Hiệp hội doanh nghiệp TP HCM cho biết, theo các chuyên gia kinh tế, năm 2012 nền kinh tế còn nhiều biến động, số doanh nghiệp giải thể, ngưng hoạt động sẽ tiếp tục tăng (chỉ tính riêng trong tháng 2/2012 có khoảng 3.000 doanh nghiệp tại TP HCM ngưng hoạt động). Dự báo, trong quý 2 và quý 3 tới đây doanh nghiệp sẽ phá sản hàng loạt…
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã làm sụp đổ nhiều doanh nghiệp (DN) có bề dày hàng trăm năm, có vốn hàng trăm tỷ USD. Tại VN, không ít tập đoàn, tổng công ty nhà nước lao đao bên bờ vực phá sản. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) cũng không tránh khỏi sự phá sản hàng loạt. Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI) tính đến ngày 31-12-2011, cả nước có 79.014 DN giải thể, trong đó riêng năm 2011 có gần 8.000 DN giải thể. Đó là chưa kể, hàng chục ngàn DN đang làm ăn thua lỗ hoặc tạm ngưng hoạt động.
Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, cho hay, tính đến tháng 10/2011, cả nước có 1.306 DNNN với 100% vốn Nhà nước, trong đó 701 doanh nghiệp thuộc địa phương; 355 thuộc bộ ngành và 253 thuộc tập đoàn tổng công ty 91, trong đó có 452 doanh nghiệp hoạt động công ích và 857 doanh nghiệp kinh doanh.
Các doanh nghiệp này nắm giữ khối lượng vốn cực lớn trong nền kinh tế, gồm 700 nghìn tỷ (cuối 2010), tương đương 35 tỷ USD, trong đó chủ yếu là tập đoàn, tổng công ty Nhà nước. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn tồn tại những DNNN thuộc loại siêu nhỏ, vốn dưới 10 tỷ đồng. Chẳng hạn, có 102 DNNN có vốn dưới 5 tỷ đồng, có 8 DNNN vốn dưới 1 tỷ đồng....
Ông Lê Chí Hiếu - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Phát triển nhà Thủ Đức đánh giá, giá nhà đất hiện nay ở nước ta rất cao so với các nước trên thế giới. Điều này do tác động của nhiều yếu tố như: cơ cấu giá thành đất đai, giá xây dựng cao, lạm phát, các phí phi chính thức từ các thủ tục đất đai... Đặc biệt, cơ cấu giá đền bù giải tỏa ngày càng cao cũng đã khiến cho giá đất trên thị trường đứng ở mức cao, trong khi đó doanh nghiệp BĐS không thể nâng giá nhà đất lên để bù lỗ. Chính vì vậy, mà có nhiều dự án BĐS đang trên bờ vực thẳm.
Còn về vấn đề lãi suất, ngày 13-3 Ngân hàng Nhà nước cũng đã giảm trần lãi suất huy động xuống còn 13%/năm và ngay sau đó, một số ngân hàng cũng công bố giảm lãi suất cho vay. Tuy nhiên, TS Đỗ Thị Loan - Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội BĐS TP Hồ Chí Minh cho rằng “Việc Ngân hàng Nhà nước có giảm lãi suất huy động thêm 1% cũng không giải quyết được vấn đề gì. Vì hiện nay, lãi suất vay Ngân hàng hiện ở mức 22 - 23%/năm, như vậy là quá cao, DN rất khó tiếp cận vốn. Ngoài lãi suất vay quá cao như trên, DN còn phải chịu một loại chi phí khác tùy vào mối quan hệ giữa DN với Ngân hàng”.
Nói về những khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn của các DN trong thời gian qua, bà Đỗ Thị Loan cho biết: Các DN BĐS đang phải chịu lãi suất quá cao, lãi suất công khai thì khoảng 20%/năm, nhưng lãi suất dưới gầm bàn lên đến 30%/năm, vay bên ngoài còn cao hơn, vay 1 tỉ đồng chỉ nhận được 600 triệu đồng nhưng phải ký nhận 1 tỉ đồng.
Thị trường bất động sản tại TP Hồ Chí Minh sẽ còn gặp nhiều khó khăn trong thời gian tới.
Hàng loạt các sàn môi giới BĐS từ sau tết đã buộc lòng phải đóng cửa văn phòng, giải thể, sa thải nhân viên, thậm chí phải chuyển sang kinh doanh dịch vụ giải khát, ăn uống. “DN BĐS đuối sức, một số ngành nghề khác như xi măng, sắt thép, nội thất, người lao động… cũng bị ảnh hưởng nặng nề”.
Nguyên nhân khiến giá BĐS ở Việt Nam đắt hơn các nước trong khu vực ?
Nguyên nhân trầm lắng của thị trường, chính sách quản lý BĐS, chính sách thắt chặt tín dụng, việc dư thừa nguồn cung, giá sản phẩm quá cao so với khả năng chi trả của người mua…(chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng cao (mua đất theo cơ chế thị trường thiếu sự điều tiết của Nhà nước); chi phí nộp tiền sử dụng đất cao (Nghị định 69); chi phí vốn cao (chủ yếu do lãi vay cao trên 20%/năm); chi phí xây dựng, nguyên vật liệu, nhân công (do công tác thị trường và chính sách thuế chưa hợp lý); thủ tục hành chính kéo dài làm tăng chi phí quản lý, mất cơ hội kinh doanh, làm sụt giảm nguồn cung cho thị trường…)
Một số doanh nghiệp BĐS cũng than phiền, với lãi suất ngân hàng hiện nay cao như vậy, trong khi hầu hết các doanh nghiệp BĐS để tồn tại và phát triển thì vốn vay phải hơn gấp nhiều lần so với vốn chủ sở hữu. Vì vậy, các dự án BĐS càng để lâu thì càng lỗ nặng.
Mới đây, trong buổi gặp gỡ giữa doanh nghiệp với lãnh đạo TP Hồ Chí Minh để “gỡ rối” những vướng mắc, khó khăn cho doanh nghiệp, ông Nguyễn Trọng Hạnh - Phó Cục trưởng Cục Thuế TP Hồ Chí Minh cho biết: Số doanh nghiệp khai lỗ trong năm 2011 tăng 15% so với năm 2010. Theo đó, BĐS, xây dựng… là những ngành có hàng tồn kho lớn, dẫn tới sức cạnh tranh giảm và nguồn thu ngân sách cũng giảm. Hơn 50% doanh nghiệp trong lĩnh vực này có thu nhập doanh nghiệp âm, điều này đã phản ánh tình hình đang rất xấu.
Ông Phạm Ngọc Hưng - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP Hồ Chí Minh cũng nhận xét, mức tồn kho của ngành BĐS đang ở mức báo động. Doanh nghiệp không thể xoay vòng khi mà sản phẩm tồn kho không có lối ra. Theo phản ánh của các doanh nghiệp BĐS, mỗi tháng một doanh nghiệp mất đi 50-60 tỷ đồng chi phí điều hành, cho nên trong quý 2 và quý 3 tới đây nhiều khả năng doanh nghiệp sẽ phá sản hàng loạt. Xây dựng đình đốn, BĐS “đóng băng” đã kéo theo các ngành sản xuất vật liệu xây dựng cũng rơi vào tình trạng ế ẩm.
Trước thực trạng trên, các doanh nghiệp BĐS đã kiến nghị lãnh đạo TP cần có chính sách hỗ trợ để doanh nghiệp được tiếp cận với nguồn vốn vay ngân hàng. Đồng thời, ưu tiên cho doanh nghiệp BĐS đã hoàn thành 70% công trình được vay vốn để thực hiện hoàn thành công trình.
Mặc dù lãi suất cho vay đã giảm nhưng xem ra con đường để có thể tiếp cận được với nguồn vốn của ngân hàng vẫn còn nhiều chông gai khi nhiều doanh nghiệp bất động sản không còn có được cơ hội vay vốn.
Cơn bão tín dụng xảy ra năm 2011 dường như đã khiến cho các doanh nghiệp bất động sản kiệt sức khi vốn cạn, tài sản không còn nhiều, hàng tồn kho lớn… Nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đã phải chấp nhận bán hoặc thế chấp tài sản cho ngân hàng để lấy vốn nên hiện không còn tài sản thế chấp.
Theo ông Nguyễn Hữu Cường – Chủ tịch CLB Bất động sản, để có thể cầm cự trong cơn bĩ cực nhiều doanh nghiệp bất động sản đã phải mang tài sản là các bất động sản đi thế chấp tại ngân hàng hoặc bán 30-70% lượng cổ phần cho ngân hàng và các quỹ đầu tư. Hiện giờ, khi lãi suất đang dần hạ nhiệt thì các doanh nghiệp không đủ tài sản để thế chấp vay ngân hàng. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp buộc phải đứng ngoài cuộc chơi.
Các doanh nghiệp địa ốc không còn khả năng đóng góp cho nền kinh tế, không tạo ra được việc làm và đang đứng trước nguy cơ phá sản. Thị trường không có tính thanh khoản nên không ngân hàng nào dám cho vay.
Rất khó trông chờ nguồn vốn ngắn hạn từ các ngân hàng có thể được rót cho các doanh nghiệp BĐS trong năm nay vì mục tiêu nâng cao tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại là ưu tiên hàng đầu và xuyên suốt của Chính phủ. Hơn nữa, với tỷ lệ lãi suất tiền vay 18-19%, dòng vốn truyền thống từ ngân hàng cũng không phải là kênh phù hợp đối với BĐS lúc này.
Trong bối cảnh đó, việc trông vào nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng là một lời giải nhưng không hoàn toàn phổ biến. Bởi theo các nhìn nhận, đừng mơ nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam để cứu, bơm tiền. Họ cũng phải tìm cách thức và lợi nhuận sao cho được nhiều nhất từ thị trường, mà điều này là không thống nhất với nhà đầu tư trong nước về mục tiêu.
Đó là chưa kể thực tế đáng lo ngại là nguồn FDI đăng ký vào Việt Nam và BĐS đã giảm mạnh kể từ 3 năm gần đây. Nếu như năm 2008 FDI đăng ký vào BĐS đạt mốc đỉnh khoảng 23 tỷ đôla, năm 2009 còn khoảng 21 tỷ đôla thì năm 2010, con số này còn khoảng 6,8 tỷ và 2011 chỉ còn khoảng nửa tỷ đôla.
Vấn đề quan trọng hiện nay là tạo ra thị trường có người mua nhà, và một khi doanh nghiệp địa ốc bán được hàng sẽ tạo ra việc làm cho ngành xây dựng, xi măng, sắt thép. Do vậy nhà nước nên có chính sách hỗ trợ lãi suất cho người mua nhà như nhiều quốc gia đang làm....thay vì bơm vốn cho doanh nghiệp, nên tài trợ trực tiếp cho người mua nhà, như vậy tính thanh khoản của thị trường sẽ tăng lên, doanh nghiệp cũng bớt khó khăn và người dân có nhà để ở.
Hiện các nhà đầu tư rất tỉnh táo trong việc đầu tư đất dịch vụ. Cụ thể, các hợp đồng mua bán được cân nhắc kỹ lưỡng để tránh trường hợp chủ đất có thể “lật kèo” hay gây khó khăn sau này. Đặc biệt, nhà đầu tư hiện chỉ chọn mua những suất đất dịch vụ đã đóng dịch vụ hạ tầng. Nghĩa là đất đã nằm trong khu vực được chính quyền địa phương “quy hoạch” và chuẩn bị giao đất. Ngược lại, với những suất đất dịch vụ đã được mua đi bán lại quá nhiều lần, đặc biệt là chưa đóng tiền hạ tầng, thì dù rẻ mấy, nhà đầu tư vẫn tránh xa.
Siêu thị điện máy: Xếp hàng chờ phá sản
Nguồn tin từ các DN kinh doanh siêu thị điện máy cho biết, siêu thị điện máy Best Carings tại Phú Mỹ Hưng, Quận 7, TP Hồ Chí Minh vừa phải đóng cửa do khách hàng quá vắng.
Trường hợp trên của Best Carings chri là một ví dụ nhỏ trong vô số siêu thị điện máy đã đóng cửa từ đầu năm đến nay.
Vừa qua, chuỗi cửa hàng điện máy Thế giới số 24g của Nguyễn Kim tại Tp Hồ Chí Minh cũng đã đóng cửa. Chuỗi cửa hàng này mới mở cửa cách đây không lâu bỗng dưng lại đóng cửa làm nhiều người không khỏi bất ngờ.
Theo tin từ Nguyễn Kim thì chuỗi cửa hàng này sẽ chuyển thành Trung tâm thương mại Sài Gòn Nguyễn Kim và sẽ tiếp tục phuc vụ khách hàng trong thời gian tới. Tuy nhiên một số nguồn thạo tin cho hay kinh doanh thua lỗ, trong khi mặt bằng đã thuê dài hạn không trả lại được nên phải chuyển hướng.
Tại Hà Nội một loạt các siêu thị điện máy cũng bắt đầu thu hẹp quy mô trưng bày. Siêu thi Điên máy Pico tại 173 Xuân Thuỷ, quận Cầu Giấy, trước đây bề thế với 4 tầng nay đã thu lại còn 3. Tuy mặt bằng thuê dài hạn, nhưng vẫn phải thu hẹp để cắt giảm các chi phí cố định như tiền điện.
Siêu thị điện máy Trần Anh tại 292 Tây Sơn, quận Đống Đa cũng trong tình cảnh tương tự, thu hẹp quy mô từ 4 tầng nay giảm xuống còn 3 nhằm giảm các chi phí.
Cuối năm 2011 Trần Anh vừa mở 1 siêu thị điện máy tại quận Long Biên với diện tích 5.000 m2 thì nay sau vài tháng bán hàng đã quyết định trả lại 1/2 diện tích.
Siêu thị Media Mart mới đây đã phải đóng cửa điểm bán hàng ở Nguyễn Chí Thanh, còn siêu thị Việt Long cũng dừng bán ở Hà Đông.
Một DN kinh doanh điện máy cho biết hiện nay có không ít các siêu thị tại Cần Thơ, Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội lâm vào cảnh tài chính rất khó khăn, không có tiền trả tiền thuê mặt bằng, nợ lương, nợ bảo hiểm nhân viên, giảm bớt nhân viên...
Các DN cho biết, nhu cầu về hàng điện máy sau Tết nguyên đán đã giảm từ 50%- 70% so với trước Tết. Hiện doanh thu các mặt hàng điện máy của nhiều siêu thị tại Hà Nội chỉ ở mức 100 triệu đồng/ ngày trong khi trước kia con số này phải là 1 tỷ đồng/ngày.
Doanh thu giảm mạnh, trong khi hợp đồng thuê mặt bằng đã ký dài hạn, chi phí thuê không hề giảm xuống. Chi phí mặt bằng thường chiếm tới 50% tổng chi phí của các siêu thị điện máy. Tính toán sơ bộ, để có hiệu quả thì doanh số tính trên m2 diện tích sàn ở mức 100 triệu đồng/tháng, nhưng hiện nay giá thuê mặt bằng thì cao, trong khi sức mua lại giảm mạnh khiến nhiều siêu thị không đạt được con số trên. Doanh số thu được của các siêu thị giờ chỉ đạt dưới 30 triệu đồng/m2.
Kinh doanh thua lỗ, nhưng muốn trả lại mặt bằng cũng không dễ, do đã ký hợp đồng thuê dài hạn và phải đặt cọc với số tiền lớn đến hàng chục tỷ đồng, nếu chủ cho thuê không đồng ý mà bỏ coi như bị mất toàn bộ tiền đặt cọc nên đành phải chấp nhận.
Ông Đinh Anh Huân, giám đốc Thế Giới Điện Tử cho biết, nếu tính từ khâu phân phối, xuống khâu bán lẻ đến giá cho người tiêu dùng đầu cuối, để "cầm cự qua ngày", ít nhất giá phải tăng khoảng 15% - 18% so với hồi trước Tết, do các chi phí đều tăng, nhưng tất cả không thể tăng giá bán.
Ngược lại do hàng tồn kho tăng cao, nhiều siêu thị đã phải thực hiện xả hàng tồn kho, chấp nhận thua lỗ, trong đó có nhiều chiêu khuyến mãi giảm giá rất sâu. Từ đầu năm 2012 đến nay, thực trạng các siêu thị lớn nhỏ trong nước ồ ạt khuyến mãi như giảm giá 20% - 50% cho từng sản phẩm, giảm giá thêm cho khách hàng mua online, vận chuyển miễn phí hàng trăm cây số để câu khách tỉnh xa... chấp nhận lãi ít hoặc bù lỗ phần nào cho thấy các DN cũng đang cố gắng để "giải quyết vấn đề".
Hiện chỉ cần 4 triệu đồng cũng có thể mua được 1 chiếc tivi LCD 32 inch thương hiệu Hàn Quốc hoặc Nhật Bản tại các cửa hàng điện máy mà trước đó, giá sản phẩm này gần 7 triệu đồng. Các mặt hàng tiêu dùng khác như nồi cơm điện, lò vi sóng, máy xay sinh tố... giá cũng đang giảm mạnh.
Việc mua bán, sáp nhập các siêu thị điện máy cũng đang chững lại. Nhiều DN chào bán mà không có người mua, hoặc trả giá quá thấp. Một nguồn tin từ các DN kinh doanh điện máy cho biết, có DN đã tính bán chuỗi siêu thị điện máy có thương hiệu khá lớn của mình cho nhà đầu tư Hồngkông. Cuối năm ngoái, nhà đầu tư này trả 70 triệu USD mua lại 70% cổ phần thì không đồng ý, đòi 120 triệu USD. Nay cũng 70% cổ phần đó, người ta chỉ trả có 30 triệu USD.
Mặc dù vậy, một số siêu thị điện máy dù hoạt động rất khó khăn nhưng vẫn cố "sống" với hy vọng khi nền kinh tế phục hồi sẽ lấy lại sức bật. Tuy nhiên theo nhận định thì thị trường điện máy còn khó khăn đến hết quý 1/2013.
Nhận định của giới kinh doanh ngành hàng điện tử, điện máy cho thấy, rất có thể ngay trong quý 2/2012 sẽ xảy ra "cú sốc" lớn khi có thêm một vài con "cá lớn" kinh doanh ngành hàng này phải tuyên bố phá sản.
Đại diện một hãng phân phối máy tính, điện thoại và thiết bị siêu thị khá lớn trên đường Thái Hà cho rằng, năm 2012 tiếp tục là thời kỳ thị trường điện máy có sự đào thải theo hướng "Mạnh sống, yếu chết". Dự kiến trong tương lai chỉ còn lại 3 DN lớn chiếm khoảng 70% thị phần, tất cả các DN khác chia nhau 30% còn lại và các cửa hàng nhỏ lẻ thì dần dần biến mất hoặc chuyển sang thị trường ngách, kinh doanh các mặt hàng chuyên dụng.
Trước đây giới điều hành doanh nghiệp nước ngoài thường nhắc đến Việt Nam khi họ nói đến việc tránh đi tình hình chi phí tăng quá cao tại “công xưởng thế giới” Trung Quốc. Thế nhưng từ năm 2008, mọi chuyện cũng dần khác. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cam kết đầu tư trực tiếp vào Việt Nam giảm xuống 14,7 tỷ USD, từ 19,9 tỷ USD năm 2010. Đầu tư thực tế giảm 35% xuống 11,5 tỷ USD trong năm 2011.
Hàng nghìn công ty nước ngoài đã khởi động hoạt động kinh doanh tại Việt Nam từ khi kinh tế mở cửa vào năm 1987. Nay khi tình hình khó khăn, một lượng không đếm xuể các doanh nghiệp đã âm thầm ra đi, số khác đang cố gắng chống chọi chờ tình hình sẽ đổi khác. Công ty nghiên cứu thị trường TNS (Anh) nhận xét tình hình khó khăn đã khiến không ít người Việt Nam không còn có đủ khả năng mua hàng xa xỉ nữa.
Các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tại Việt Nam còn gặp nhiều vấn đề khó khăn hơn khác như đường sá, cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp bẩn và ở trong tình trạng không tốt khiến hoạt động vận chuyển hàng hóa gặp khó khăn. Điện có khi còn bất ngờ bị cắt.
Ông Tai Hui, trưởng bộ phận nghiên cứu khu vực Đông Nam Á của ngân hàng Standard Chartered, nhận xét: “Khó khăn trong đầu tư vào Việt Nam cũng không khác gì so với nhiều thị trường mới nổi khác, còn khó khăn về thể chế, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, hệ thống tài chính chưa thực sự phát triển. Thế nhưng từ năm 2007, Việt Nam chịu tác động nặng nề từ lạm phát cao, tiền đồng mất giá và nguồn cung USD hạn chế.” Theo báo cáo thường niên năm 2012 của Ngân hàng Thế giới về môi trường kinh doanh, Việt Nam đứng thứ 98/183 nước, thấp hơn 11 bậc so với năm 2008.
Mới đây 2 tờ báo uy tín của Anh “The Economist” và của Mỹ “The Forbes” có những bài viết nhận xét về tình hình kinh tế Việt Nam thời gian gần đây.Qua đó, những kết luận cho thấy vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam bị giảm sút và Đảng Cộng sản Việt Nam gắn quá chặt với những nguyên tắc của mình khiến nền kinh tế bị chững lại.
Với tiêu đề “Việt Nam: Từ anh hùng trở thành số không” trên tạp chí The Economist hôm 31/3, tác giả nhận xét rằng, chỉ vài năm trước đây, Việt Nam là một trong những nước đang phát triển hút tầm ngắm của cả thế giới, vậy nhưng hôm nay Việt Nam lại tụt hậu thê thảm. Trong đó, bài báo chỉ ra lạm phát của Việt Nam xếp hàng cao nhất Châu Á, hàng ngàn doanh nghiệp bị phá sản, giá bất động sản lao dốc và hàng loạt doanh nghiệp Nhà nước chới với vì những khoản nợ xấu. Qua cách đánh giá của bài báo, người ta nhận thấy một Việt Nam với những thay đổi đột ngột theo chiều hướng xấu đi, mặc dù, giới lãnh đạo đã thấy được điều đó, nhưng đi từ sự nhận thức cho đến phải làm gì là quãng đường quá xa.
Sau gần một năm thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, nhưng lạm phát chốt lại cuối năm ngoái vẫn ở mức 20%. Lãi suất cho vay ra tại các ngân hàng đã có lúc được đẩy lên tới xấp xỉ 25%, và với chi phí kinh doanh đó thì khó có một doanh nghiệp nào có thể trụ nổi. Từ đó dẫn tới các doanh nghiệp khai phá sản hoặc tạm ngưng hoạt động là khó tránh khỏi, và con số gần 80,000 vẫn là nỗi ám ảnh với nhiều chủ doanh nghiệp Việt Nam.
Bài viết “Việt Nam: Từ anh hùng trở thành số không” tác giả chỉ ra những tồn tại như hiện tượng tham nhũng, sự thiếu minh bạch và tình trạng lãng phí của khối doanh nghiệp Nhà nước vẫn là những căn bệnh kinh niên. Người viết nhắc lại vụ ra tòa của Vinashin hôm mới đây 27/3, theo đó, một doanh nghiệp Nhà nước lớn bậc nhất của Việt Nam, từng được các chính trị gia khuyến khích và mở rộng, nhưng cuối cùng ban điều hành bị kết tội quản lý yếu kém, gây hậu quả kinh tế nghiêm trọng và bị trừng phạt với bản án cao nhất 20 năm tù cho ông Phạm Thanh Bình, nguyên tổng giám đốc.
Bức tranh doanh nghiệp tại Việt Nam thời gian qua, với cái bóng của lạm phát bao trùm. Nhưng phải chăng lạm phát là nguyên nhân duy nhất? Câu trả lời là không, vì lạm phát chỉ là sản phẩm của cả một quá trình ra quyết định từ các cấp điều hành. Theo ông Jonathan Pincus, một chuyên gia giảng dạy chương trình kinh tế Fullbright tại Việt Nam cho rằng, đối với các vấn đề kinh tế, Việt Nam thường có xu hướng cho rằng đó là ảnh hưởng của toàn cầu thay vì thừa nhận những nguyên nhân nội tại như tham nhũng, quyết định đầu tư tồi của các doanh nghiệp nhà nước và năng lực quản lý kinh tế vĩ mô.Lời giải cho bài toán kinh tế Việt Nam sẽ phải bắt đầu từ gốc gác đó , là quá trình ra quyết định quản lý từ cấp trung ương, thế nhưng việc này cũng không dễ dàng thực hiện vì quyền lợi trong kinh doanh và quyền lực trong chính trị phải chăng vẫn luôn đi kèm?
From : ???, ...