Publicité

Về Hồ Biểu Chánh, TS Mai Quốc Liên, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Quốc học nhận định: “Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh là một bộ lịch sử phong tục Nam bộ hồi xưa, được tái hiện qua tiểu thuyết. Xét về đủ mọi phương diện, Hồ Biều Chánh là một nhà tiểu thuyết lớn của Nam bộ và cả nước. Chúng ta phải xác định lại cho đúng vị trí của ông trong lịch sử văn học”.

Gần đây, khá nhiều tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh được lên phim...
Nhiều Website  dành riêng cho nhà văn HBC được thiết kế, thực hiện từ… hải ngoại 
 
Ước vọng của những người thực hiện là: Chú thích và giới thiệu với đọc giả những từ địa phương thông dụng trong các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh để giữ gìn tiếng cũ và góp phần phát triển cho vườn hoa tiếng Việt thêm phong phú. Giới thiệu một bức tranh xã hội của buổi giao thời mà trong đó từ bối cảnh đến tâm lý con người đều tượng trưng cho sự chất phác, mộc mạc, được diễn tả một cách hấp dẫn và xúc động dưới ngòi bút tinh tế của nhà văn Hồ Biểu Chánh....

Cũng theo những người thực hiện: nếu Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của ... là những người tiên phong đặt nền móng cho chữ quốc ngữ thì Hồ Biểu Chánh là một trong những người đã làm cho quốc ngữ được phong phú. Tiểu thuyết của ông là một bức tranh sống động về phong tục Việt Nam bằng chữ. Ông thuộc vào một số rất ít nhà văn Việt Nam đã sử dụng những từ ngữ bình dân một cách tự nhiên, phản ảnh trung thực tâm tình và tâm lý của người dân bình dị, và nhờ đó các truyện viết của ông dễ gây xúc động cho người đọc. Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn, rất lớn của miền Nam và của cả nước. Ông để lại cho văn học Việt Nam một gia tài đồ sộ với hơn một trăm quyển tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện thơ…Tiểu thuyết của ông được phổ biến rộng rãi và đã đi vào lòng của đại đa số dân chúng miền Nam. 
 
 
Hơn 30 tiểu thuyết được đăng tải như:

Chúa tàu Kim Qui (1923), Chút phận linh đinh (1928), Con nhà nghèo (1930), Ngọn cỏ gió đùa (1926), Nhơn tình ấm lạnh (1925) . Các tiểu thuyết mới cập nhật: Ông Cử (1935) cập nhật ngày 22.07.2004,  Hai Thà cưới vợ (1944) cập nhật ngày 28.07.2004 và Lòng dạ đàn bà (1935)  cập nhật ngày 29.07.2004....

Cẩn thận hơn, những người thực hiện còn cung cấp cho bạn đọc một số hình ký họa về Sài Gòn vào đầu thế kỷ XX, thế kỷ sống của các nhân vật trong truyện của Hồ Biểu Chánh. Ngoài ra, website còn có bộ “từ điển”: Một số từ ngữ dùng trong các quyển tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh khá phong phú và đầy đặn. Có những từ “rặt” Nam bộ được chú giải khá thú vị, ví dụ: “Buồn nghiến: buồn nhiều, buồn nát lòng; Lẹo chẹo: lời qua tiếng lại; Thẳng búng: và cơm liên tục cho tới da má căng thẳng (ăn ngốn, ăn không thanh nhã)… Một số tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh được thể hiện dưới dạng “đọc truyện” bằng files âm thanh MP3, như: Tơ hồng vương vấn, Ngọn cỏ gió đùa… Những câu chuyện não lòng của nông thôn miền Nam những năm đầu thế kỷ 20 được thể hiện qua các giọng đọc miền Nam, được lồng nhạc, … 

 

Tiểu sử / Tác phẩm 
   
Hồ Biểu Chánh tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên. Ông sinh năm 1884 (trong khai sanh ghi ngày 01/10/1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công. Khi viết văn, ông lấy tên tự ghép với họ là Hồ Biểu Chánh, trở thành một bút danh bất hủ, được nhiều người biết đến và quí mến hơn tên tộc Hồ Văn Trung của ông.
Ông xuất thân làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ, từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi, vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ. Cuối năm 1946, ông từ giã chánh trường, thật sự sống cuộc đời hưu nhàn, giành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương.

Ông sáng tác văn học rất nhiều và để lại hơn 100 tác phẩm gồm tiểu thuyết và các thể loại khác, như: nghiên cứu, phê bình văn học, sáng tác tuồng hát cùng các bản dịch văn học cổ điển Trung Quốc như Tình sử, Kim cổ kỳ quan...

Các nhà phê bình, không ai phủ nhận công sức đóng góp văn học của nhà văn Hồ Biểu Chánh.

Tác phẩm của ông gồm nhiều thể loại: Dịch thuật, thơ, tuỳ bút phê bình, hồi ký, tuồng hát, đoản thiên, truyện vắn, biên khảo, tiểu thuyết...

Hồ Biểu Chánh sở trường về viết văn xuôi tự sự. Ðề tài phần lớn là cuộc sống Nam bộ từ nông thôn đến thành thị những năm đầu thế kỷ XX với những xáo trộn xã hội do cuộc đấu tranh giữa mới và cũ. Cách diễn đạt nôm na, bình dị. Ông đã có những đóng góp to lớn vào sự hình thành thể lọai tiểu thuyết trên chặng đường phôi thai. Ông để lại một khối lượng sáng tác không nhỏ: 64* tiểu thuyết, 12 tập truyện ngắn và truyện kể, 12 vở hài kịch và ca kịch, 5 tập thơ và truyện thơ, 8 tập ký, 28 tập khảo cứu-phê bình. Ngòai ra, còn có các bài diễn thuyết và 2 tác phẩm dịch.

Ông mất ngày 04/09/1958 tại Phú Nhuận, Gia Ðịnh, Sài Gòn , thọ 74 tuổi. Hai nhà thơ Ðông Hồ  và Mộng Tuyết có câu đối điếu ông, ghép toàn các nhan sách tiểu thuyết của ông : 

“Cay đắng mùi đời, Con nhà nghèo, Con nhà giàu, tiểu thuyết viết sáu mươi ba thiên, Vì nghĩa vì tình, Ngọn cỏ gió đùa, Tỉnh mộng, mấy Ai làm được?

Cang thường nặng gánh, cơn Khóc thầm, cơn Cười gượng, thanh cần trái bảy mươi bốn tuổi, Thiệt giả giả thiệt, Vườn văn xưa ghé mắt, Đoạn tình còn Ở theo thời”.

_____________________________________________


Tiểu thuyết: 


_Danh sách ABC

List of novels in alphabetical order / Liste des romans en ordre alphabétique Số / Năm   Tiểu thuyết / Đoản thiên

1   1912   Ai làm được (Cà Mau 1912) 
40 1941   Ái tình miếu ( Vinh Hội - 1941) 
32 1938   Bỏ chồng (Vinh Hội - 1938)
33 1938   Bỏ vợ (Vinh Hội - 1938) 
49 1953   Bức thơ hối hận (Gò Công - 1953) 
2   1923   Cay đắng mùi đời (Sài Gòn 1923)
13 1929   Cha con nghĩa nặng (Càn Long- 1929) 
63 1957   Chị Đào, Chị Lý (CL - 1957) 
44 1944   Chị Hai tôi (1944)
3   1923   Chúa tàu Kim Qui (Sài Gòn 1923)
11 1928   Chút phận linh đinh (Càn Long -1928)
19 1931   Con nhà giàu (Càn Long - 1931)
17 1930   Con nhà nghèo (Càn Long - 1930) 
41 1941   Cư Kỉnh (Vĩnh Hội - 1941) 
20 1935   Cười gượng (Sài Gòn - 1935)
53 1955   Đại nghĩa diệt thân (Sài Gòn - 1955)
21 1935   Dây oan (Sài Gòn -1935) 
51 1954   Đỗ Nương Nương báo oán (SG-1954)
27 1936   Đoá hoa tàn (Vinh Hội - 1936) 
39 1940   Đoạn tình ( Vĩnh Hội -1940)
64 1957   Đón gió mới, nhắc chuyện xưa (VH- 1957)
54 1955   Hai chồng (Sài Gòn - 1955)
37 1939   Hai khối tình (Vĩnh Hội - 1939)
45 1944   Hai Thà cưới vợ (1944) 
55 1955   Hai vợ (Sài Gòn - 1955)
65 1957   Hạnh phúc lối nào (Sài Gòn - 1957)
12 1928   Kẻ làm người chịu (Càn Long - 1928)
14 1929   Khóc thầm (Càn Long - 1929)
56 1955   Lá rụng hoa rơi (Sài Gòn - 1955)
29 1937   Lạc đường ( Vinh Hội - 1937)
71 1958   Lẫy lừng hào khí (Vĩnh Hội - 1958)
34 1938   Lời thề trước miễu (Vinh Hội- 1938)
22 1935   Lòng dạ đàn bà (1935) 
43 1943   Mẹ ghẻ con ghẻ (Vinh Hội - 1943)
4   1923   Một chữ tình (Sài Gòn - 1923)
46 1944   Một đóa hoa rừng (1944)
23 1935   Một đời tài sắc (Sài Gòn - 1935)
58 1956   Một duyên hai nợ (Sài Gòn - 1956)
6   1924   Nam cực tinh huy (Sài Gòn - 1924)
52 1954   Nặng bầu ân oán (Gò Công - 1954)
18 1930   Nặng gánh cang thường (C.Long-1930)
47 1944   Ngập ngừng (1944)
9   1926   Ngọn cỏ gió đùa (Sài Gòn-1926) 
35 1938   Người thất chí (Vinh Hội -1938)
15 1929   Người vợ hiền (1929) ? 
7   1925   Nhơn tình ấm lạnh (Sài Gòn - 1925)
59 1956   Những điều nghe thấy (Sài Gòn- 1956)
28 1936   Nợ đời (Vĩnh Hội - 1936)
66 1957   Nợ tình (Vĩnh Hội - 1957) 
67 1957   Nợ trái oan (Vĩnh Hội - 1957)
24 1935   Ở theo thời (Sài Gòn - 1935) 
60 1956   Ông Cả Bình Lạc (Sài Gòn - 1956)
25 1935   Ông Cử (Sài Gòn - 1935)
68 1957   Sống thác vì tình (nt - 1957) 
36 1938   Tại tôi (Vinh Hội - 1938)
30 1937   Tân Phong nữ sĩ (Vinh Hội - 1937) 
69 1957   Tắt lửa lòng (Vĩnh Hội - 1957)
48 1944   Thầy Chung trúng số (1944)
10 1926   Thầy Thông ngôn (Sài Gòn - 1926)
26 1935   Thiệt giả, giả thiệt (Sài Gòn - 1935)
8   1925   Tiền bạc, bạc tiền (Sài Gòn - 1925)
38 1939   Tìm đường (Vinh Hội - 1939)
5   1923   Tình mộng (Sài Gòn - 1923)
57 1955   Tơ hồng vương vấn (1955)  
61 1956   Trả nợ cho cha (Sài Gòn - 1956)
50 1953   Trọn nghĩa vẹn tình (Gò Công - 1953)
70 1957   Trong đám cỏ hoang (Phú Nhuận - 1957)
31 1937   Từ hôn (Vinh Hội - 1937)
16 1929   Vì nghĩa vì tình (Càn Long - 1929) 
62 1957   Vợ già chồng trẻ (Phú Nhuận - 1957)
42 1942   Ý và tình (Vinh Hội - 1938 - 1942) 
_____________________________________________________________________________




Tác phẩm

 
1. Dịch thuật:
Tân soạn cổ tích (cổ văn Trung Quốc, Sài Gòn-1910)
Lửa ngún thình lình (dịch tiếng Pháp, SG, 1922)


2. Thơ:
U tình lục (Sài Gòn – 1910)
Vậy mới phải (Long Xuyên – 1913)
Biểu Chánh thi văn (Tập i,ii, iii bản thảo)


3. Tùy bút Phê bình:
Chưởng Hậu quân Võ Tánh (Sài Gòn – 1926)
Chánh trị giáo dục (Gò Công – 1948)
Tùy bút thời đàm (Gò Công – 1948)


4. Hồi ký
Ký ức cuộc đi Bắc Kỳ (1941)
Mấy ngày ở Bến Súc (1944)
Đời của tôi
1. Về quan trường
2. Về Văn nghệ
3. Về phong trào cách mạng
Một thiên ký ức: Nam Kỳ cộng hòa tự trị (Gò Công – 1948)
Tâm hồn tôi (Gò Công – 1949)
Nhàn trung tạp kỷ (tập i, ii, iii Gò Công – 1949)


5. Tuồng hát:
Hài kịch: - Tình anh em (Sài Gòn – 1922)
Toại chí bình sinh (Sài Gòn – 1922)
Đại nghĩa diệt thân (Bến Súc – 1945)
Hát bội: - Thanh Lệ kỳ duyên (Sài Gòn 1926 – 1941)
Công chúa kén chồng (Bình Xuân – 1945)
Xả sanh thủ nghĩa (Bình Xuân – 1945)
Trương Công Định qui thần (Bình Xuân – 1945)
Cải lương:
Hai khối tình (Sài Gòn – 1943)
Nguyệt Nga cống Hồ (Sài Gòn – 1943)
Vì nước vì dân (Gò Công - 1947)


6. Đoản thiên:
Chị Hai tôi (Vĩnh Hội – 1944)
Thầy chùa trúng số (Vĩnh Hội – 1944)
Ngập ngừng (Vĩnh Hội )
Một đóa hoa rừng (Vĩnh Hội – 1944)
Hai Thà cưới vợ (Vĩnh Hội)
Hai chồng (Vĩnh Hội )
Hai vợ (Sài Gòn – 1955)
Lòng dạ đàn bà (Sài Gòn – 1955)


7. Truyện vắn:
Chuyện trào phúng, tập i, ii (Sài Gòn – 1935)
Chuyện lạ trên rừng (Bến Súc – 1945)
Truyền kỳ lục (Gò Công – 1948)


8. Biên khảo:
Pétain cách ngôn Á đông triết lý hiệp giải (Sài Gòn – 1942)
Gia Long khai quốc văn thần (Sài Gòn – 1944)
Gia Định Tổng trấn (Sài Gòn)
Chấn hưng văn học Việt Nam (Sài Gòn – 1944)
Trung Hoa tiểu thuyết lược khảo (Sài Gòn – 1944)
Ðông Châu liệt quốc chí bình nghị (Bến Súc – 1945)
Tu dưỡng chỉ nam (Bến Súc – 1945)
Pháp quốc tiểu thuyết lược khảo (Bình Xuân – 1945)
Một lằn chánh khí: Văn Thiên Tường (BX 1945)
Nhơn quần tấn hóa sử lược (Gò Công – 1947)
Âu Mỹ cách mạng sử (Gò Công – 1948)
Việt ngữ bổn nguyên (Gò Công – 1948)
Thành ngữ tạp lục (Gò Công – 1948)
Phật tử tu tri (Gò Công)
Nho học danh thơ (Gò Công)
Thiền môn chư Phật (Gò Công – 1949)
Ðịa dư đại cương (Gò Công)
Hoàng cầu thông chí (Gò Công )
Phật giáo cảm hóa Trung Hoa (1950)
Phật giáo Việt Nam (1950)
Trung Hoa cao sĩ, ẩn sĩ, xứ sĩ (1951)
Nho giáo tinh thần (1951)

From :Website ( hobieuchanh .org.com.....v v....)

Publicité
Tag(s) : #Xã Hội - V@n Hóa
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :