Việt ngữ học là một ngành khoa học với sự ra đời của các trường đại học và viện nghiên cứu ở Việt Nam ( tu 1950 ) , nhưng những quan sát, suy nghĩ về tiếng Việt thì đã có từ lâu.
Cũng như mọi ngành khoa học khác, Việt ngữ học ra đời xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn chứ không phải từ những suy nghĩ trừu tượng.
Người Việt xa xưa đã chú ý tới sự khác biệt trong lời nói của mình với lời nói của những người khác, sự khác biệt trong tiếng nói của làng mình với tiếng nói của làng khác. Những gì là của mình do cha mẹ truyền dạy; những gì là của làng mình, là cái chung của cả họ, của những người người hàng xóm thân thích, ... đương nhiên sẽ được mọi người trân trọng, giữ gìn...
Khi dân tộc phát triển, người ta hướng tới những cái chung cho toàn dân tộc, mà ngôn ngữ chính là linh hồn của dân tộc. Vì thế, cái nhu cầu thôi thúc cần phải nghiên cứu tiếng Việt một cách sâu sắc xuất phát từ niềm tự hào về dân tộc và tiếng nói dân tộc. Niềm tự hào dân tộc thể hiện ở chỗ mỗi dân tộc phải có nền văn hiến riêng. Trước khi chữ Nôm hình thành, dân tộc ta đã có một ngôn ngữ thành văn trên cơ sở chữ Hán, đã có một nền văn hoá khả quan, đã tạo ra một nền văn chương bác học với thơ, phú, ca, từ,... Tuy nhiên, cái ngôn ngữ thành văn này không thật sự bắt rễ bền chắc từ bản thân cộng đồng. Nhu cầu đặt ra là phải xây dựng một nền văn hoá dân tộc dựa trên ngôn ngữ dân tộc. Chữ Nôm ra đời đánh dấu bước nhận thức mới sâu sắc hơn về tiếng Việt.
Nhờ có chữ Nôm, người ta mới có thể biết thêm về nhiều thói quen lời nói khác nhau, cả những thói quen lời nói ở rất xa mình. Nhờ có chữ Nôm, người ta mới có điều kiện quan sát tiếng Việt một cách hệ thống về nhiều mặt.
Trong bài Người An Nam nên viết chữ An Nam trên Đăng cổ tùng báo (ngày 28/3/1907), Nguyễn Văn Vĩnh nhận xét: “... học thông chữ nho thì thật là khó lắm, chữ là như dấu bịa ra để viết ý nghĩ người ta, mà từ xưa nay An Nam bao nhiêu người học chữ nho, dễ họ đã mấy người, bụng nghĩ thế nào lại viết ngay ra được thành chữ như thế? Thế ra chỉ học để ngâm nga mà thôi. Nói cho phải thì chỉ học để đi thi đỗ làm quan là mãn nguyện”.
Về cái hay của văn chương bằng chữ Hán, ông coi là cái “hay vô dụng”, “bất quá câu văn thú, chỉ đến rung đùi là cùng, chớ chẳng động được lòng ai, vì người đọc biết hay, mà người nghe như vịt nghe sấm vậy” (Đông Dương tạp chí, số 9).
Trong quá trình phát triển, dân tộc ta đã tiếp xúc giao lưu với nhiều dân tộc khác. Muốn giao lưu, tiếp xúc với nhau thì trước hết là phải học hỏi ngôn ngữ của nhau. Trước đây, vào thời cổ, trung đại ở Việt Nam, không có trường lớp nào dạy tiếng Việt cả. Người Việt học tiếng Việt ngay từ lúc lọt lòng mẹ, thông qua thực tiễn xã hội. Tiếng Việt đã được người nước ngoài nghiên cứu do nhu cầu học tập và nghiên cứu nó như một ngoại ngữ.
Vào thế kỷ 15 , sứ thần Trung Quốc đi ra các nước và sứ thần các nước đến Trung Quốc ngày một nhiều. Vì thế, các cơ quan phiên dịch ở Trung Quốc như Hội thông quán, Tứ Di quán, Tứ Dịch quán nối tiếp nhau ra đời để làm nhiệm vụ phiên dịch khi giao tiếp. Các cuốn từ điển đối chiếu tiếng Hán với một thứ tiếng khác được lần lượt biên soạn, trong đó có cuốn An Nam dịch ngữ là cuốn từ điển đối chiếu tiếng Hán với tiếng Việt.
Rồi nhu cầu dạy chữ Hán cho người Việt khiến nhiều người Việt Nam biên soạn các từ điển đối chiếu Hán–Nôm, nhờ đó mà nhận thức về tiếng Việt ngày càng phong phú, đa dạng.
Nhu cầu học tiếng Việt của các giáo sĩ phương Tây bắt nguồn từ mục đích truyền bá đạo Thiên Chúa vào Việt Nam. Nhưng cũng chính nhờ đó , nhờ mượng dùng mẫu tự La tinh của phương Tây mà chữ quốc ngữ được hình thành. Sự ra đời của chữ quốc ngữ, sự tiếp xúc với văn hoá phương Tây đã khiến cho nhận thức về tiếng Việt biến đổi. Từ đây, tiếng Việt đã được quan sát, miêu tả trên cơ sở lý luận ngôn ngữ học hiện đại. Như ta biết, Việt Nam nằm trong khối đồng văn với Trung Quốc, mà truyền thống ngôn ngữ học Trung Quốc thường tập trung vào nhưng hướng nghiên cứu sau đây:
_Nghiên cứu một số vấn đề về triết học ngôn ngữ, đặc biệt là vấn đề quan hệ giữa tên gọi (danh) và hiện thực (thực), vấn đề xác định thế nào là câu.
_Nghiên cứu chữ Hán, truyền thống ngữ văn Trung Quốc gọi việc nghiên cứu này là huấn hỗ học và tự thư học. Huấn hỗ học nhằm giải thích nghĩa của
chữ, tự thư học giải thích hình của chữ.
_Nghiên cứu âm và vần tiếng Hán là nội dung nghiên cứu của âm vận học.
Tiếp xúc với phương Tây, chúng ta dần dần làm quen với hệ thống thuật ngữ ngôn ngữ học mới mẻ: nguyên âm, phụ âm, âm vị, âm tố, thanh điệu, dấu câu, phong cách, chức năng, từ đơn, từ ghép, từ phái sinh, từ tố, hình vị, chủ ngữ, vị ngữ, định ngữ, bổ ngữ, câu đơn, câu ghép, từ loại, danh từ, động từ, tính từ,...
Ngay các cuốn từ điển giải thích tiếng Việt cũng như các cuốn từ điển đối chiếu tiếng Việt với một ngoại ngữ nào đó được biên soạn vào thời cận hiện đại cũng vận dụng những lý luận từ điển học mà ngôn ngữ học thế giới đã dày công tích luỹ.
Khi tiếng Việt chưa được sử dụng trong khung giáo dục và hành chánh, thì nhu cầu thống nhất và chuẩn hoá tiếng Việt chưa đặt ra một cách cấp thiết.
Mặt khác, ngày nay tiếng Việt không chỉ là phương tiện giao tiếp của người Việt trên mọi miền đất nước, mà còn là phương tiện giao tiếp chung của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, là phương tiện của Việt Nam trong giao lưu và hợp tác quốc tế. Vì thế, tiếng Việt trở thành đối tượng học tập, nghiên cứu chẳng những của người Việt Nam, mà còn của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam và trên thế giới.
Chúng ta có thể chia sự phát triển của Việt ngữ học thành hai giai đoạn lớn: giai đoạn cổ trung đại (từ cổ đến nửa đầu thế kỷ 14) và giai đoạn cận hiện đại .Giai đoạn cận hiện đại chính là thời kỳ Việt Nam có sự tiếp xúc văn hoá mạnh mẽ với phương Tây.
Nguồn Gốc Chữ Quốc Ngữ
Danh từ chữ Quốc ngữ hay chữ Việt, người Việt chúng ta đã dùng từ lâu, mặc dù nó không được chính danh. Bởi vì danh từ chữ Quốc ngữ là danh từ chung, chỉ cho các thứ chữ của một nước, chẳng hạn chữ Nôm cũng là chữ Quốc ngữ của nước ta, nhưng do chúng ta dùng lâu đã quen, nên danh từ chữ Quốc ngữ để chỉ cho chữ viết chúng ta dùng ngày nay. Chữ nầy thoạt đầu do những vị giáo sĩ Tây phương truyền đạo tại Việt Nam, họ mượn mẫu tự La tinh, ghép lại để ghi âm địa danh và nhân vật địa phương, từ đó nó đã trải qua các thời kỳ hình thành chữ Quốc ngữ, qua quá trình hình thành, nó đã được sự đóng góp của người Việt cũng như người ngoại quốc, phần chính vẫn là người Việt chúng ta.
Sự hình thành chữ Quốc ngữ có thể chia ra làm ba thời kỳ :
* Thời kỳ sáng tạo từ năm 1621.
* Thời kỳ xây dựng năm 1651.
* Thời kỳ phát triển từ năm 1867.
Chúng ta biết rằng, khoảng giữa thế kỷ XVI, lúc ấy nước ta chia thành Nam, Bắc triều. Năm 1533, có giáo sĩ Irigo (I-Nê-Khu), người Âu, theo đường biển vào nước ta ở Đàng Ngoài, tại Nam Định để giảng đạo. Năm 1596, giáo sĩ Diago Advarte đến Đàng Trong ở một thời gian rồi bỏ đi, cho đến năm 1615, giáo sĩ Francesco Buzomi đến lập Giáo Đoàn Đàng Trong (Mission de la Cochinchine), đến năm 1627, giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) mới lập Giáo Đoàn Đàng Ngoài (Mission de Tonkin).
Cả hai giáo đoàn nầy đều thuộc Dòng Tên, có một trung tâm truyền giáo ở Áo Môn (Macao - Trung Quốc), vì trước kia người Bồ Đào Nha sang Trung Hoa buôn bán, họ ở bán đảo Schangch'nan thuộc Quảng Châu, vào khoảng năm 1557, có bọn cướp biển trú ẩn ở Áo Môn, thường hay khuấy nhiễu Quảng Châu, nên người Trung Hoa nhờ các thương gia Bồ Đào Nha dẹp bọn cướp biển ấy, sau khi dẹp xong bọp cướp, người Bồ Đào Nha xin phép nhà cầm quyền Trung Hoa cho họ trú ngụ ở bán đảo Schangch'nan và Áo Môn, mỗi năm họ đóng thuế cho chánh quyền Trung Hoa, cho đến thế kỷ XX Áo Môn vẫn còn thuộc Bồ Đào Nha.
Thuở đó, các nhà truyền giáo Tây phương muốn sang Viễn đông, họ đều theo các thương thuyền Bồ Đào Nha, cho nên họ chọn Áo Môn làm trung tâm truyền giáo để hoạt động ở Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam, nơi ấy có cả một Viện thần học " Madre de Dieux " (Mẹ Đức Chúa Trời).
Do đó các giáo sĩ người Âu thường từ Áo Môn sang Đàng Ngoài hay Đàng Trong và ngược lại, họ thường dùng ngôn ngữ Bồ Đào Nha để giao dịch với nhau, những phúc trình truyền giáo hay thư từ gửi về La Mã có khi họ viết chữ Bồ, có khi họ viết chữ La Tinh.
Sự Hình Thành Chữ Quốc Ngữ
Không phải chữ Quốc ngữ hình thành do sự ngẫu nhiên từ những chữ phiên âm tiếng Việt, thực ra chữ Quốc ngữ hình thành theo hướng chung của các giáo sĩ Tây Phương, họ muốn La Tinh hóa các chữ Á Đông nằm trong địa bàn truyền giáo của họ.
Thật vậy, tại Trung Hoa, Hoa ngữ được các nhà truyền giáo dùng mẫu tự La Tinh phiên âm trước nhất, công việc nầy do hai giáo sĩ Dòng Tên là Micac Ruggieri và Matteo Ricci đã soạn quyển Ngữ vựng hay Tự vựng Bồ-Hoa, quyển nầy mỗi trang chia làm 3 cột : chữ Bồ, chữ Hán, phiên âm Hoa ngữ, tài liệu nầy soạn khoảng năm 1584-1588, bảng viết tay còn lưu trử tại văn khố Dòng Tên ở La Mã (Rome).
Năm 1598, giáo sĩ Ricca và Cateneo đã dùng ký hiệu để ghi các thanh Hoa ngữ.
Tại Nhật Bản, các tác phẩm chữ Nhật đã được La tinh hóa, từ năm 1592 đến năm 1596 có đến 10 tác phẩm loại nầy được in ra, hai tác phẩm quan trọng sau đây đáng được nhắc đến:
1) Cuốn Giáo lý ghi bằng tiếng Nhật theo mẫu tự La Tinh có tên là : Dotrina Jesus no Compania no Collegio Amacusa ni voite superiores no vou xi no comuni core no fan to nasu mono nari, Nengi, 1592.
2) Cuốn tự điển La - Bồ - Nhật: Dictionarium latino lusitanicum ac Japonium (In Amacusa in Collegia Japonico Societa Jesus, Anno 1595)
Ngoài ra còn có sách ngữ pháp Nhật được in theo mẫu tự a, b, c vào năm 1603-1604.
Tại Việt Nam, thời kỳ sáng tạo chữ Quốc ngữ có thể chia ra làm 2 giai đoạn :
* Giai đoạn phiên âm.
* Giai đoạn cấu tạo câu.
From : Huỳnh Ái Tông , Nguyễn Thiện Giáp, vv .....