Publicité

Sau một thời gian củng cố và phát triển thực lực, Trung Quốc đang ngày càng táo tợn và liều lĩnh hơn trong mưu đồ độc chiếm Biển Đông.
Trước đây khi chưa chuẩn bị đầy đủ điều kiện, Trung Quốc lấy cớ muốn duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực nên không sử dụng vũ lực để hoãn binh và có thêm thời gian. Nhưng hiện tại, khi chuẩn bị xong xuôi, Bắc Kinh lập tức thay đổi chiến lược dùng sức ép thực lực quân sự và thủ đoạn pháp lý để độc chiếm Biển Đông.

 

Đây là chiến lược mà Trung Quốc làm dần dần từng bước và liên tục như vậy theo hướng là dần dần đẩy tất cả mọi người ra khỏi đường lưỡi bò và chỉ còn một mình ở đấy duy nhất. Đó là hiện thực hóa yêu sách của họ. Điều đó hết sức nguy hiểm, nó tạo thành tiền lệ mà như thượng nghị sĩ Lieberman vừa nói là một hành động rất khiêu khích và nguy hiểm không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với tất cả các nước trong khu vực.


 
Quan sát những động thái leo thang của Bắc Kinh trên Biển Đông vừa qua, có thể thấy Bắc Kinh đang đẩy mạnh ba mũi giáp công nhằm biến Biển Đông thành “ao nhà của Trung Quốc”.
 
Ba  mũi giáp công đó là  thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa”, mời thầu quốc tế tại 9 lô hoàn toàn nằm trong thềm lục địa vùng biển chủ quyền của Việt Nam và triển khai tàu Hải giám  “tuần tra” trên Biển Đông.

_Mũi giáp công thứ nhất liên quan đến quản lý hành chính và “tạo cớ pháp lý”. Thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” để quản lý hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam là một âm mưu đã có từ lâu và được lên kế hoạch rất kỹ, khi có cớ để leo thang là Trung Quốc tuyên bố chính thức.

Về bản chất, cái gọi là “thành phố Tam Sa” đã manh nha từ 2007 và khi công bố, Trung Quốc đổ thêm tiền của đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng tại Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời có cớ động binh nếu như đối phương có hành động phản đối. Trung Quốc chuẩn bị cho một phương án leo thang khi thấy có cơ hội, thậm chí không loại trừ khả năng dùng vũ lực.

 

_Mũi giáp công thứ hai cũng được Bắc Kinh chuẩn bị công phu là kinh tế, lợi dụng cục diện phức tạp “tranh tối tranh sáng” để đưa dàn khoan siêu lớn ra Biển Đông xâm phạm vùng biển chủ quyền nằm trong thềm lục địa Việt Nam để vơ vét tài nguyên dầu khí.

Việc chế tạo giàn khoan khổng lồ Hải Dương 981 và những tàu chở dầu được mệnh danh là nhà máy lọc dầu trên biển lớn chưa từng có là không thể làm trong “một sớm, một chiều”. Đó là một âm mưu và kế hoạch được tính toán rất kỹ từ trước.

 

Vừa kéo dàn khoan Hải Dương 981 ra Biển Đông không được bao lâu, Tổng Công ty dầu khí hải dương Trung Quốc (CNOOC) đã thông báo mời thầu tại 9 lô nằm hoàn toàn trong vùng lãnh hải chủ quyền, thềm lục địa của Việt Nam và không có bất cứ tranh chấp nào. Một động thái leo thang cần lên án mạnh mẽ.

Động thái này không phải là lần đầu tiên, nó đã từng xảy ra từ năm 2003 đối với vùng biển Hoa Đông đang có tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc khi Bắc Kinh đơn phương mời thầu quốc tế thăm dò, khai thác tại đây.

Nhưng nếu như mỏ Xuân Hiểu (mà phía Nhật Bản gọi là Shirakaba) ở biển Hoa Đông nằm trong khu vực có tranh chấp thì lần này trên Biển Đông, Trung Quốc đã ngang nhiên mời thầu thăm dò khai thác trong thềm lục địa, vùng biển chủ quyền của Việt Nam vốn không có bất cứ tranh chấp nào.

 

 

_Mũi giáp công thứ ba chính là đưa  4 tàu Hải giám 83, 84, 66 và 71 thực hiện cái gọi là “tuần tra định kỳ” trên phạm vi toàn bộ “đường lưỡi bò” phi pháp mà Bắc Kinh vẽ ra trên Biển Đông.

Không biết vô tình hay cố ý, Tân Hoa Xã "để lộ" thông tin phạm vi hoạt động của 4 tàu này là “toàn bộ vùng biển mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền”.

Điều đó khiến người ta không loại trừ khả năng Bắc Kinh phái 4 tàu Hải giám này ra hoạt động trái phép trong khu vực thềm lục địa của Việt Nam, nơi CNOOC vừa thông báo 9 lô mời thầu thăm dò khai thác.

Thậm chí thiếu tướng Trung Quốc “diều hâu” La Viện  còn kêu gọi hải quân nước này nhập cuộc “tuần tra” Biển Đông, chứ không chỉ sử dụng lực lượng Hải giám và Ngư chính.

Theo viên tướng này, lực lượng hải quân Trung Quốc sẽ canh chừng cho Hải giám và Ngư chính. Nếu hai lực lượng này vấp phải sự cố,  tàu chiến Trung Quốc  lập tức nhập cuộc.

Hạm đội Nam Hải có 9 tàu khu trục, 17 tàu hộ vệ, 3 tàu ngầm hạt nhân, 21 tàu ngầm thông thường và 17 chiến hạm đổ bộ có thể vận chuyển đồng thời 3 sư đoàn lục quân biên chế đầy đủ trong thời chiến.

Trung Quốc triển khai ba mũi giáp công nhằm vào ba mục đích.

Một là lợi dụng lúc “tranh tối tranh sáng” thừa nước đục thả câu, tranh thủ chiếm ưu thế về quân sự, kinh tế trên Biển Đông - đặc biệt là vơ vét tài nguyên dầu khí.

Thứ hai là nắn gân thử phản ứng của Mỹ  và các bên liên quan theo kiểu “mềm nắn, rắn buông”.

Thứ ba, hiện thực hóa “đường lưỡi bò” phi pháp do Trung Quốc tự vẽ ra nhằm độc chiếm Biển Đông, kiểm soát tuyến hàng hải huyết mạch giữa Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương nhằm cạnh tranh hùng tranh bá với Mỹ.

Nói tóm lại, âm mưu độc chiếm Biển Đông của  Trung Quốc là xuyên suốt và liên tục. Sau một thời gian củng cố và phát triển thực lực “giấu mình chờ thời” Trung Quốc ngày càng liều lĩnh hơn trên Biển Đông.

 

 

 

Xem :

http://nguoibuongio1972.multiply.com/journal/item/594/594

http://buivanbong.blogspot.fr/2012/06/bat-au-cuoc-tap-tran-rimpac-2012.html

http://buivanbong.blogspot.fr/2012/06/ung-mong-trung-quoc-xay-dung-va-cong.html

http://buivanbong.blogspot.com.es/2012/06/loi-ich-ca-nhan-va-van-menh-dan-toc.html

 

 

 

Việt Nam mạnh mẽ phản đối và kêu gọi các công ty ngoại quốc đừng tham gia đấu thầu, vì khu vực này đã được thăm dò và khai thác từ nhiều năm nay do PetroVietnam cùng các đối tác ngoại quốc là các Tập đoàn dầu khí gồm ONGC VIDESH của Ấn Độ, GAZPROM của Nga, và Exxon Mobil của Hoa Kỳ.

Trung Quốc gọi thầu có thể để trả đũa việc mà Trung Quốc đã phản đối là Luật Biển của Việt Nam được quốc hội thông qua hồi tuần trước. Trung Quốc muốn chứng tỏ Luật Biển của Việt Nam vô hiệu, Bắc Kinh không coi ra gì.

Tuy nhiên đây cũng không phải là điều bất ngờ, mà Việt Nam có thể đã dự đoán trước sau gì Trung Quốc cũng làm như vậy, từ khi Bắc Kinh phản đối New Delhi về dự án hợp tác với Việt Nam ở hai lô 127, 128 mà sau cùng Ấn Độ đã bỏ.


Có ý kiến khác hơn thế, cho rằng bằng cách gọi thầu như vậy, Trung Quốc vừa trả đũa vừa tái xác định chủ quyền lãnh hải theo đường Lưỡi Bò mà họ áp đặt. Ấn Độ quả đã rời đi và phải trả cho PetroVietnam 15 triệu đô la đền lại hợp đồng, nhưng New Delhi tuyên bố rằng công ty Ấn Độ đã rời bỏ hoàn toàn vì lý do kỹ thuật.

 

Việc mời thầu của Trung Quốc ở 9 lô trùng lên hải phận đặc quyền kinh tế của Việt Nam sẽ có triền vọng ra sao ?

Hoa Kỳ  và Nga từng tuyên bố họ có toàn quyền hợp tác kinh tế tại biển Đông, trong lãnh hải hợp pháp của các quốc gia liên quan. Các công ty đó sẽ quyết định hợp tác ở phần nào, với nước nào trong khu vực
Hoa Kỳ cũng giành quyền sử dụng hành lang đường biển dọc bờ biển mọi quốc gia trên khắp thế giới, trong những điều kiện không vi phạm luật biển quốc tế.

Ở biển Đông người ta thấy có lần Trung Quốc đã gây sự với máy bay thám sát của Hoa Kỳ hoạt động ở phía Nam đảo Hải Nam, chính vì Mỹ giành lấy quyền tự do lưu thông đó.

 

 

Biển Đông là hải lộ sinh tử của Trung Quốc cũng như của Nhật Bản và Hàn quốc ở Đông bắc Á.

Nhật, Hàn là hai đồng minh chí cốt,  hai cái chân đứng vững chắc của Hoa Kỳ ở Đông Á. Một phần lớn là vì yếu tố đó mà Mỹ thường nói hành lang thuỷ lộ biển Đông liên quan đến quyền lợi thiết yếu của họ .

Báo Bấm Wall Street Journal dẫn lời các chuyên gia nói rằng bước đi của Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) là để xem họ có thể vươn xa tới đâu ở Biển Đông hơn là những toan tính thương mại thuần túy.

Laban Yu, người đứng đầu lĩnh vực nghiên cứu dầu khí của ngân hàng đầu tư Jefferies Hong Kong Ltd, nói:

"Chẳng có chuyện bất cứ công ty nước ngoài nào sẽ tới đó.

"Đây chỉ là cách chính quyền Trung ương dùng CNOOC để gửi thông điệp."

 

 

Nhiều nhà chuyên môn nhận định, đây là sự trả đũa Luật Biển Việt Nam và việc Việt Nam điều máy bay tiêm kích ra tuần tiễu ở Trường Sa hồi giữa tháng 6. Riêng việc mời thầu, là định nắn gân tinh thần vì Trung Quốc thừa biết hiếm có công ty nào dám mạo hiểm đấu thầu trong vùng biển hoàn toàn thuộc Việt Nam như vậy.

Tuy nhiên, sâu xa bên trong là việc tiếp tục khẳng định “đường lưỡi bò” không có cơ sở lịch sử lẫn pháp lý, là những mắt xích nằm trong chiến lược lâu dài biến không thành có, biến biển Ðông thành ao nhà mà nhiều người đã phân tích. Và sự nguy hiểm chính là ở chỗ đó.

Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam định tiếng phản đối, gọi đây là “hành động phi pháp” - ngôn ngữ nặng nề về mặt ngoại giao. Việt Nam cũng yêu cầu Trung Quốc hủy kế hoạch thành lập thành phố Tam Sa và một số những hành động khác làm căng thẳng thêm tình hình ở biển Ðông.

 

Trong lúc hai bên đấu khẩu qua lại thì trên mạng, cộng đồng blogger đã lan truyền lời kêu gọi từ trang facebook Nhật Ký Yêu Nước về việc tuần hành ôn hòa phản đối Trung Quốc tại Hà Nội, Sài Gòn vào ngày 1 tháng 7 năm 2012.

Cũng chính diễn đàn này đã đưa ra lời kêu gọi tương tự vào Chủ Nhật, ngày 5 tháng 6 năm 2011, mở đầu cho những cuộc biểu tình liên tiếp trong mùa Hè năm ngoái..

Lúc đầu chỉ có học sinh, sinh viên tham gia, sau đó thêm giới trí thức, văn nghệ sĩ, tập trung trước và xung quanh khu vực Ðại Sứ Quán Trung Quốc ở Hà Nội và Lãnh Sự Quán Trung Quốc ở TP.HCM. Kéo dài suốt mấy tuần lễ vào các ngày Chủ Nhật, trước khi bị đàn áp nặng nề và buộc phải chấm dứt

 

Trước sự phản đối của người dân Việt Nam, Trung Quốc đã phải gác lại ý tưởng thành lập thành phố Tam Sa mà bây giờ họ lại tiếp tục thực hiện cho bằng được.

Ðứng về phía nhà cầm quyền Việt Nam, hai chữ Hoàng Sa lúc đó còn là “điều cấm kỵ,” Hà Nội còn hết sức e dè với mọi biểu hiện “tụ tập của đám đông” cũng như mọi sự đụng chạm với Trung Quốc. Chính vì vậy, những người đi đầu trong các cuộc biểu tình đã phải trả giá đắt. Một số sinh viên bị đuổi học, nhiều người bị mất việc, bị gây áp lực đủ điều trong đời sống...

Mới đó mà đã gần 5 năm trôi qua.

 

Trong khoảng thời gian đó, những chủ đề “nhạy cảm” như trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 và sự hy sinh của những người lính hải quân VNCN, hay công hàm của cố thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam Phạm Văn Ðồng... đã dần dần được công khai hóa.

Thậm chí, để vô hiệu hóa bản công hàm của ông Phạm Văn Ðồng, nhà nước Việt Nam hiện nay đã bắt buộc phải thừa nhận sự tồn tại về chủ quyền của nước VNCH đối với hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa trước năm 1975.

Và bây giờ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa đã chính thức được nêu ra trong Luật Biển.

Dù vẫn bạc nhược, dù nội bộ vẫn bị chia rẽ giữa các phe thân Trung Quốc và phe muốn thoát khỏi mối quan hệ bất xứng với Trung Quốc, nhà cầm quyền Việt Nam cũng đã “ngộ” ra nhiều điều. Một mặt, tích cực đưa vấn đề biển Ðông ra các hội thảo, hội nghị ASEAN và quốc tế, thi hành chính sách đa phương hóa trong ngoại giao, chủ động thiết lập mối quan hệ nồng ấm hơn với Mỹ... Mặt khác, lẳng lặng chuẩn bị về quốc phòng, mua vũ khí, tàu ngầm...

 

Những bước đi đó tuy tích cực nhưng vẫn là quá chậm nếu so với những gì phía Trung Quốc đã và đang làm trong âm mưu lâu dài thôn tính biển Ðông.

Về phía người dân, lòng yêu nước và ý thức về mối hiểm họa bành trướng Trung Quốc đã được đánh thức. Nhưng lòng yêu nước, tinh thần dân tộc này có được tiếp tục nuôi dưỡng và phát triển hay không còn tùy thuộc vào cách xử sự của nhà nước đối với nhân dân và đối với Trung Quốc.

 

Meeting

http://huynhngocchenh.blogspot.fr/2012/07/mac-du-luc-luong-ninh-het-suc-no-luc-e.html

http://xuandienhannom.blogspot.fr/2012/07/ha-noi-ngay-1-7-2012.html

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vietnamese-protests-agains-china-07022012133537.html

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2012/07/120702_youth_politics_indifference.shtml

 

 

Nhìn sang Trung Quốc, cũng khoảng thời gian qua, họ đã kịp làm rất nhiều thứ, tiến hành cùng một lúc các hoạt động toàn diện trên mọi mặt trận. Về quân sự, tăng cường sức mạnh, đặc biệt là hải quân, tăng cường sự hiện diện trên biển Ðông. Về ngoại giao, tích cực tuyên truyền với bên ngoài về “đường lưỡi bò” và chủ quyền của Trung Quốc. Thi hành các biện pháp dọa nạt, o ép, nắn gân, gây chia rẽ... khác nhau đối với từng nước láng giềng có tranh chấp với Trung Quốc, trong khi tìm cách mua chuộc các nước khác không có tranh chấp... Kích động tinh thần dân tộc để có hậu thuẫn là nhân dân Trung Quốc...

 

Ðối với các đảo, quần đảo đánh chiếm được của Việt Nam thì Trung Quốc cho xây tàu bay, xây căn cứ quân sự, mở các tuyến du lịch... và nhiều hoạt động khác. Tất cả nhằm mọi cách để đặt Việt Nam và các nước xung quanh trước “sự đã rồi.”

Mặc khác, nhằm làm cho Việt Nam luôn luôn suy yếu và phụ thuộc nặng nề, Trung Quốc đã lũng đoạn, phá hoại nền kinh tế Việt Nam đủ kiểu. Trung Quốc cũng đã kịp cài cắm người khắp nơi ở VN, trên rừng dưới biển, trong các công trường xây dựng, khai thác khoáng sản..., lập cả làng ở Hải Phòng, đóng bè nuôi cá ở vịnh Cam Ranh ngay vị trí nhạy cảm...

Trong khi đó, nhà cầm quyền Việt Nam trong suốt thời gian qua, vẫn chưa thực sự tạo được niềm tin với thế giới và nhân dân khi đối đầu với hiểm họa thường trực và lâu dài từ phía Trung Quốc.

 

Với quốc tế, Việt Nam chưa thật sự tiến hành những cải cách về nhân quyền, chính trị để có được sự ủng hộ mạnh mẽ hơn của các nước. Với người dân, không khoan sức dân, giải phóng nội lực của nhân dân bằng cách trả lại những quyền tự do dân chủ, quyền con người căn bản...

Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc của người Việt Nam là một vốn quý nhưng nhà cầm quyền thay vì tạo điều kiện phát huy thì lại ngăn chặn, đàn áp khiến tinh thần người dân trở nên nguội lạnh, càng có lợi cho những kẻ có âm mưu bành trướng.

Tuy nhiên, qua hàng loạt sự kiện, mặc dù luôn luôn tỏ ra hung hăng, hiếu chiến, kể cả trong cuộc đối đầu căng thẳng với Philippines vừa qua, có vẻ như hiện tại Trung Quốc cũng chưa thật sự sẵn sàng cho các cuộc chiến tranh. Dù với các nước láng giềng nhỏ yếu. Nếu có, cũng chỉ là những cuộc chiến chớp nhoáng nhằm cướp một vài đảo như đã làm với Việt Nam năm 1988.

Trung Quốc thừa biết nếu nổ ra chiến tranh bây giờ vì những tham vọng vô lý trên biển Ðông, cả thế giới không ai đứng về phía họ mà họ lại chưa đủ mạnh đến mức bất chấp cả thế giới.

Hiện tại, có vẻ như Trung Quốc chỉ muốn o ép để buộc các nước láng giềng phải gác tranh chấp, cùng khai thác ở những vùng biển lẽ ra thuộc về các nước này. Và nếu nước nào yếu bóng vía chấp nhận lùi bước, nhân nhượng thì Trung Quốc sẽ lấn tới và hậu quả sẽ vô cùng tai hại cho bây giờ và cho cả tương lai đất nước đó sau này.

 

 

 

TS Trần Công Trục, nguyên Trưởng Ban biên giới Chính phủ :

Nhưng điều đáng nói ở đây là Trung Quốc không có chủ quyền, quyền chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của chúng ta và các nước khác thì họ vẽ một đường biên giới vu vơ, rất rộng lớn (80% biển Đông) sát vào bờ biển của các nước ven biển ở Biển Đông để tạo ra vùng tranh chấp, để tranh giành tài nguyên. Không phải chỉ chúng ta nói điều này mà nhiều học giả - kể cả học giả Trung Quốc - đã nói.

 

Rõ ràng họ muốn biến vùng không có tranh chấp thuộc chủ quyền của người khác thành vùng có tranh chấp để chí ít họ không cho các nước khai thác tài nguyên chính đáng của người ta, nhảy vào xí phần, đề nghị cùng khai thác, không được cho nước thứ ba vào. Nếu không được thì họ làm theo kiểu các anh khai thác tôi cũng vào khai thác để dồn ép, gây sức ép. Nếu như không có sự tỉnh táo với cách làm này của Trung Quốc thì coi như họ đã thắng lợi trong ý đồ của mình .

 

 

Đó không phải là lý do duy nhất mà chủ yếu nhất như tôi đã phân tích, những bước đi này là những bước đi có tính toán sắp đặt sẵn trong chiến lược lâu dài của Trung Quốc để tiến xuống biển Đông và hiện nay họ đang thực hiện bước mới so với trước đây. Hoạt động vừa qua nhằm thể hiện quyền năng của họ trong mặt quản lý cái mà họ gọi là của họ. Hai là tranh giành tài nguyên thiên nhiên của chính các nước ven biển như Việt Nam.

 

Việc phản đối về mặt ngoại giao là cần thiết phải làm, đứng về mặt thủ tục pháp lý. Họ làm như vậy, mình phải có tiếng nói chính thức của nhà nước mình mà người đại diện là Bộ Ngoại giao. Đó là thủ tục pháp lý quan trọng, không thể thiếu được.

Nhưng điều quan trọng tiếp theo là phải làm sao có được những nhận định, đánh giá một cách chuẩn xác các bước đi của Trung Quốc trong thời gian vừa rồi và sắp tới là gì để thống nhất lại nhận định. Có ý kiến cho rằng, hành động vừa qua của họ chẳng qua là trả đũa về chính trị chứ không có ý nghĩa gì, nhưng tôi không nghĩ như vậy mà có những vấn đề khác và dù gì đi nữa thì đối với chúng ta lúc này cần song song các công việc cần làm.

 

 

Làm sao đó tuyên truyền, phổ biến, giải thích thật rõ để họ thấy Luật Biển, quy định của mình đúng đắn, phù hợp như thế nào, yêu sách của họ vô lý đến đâu, tai sao vô lý, có cơ sở gì không, hay hoàn toàn không có cơ sở gì. Điều này không chỉ làm trong nước mà cả quốc tế nữa, dù các nhà khoa học cũng nói nhiều rồi, người ta cũng phê phán và phía Trung Quốc cũng lúng túng khi trả lời. Như chúng ta thấy nhiều học giả Trung Quốc mà mới đây là nhà nghiên cứu biển Lý Lệnh Hoa đã phê phán “đường lưỡi bò” không có cơ sở, không nên thực hiện - đó là tiếng nói hết sức khách quan.

Đây là vấn đề khoa học, cái gì đúng phải làm rõ ràng, khách quan để không chỉ có lợi cho mình mà cả Trung Quốc. Những người có thiện chí giải quyết mọi việc tốt đẹp thì họ phải có cơ sở khoa học.

 

Thứ hai phải chuẩn bị các lực lượng của mình. Đây là vấn đề trên vùng đặc quyền kinh tế, anh muốn xử lý, lực lượng chấp chính của anh là gì, cảnh sát biển, kiểm ngư… như thế nào. Phải có lực lượng, có phương tiện và phải huấn luyện để có thể xử lý trên thực tế

 

From : VOA, DâtViêt , Dân tri,..Song Chi/Người Việt,.....
.

 

 

 

Publicité
Tag(s) : #Xã Hội - V@n Hóa
Partager cet article
Repost0
Pour être informé des derniers articles, inscrivez vous :