% lượng dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc đi qua Biển Đông.Đường lưỡi bò trải dài từ Đảo Hải Nam của Trung Quốc xuống gần Singapore và Malaysia đã khiến cho chín nước giáp Biển Đông gần như đã đứng về một phía trong cuộc đối chọi với Trung Quốc.

Về việc chiếm hữu các đảo hay bãi đá nổi hoặc ngầm trên Biển Đông, Foreign Policy nói Trung Quốc có 12, Đài Loan 1, Việt Nam 25, Philippines 8 và Malaysia 5.

 

 

 

 

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đã được Việt Nam liên tục thực hiện chủ quyền đầy đủ từ nhiều thế kỷ qua. Hiện tại, quần đảo Hoàng Sa do Trung Quốc dùng bạo lực chiếm giữ hoàn toàn từ tháng 4/1974, còn tranh chấp chủ quyền- một phần hay toàn bộ- cũng đã diễn ra tại quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei và Đài Loan.

Bao quanh biển Đông không chỉ có Trung Quốc mà còn có các nước và vùng lãnh thổ, gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Singapore, Thái Lan, Campuchia, Đài Loan. Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển (UNCLOS) năm 1982 cho phép các nước có vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) không vượt quá 200 dặm. Do đó các nước quanh biển Đông đều có thể đưa ra tuyên bố chủ quyền trên vùng biển thuộc lãnh thổ của mình. Mặt khác, dễ thấy rằng phần lớn các khu vực trong ranh giới “đường lưỡi bò” nằm trong vùng biển Đông đều thuộc vùng đặc quyền kinh tế và chủ quyền các quốc gia khác trong khu vực, nơi xa nhất cách thềm lục địa Trung Quốc tới hàng ngàn dặm. Điều đó chứng tỏ rằng Trung Quốc không có danh nghĩa để mà yêu sách chủ quyền gần như toàn bộ biển Đông.

 

Trung Quốc đã mặc nhiên coi mình là chủ nhân ông của biển Đông. Họ ỷ mạnh để tiến hành các hoạt động đánh bắt hải sản, thăm dò tài nguyên, ngăn cản việc làm ăn đánh bắt cá của ngư dân Việt Nam, cản trở giao thông hàng hải quốc tế, tăng cường sức mạnh quân sự, tiến hành hàng loạt cuộc diễn tập hải quân, không quân bắn đạn thật. Họ ráo riết củng cố, xây dựng quần đảo Hoàng Sa trở thành căn cứ quân sự quan trọng, làm bàn đạp tiến xuống phía Nam. Vào giữa tháng 6 gần đây, Trung Quốc đã xây dựng Cương lĩnh quy hoạch phát triển đảo “Tầm nhìn 2020″ – trong đó “quy hoạch” cả các vùng biển và hải đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Dư luận cho rằng, bản chất “Tầm nhìn 2020″ của Trung Quốc là, bất chấp luật pháp quốc tế, từng bước thôn tính biển Đông.

 

 

Theo giáo sư Thayer, do vị trí điạ dư của mình, với một bờ biển rất dài và tiềm năng dầu khí dồi dào ngoài khơi, Việt Nam đang bị yếu thế về mặt chiến lược, do đó đang tìm cách bổ khuyết. Việc trang bị tàu ngầm, theo giáo sư Thayer, ít ra có thể cung cấp cho Việt Nam năng lực răn đe, bảo vệ các quyền lợI trên biển của mình.

Các chiến đấu cơ Sukhoi 30 MK2 đặt mua thêm cũng cho phép Việt Nam dùng không quân để yểm trợ cho lực lượng trên biển, sẽ được tăng cường thêm bằng các chiếc tàu tuần tra mà theo tin của báo chí Nga, Việt Nam cũng đang tìm cách đặt mua.

Các nước sử dụng Su-30MK2, ngoài Việt Nam, còn có Venezuela (24 chiếc), Indonesia (3 chiếc), Trung Quốc (24 chiếc trong trang bị của Hải quân, chuyển giao năm 2004).

Tóm lại theo giới phân tích, tình hình căng thẳng với Trung Quốc tại Biển Đông đã buộc Việt Nam phải trang bị thêm vũ khí để dự phòng bất trắc.
Tháng Chín 2008, Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov nói Việt Nam là "đồng minh chiến lược của Nga tại Đông Nam Á" và rằng Nga sẵn sàng bán cho Việt Nam vũ khí và giúp nâng cấp năng lực quốc phòng của Việt Nam.

Theo giáo sư Thayer, Moscow vẫn là nhà cung cấp trang thiết bị quốc phòng chủ chốt của Hà Nội.

Giáo sư Stephen Blank: Không chỉ hướng tới Nga, Việt Nam cũng đang tìm kiếm sự hậu thuẫn từ các nước lớn khác ở châu Á. Họ mua vũ khí ở khắp thế giới, không riêng gì của Nga.Hà Nội đang tăng cường quan hệ với Hoa Kỳ, có thể là Nhật Bản, và cả Ấn Độ nữa. Đây là một phần của chiến lược chính trị sâu rộng của Việt Nam.

 

Chi tiêu quốc phòng của Trung Quốc đã khiến Mỹ và các cường quốc phương Tây phải e dè Sở dĩ Việt Nam mua vũ khí Nga mà không mua vũ khí của Mỹ bởi vì bạn hàng vũ khí lớn nhất của Trung Quốc là Nga (Mỹ cấm vận vũ khí với Trung Quốc). Qua đó chúng ta biết được ít nhiều về những “tính năng bí mật” của những vũ khí đó để tìm ra điểm yếu. Việt Nam và Nga luôn có mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp từ thời Liên Bang Xô Viết và cho đến nay thì Việt - Nga vẫn còn duy trì tình đồng chí hữu hảo. Nếu không may xảy ra chiến tranh thì Nga sẽ cung cấp cho Việt Nam những tính năng của vũ khí Trung Quốc. Chính vì vậy mối quan hệ Nga – Việt là mang tầm chiến lược lâu dài.  

 

 

  

 

 

Theo các nhà phân tích, Trung Quốc ngày càng bộc lộ rõ tham vọng độc chiếm biển Đông và một số nơi khác, tăng cường tiềm lực hải quân, đồng thời không ngần ngại có động thái đe dọa, chèn ép hầu hết các nước gọi là có tranh chấp với họ, từ Việt Nam, Philippines cho đến Nhật Bản và mới đây là Ấn Độ. Sự kiện đó là nhân tố gây quan ngại không chỉ cho những nước bị Trung Quốc lấn lướt, mà cho cả Mỹ, cường quốc cho đến nay vẫn đóng vai trò bảo đảm ổn định cho khu vực Thái Bình Dương. Đó chính là chất xúc tác thúc đẩy Mỹ tăng cường quan hệ quân sự với Australia, đồng minh thân thiết lâu đời của mình trong vùng. Bên cạnh đó, Mỹ cũng thắt chặt quan hệ với Nhật Bản và nhất là với một đồng minh mới hơn, là Ấn Độ.

Vào cuối năm nay, Mỹ và Australia sẽ tăng cường đáng kể quan hệ quân sự; Ấn Độ và Mỹ cũng ráo riết thúc đẩy một cơ chế đối thoại an ninh ba bên bao gồm cả Nhật Bản; tân lãnh đạo Chính quyền Tokyo cũng sẽ công du New Delhi để thắt chặt thêm quan hệ Nhật - Ấn. Một thế liên hoàn Mỹ-Australia-Ấn Độ-Nhật Bản đang dần hình thành để đối phó với tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc.

Theo các nhà quan sát, chính các hành động gần đây của Trung Quốc là nguyên nhân thúc đẩy 4 cường quốc châu Á-Thái Bình Dương nói trên xích lại gần nhau hơn, đặc biệt trong lĩnh vực quốc phòng. Cụ thể nhất là xu hướng củng cố thêm liên minh quân sự Mỹ-Australia. Ngày 15-9, cả Ngoại trưởng lẫn Bộ trưởng Quốc phòng hai nước gặp nhau tại San Francisco để đưa ra nhiều thỏa thuận quan trọng về phương diện quốc phòng, từng được đánh giá là một bước tiến lớn nhất trong quan hệ quân sự Mỹ -Australia từ 30 năm nay. Các thỏa thuận này sẽ mở đường cho quân đội Mỹ quyền tự do tiếp cận các căn cứ tại Australia, cung cấp cho Mỹ một chỗ  đứng vững chắc nằm giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ vào năm 2010 đã cam kết sẽ chuyển thêm lực lượng sang khu vực Đông Nam Á, trong đó có cả việc cùng với Australia chia sẻ quyền sử dụng các hải cảng và căn cứ. Một quan chức quốc phòng cấp cao xin giấu tên đã tiết lộ với hãng tin AFP rằng quân đội Mỹ có thể bố trí sẵn thiết bị của mình trên đất Australia, sử dụng dễ dàng hơn các cơ sở và hải cảng của Australia.

 

 

Trung Quốc tranh chấp với Nhật Bản về việc khai thác mỏ khí đốt và cách phân định  khu vực đặc quyền kinh tế ở vùng biển đông Trung Hoa, yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Senkaku mà Trung Quốc gọi là quần đảo Điếu Ngư (hay Điếu Ngư Đài)… Cách phản ứng của Nhật Bản là thể hiện những động thái mạnh mẽ, không để Trung Quốc lấn lướt. Dư luận cho biết, gần đây nhất, vào ngày 21/8/2010, chính phủ Nhật Bản đã quyết định sẽ “quốc gia hóa”, tức là tuyên bố chủ quyền, 25 đảo nhỏ rải rác vào tháng 3/2011, bao gồm cả quần đảo Điếu Ngư mà cả Trung Quốc và Nhật Bản đều đã tuyên bố chủ quyền chồng lấn lên nhau.

 

Nhật Bản trong thời gian gần đây cũng không che giấu ý định tăng cường quan hệ với Ấn Độ để giảm bớt ảnh hưởng của Bắc Kinh.

Theo một số nguồn tin từ Chính quyền Tokyo ngày 14-9, tân Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda có thể sẽ đi thăm Ấn Độ vào tháng 11 tới đây để tìm lực làm đối trọng với ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc trong vùng. Phải nói rằng mới đây Trung Quốc đã làm tăng thêm mối quan ngại tại Nhật Bản khi để cho báo chí chính thức của mình tuyên bố là vùng Biển Hoa Đông cũng thuộc phạm vi lợi ích cốt lõi của Bắc Kinh. Tại vùng biển này, Trung Quốc đang tranh giành chủ quyền trên quần đảo Senkaku/Điếu Ngư do Nhật Bản quản lý và thường xuyên cho tàu vào khiêu khích lực lượng tuần duyên Nhật Bản.

Theo hãng tin Kyodo, tại New Delhi, ông Noda sẽ thảo luận với đồng nhiệm Manmohan Singh về ảnh hưởng ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc.Theo các nhà quan sát, một khi quan hệ Nhật Bản - Ấn Độ được thắt chặt, sự kiện đó sẽ củng cố thêm thế liên hoàn giữa 4 cường quốc Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và Australia mà mắt xích yếu nhất cho đến nay là mối liên hệ New Delhi-Tokyo.

 

 

 

  

Ấn Độ là nước mới nhất bị cuốn hút vào tranh chấp Biển Đông. Trước đó trong tháng này, Bắc Kinh tuyên bố với New Delhi rằng hãng dầu khí thuộc sở hữu nhà nước Ấn Độ cần phải được phép của Trung Quốc, thì mới được thăm dò dầu khí tại hai lô của Việt Nam ở vùng biển này. Hành động đó diễn ra tiếp theo những thông tin về vụ một tàu Trung Quốc chặn một tàu khu trục nhỏ của Hải quân Ấn Độ ở ngoài khơi Việt Nam hồi cuối tháng 7.

Hôm  22/09/2011, Bắc Kinh chính thức có phản ứng về việc Việt Nam và Ấn Độ hợp tác thăm dò khai thác dầu khí tại Biển Đông. Nhân dân nhật báo, cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Trung Quốc, được Reuters trích dẫn, tố cáo dự án thăm dò dầu khí giữa hai tập đoàn của Nhà nước Ấn Độ và Việt Nam là ONGC và Petrovietnam, ở phía tây quần đảo Trường Sa, trên Biển Đông, có nguy cơ tác động xấu đến quan hệ với Trung Quốc, đối tác kinh tế, thương mại quan trọng của cả Việt Nam và Ấn Độ.Theo tờ báo, thì cả hai khu vực nằm trong vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc và đó là một sự vi phạm đối với chủ quyền Trung Quốc. Cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Trung Quốc cảnh báo, nếu Việt Nam và Ấn Độ tiếp tục dự án thì điều này có thể làm tổn hại quan hệ với Trung Quốc cũng như đối với « sự ổn định và phát triển kinh tế hòa bình trên toàn Biển Đông, các mất mát sẽ lớn hơn những khoản lợi ».

Mặc dù không nêu đích danh Việt Nam và Ấn Độ, nhưng hôm thứ hai, 19/09, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi tuyên bố rằng mọi dự án hợp tác đều là «bất hợp pháp và không có giá trị» nếu không có sự chấp thuận của Trung Quốc.

 

 

Ngay lập tức, nước này quyết định ủng hộ các tuyên bố của Hà Nội. Tuần trước, Ngoại trưởng Ấn Độ S.M. Krishna đã tới thăm Việt Nam và tuyên bố rõ ràng rằng, tập đoàn thuộc sở hữu nhà nước Ấn Độ sẽ tiếp tục thăm dò ở Biển Đông. Sự phô trương sức mạnh giúp Ấn Độ tăng cường các mối quan hệ với Việt Nam. Nếu Trung Quốc muốn mở rộng sự hiện diện ở Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương, thì theo nhận định của New Delhi, nước này cũng có thể làm điều tương tự ở Đông Á.

Theo Reuters, giới doanh nhân và các nhà ngoại giao cho biết là Trung Quốc đã tìm mọi cách ngăn cản các công ty nước ngoài hợp tác với Việt Nam trong việc thăm dò khai thác dầu khí tại Biển Đông. Vào năm 2007, công ty BP Plc đã phải ngừng các dự án thăm dò dầu khí ở ngoài khơi Việt Nam dưới sức ép của Trung Quốc.

Ngày 19/09/2011, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị khẳng định rằng những dự án hợp tác với các đối tác nước ngoài, như trường hợp với ONGC của Ấn Độ, đều nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, « hoàn toàn thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam » và «các ý kiến phản đối sự hợp tác giữa Việt Nam với các đối tác nước ngoài tại thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam là hoàn toàn không có cơ sở pháp lý và vô giá trị ».


Bằng cách lên án Ấn Độ vì các mối quan hệ của nước này với Việt Nam, Trung Quốc đã chứng tỏ rằng nước này sẽ cố gắng ngăn cản các đối thủ chiến lược cộng tác với nhau chống lại mình. Nhưng nếu cả Ấn Độ và Việt Nam giữ nguyên thái độ, họ có thể buộc Bắc Kinh phải giảm bớt các tuyên bố bành trướng trên Biển Đông và chấp nhận một lập trường hòa giải hơn đối với các vấn đề khác trong khu vực.

 

From : VOA , Ngô vinh Long , Da Vang ,BBC ,...

 

 

Publicité
Tag(s) : #Dư Luận Chính Trị Thế Giới
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :